Tải bản đầy đủ - 25 (trang)
Thị trường phái sinh

Thị trường phái sinh

Tải bản đầy đủ - 25trang

2.3.



Chủ thể tham gia thị trường phái sinh



-



Người đầu tư: họ sử dụng nghiệp vụ phái sinh để giảm thiểu hoặc



-



loại bỏ rủi ro.

Người đầu cơ: họ sử dụng nghiệp vụ này như một đòn bẩy đặc biệt.

Người cơ lợi (thực hiện lợi nhuận mà không có rủi ro): họ sử dụng rất

hiệu quả các nghiệp vụ phái sinh để hưởng chênh lệch giá giữa các

thị trường tài chính khác nhau.

Trên thị trường tài chính quốc tế, nghiệp vụ này đã phát triển rất

mạnh.



2.4.



Các sản phẩm phái sinh



a. Hợp đồng kỳ hạn (Forwards)

-



Khái niệm: Là hợp đồng mua hay bán một lượng chứng khoán nhất

định vào một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá xác

định ngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng (ngày này phải một



cách ngày ký hợp đồng từ 3 ngày làm việc trở lên).

- Đặc điểm:

 Hợp đồng do hai bên mua bán trực tiếp thỏa thuận về: Giá cả, khối

lượng, thời hạn, phương thức thanh toán. (Giá cả có thể không chính

xác)

 Các bên tham gia có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng.

 Tỷ giá kỳ hạn được xây dựng dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngay.

 Khi giá cả trên thị trường giao ngay biến động mạnh, bên bất lợi có

thể không thực hiện hợp đồng.

=> Rủi ro tín dụng.

 Giao dịch trên thị trường OTC, không yêu cầu ký quỹ hay thế chấp.

=> Rủi ro thanh khoản.

- Giá kỳ hạn có thể bằng giá giao ngay nhưng thông thường nó cao

hơn (đánh giá cao) hoặc thấp hơn (giảm giá) so với giá giao ngay.

b. Hợp đồng tương lai (Futures)

- Khái niệm: Là hợp đồng mua hay bán một số lượng chứng khoán

nhất định, ở một mức giá nhất định, vào một ngày xác định trong

tương lai. Hợp đồng tương lai được tiêu chuẩn hóa về quy mô hợp

đồng, thời hạn giao hàng, được mua bán trên sở giao dịch, được xác

định lại giá trị theo thị giá mỗi ngày và các bên hợp đồng phải tuân

thủ quy trình lãi lỗ mỗi ngày.

12













c.

-



Đặc điểm:

Được thỏa thuận và mua bán thông qua môi giới.

Tiêu chuẩn về hàng hóa, số lượng, chất lượng, ngày thanh toán.

Giao dịch tại sở giao dịch.

Hai bên hợp đồng đều phải ký quỹ.

Có tính thanh khoản cao.

Hợp đồng quyền chọn (Options)

Khái niệm: Là sự thỏa thuận bằng hợp đồng giữa người mua và

người bán về quyền chọn mua (Call Option) hay quyền chọn bán (Put

Option) một loại ngoại tệ nhất định với một số lượng nhất định, theo

một tỷ giá cố định vào một thời điểm cố định trong tương lai.



-



Hợp đồng quyền chọn có 2 loại đó là quyền chọn mua (Call Options)

và quyền chọn bán (Put Options).

+ Quyền chọn mua (Call Options): Người mua quyền chọn mua sẽ

phải trả cho người bán quyền chọn mua một khoản phí gọi là phí

quyền chọn (premium). Người mua quyền chọn mua sẽ có quyền

được mua một lượng cổ phiếu nhất định theo mức giá thực hiện được

thỏa thuận ban đầu. Người bán quyền chọn mua nhận được tiền phí

nên có trách nhiệm phải bán một lượng cổ phiếu theo giá đã thỏa

thuận ban đầu khi người mua quyền chọn mua yêu cầu thực hiện

quyền.







Người mua quyền (Call Buyer): Trả phí, có quyền mua với giá nhất

định.







Người bán quyền (Call Seller): Nhận phí, có nghĩa vụ bán với giá nhất

định.

+ Quyền chọn bán (Put Options): Người mua quyền chọn bán sẽ phải

trả cho người bán quyền chọn bán một khoản phí gọi là phí quyền

chọn (premium). Người mua quyền chọn bán sẽ có quyền được

bán một lượng cổ phiếu nhất định theo mức giá thực hiện đã thỏa

thuận ban đầu. Người bán quyền chọn bán nhận được tiền phí nên

13



có trách nhiệm phải mua một lượng cổ phiếu theo giá đã thỏa thuận

ban đầu khi người mua quyền chọn bán yêu cầu thực hiện quyền.





Người mua quyền (Put Buyer): Trả phí, có quyền bán với giá nhất



định.

• Người bán quyền (Put Seller): Nhận phí, có nghĩa vụ mua với giá

nhất định.

-



Hai kiểu hợp đồng quyền chọn thường gặp:







+ Quyền chọn kiểu Mỹ: có quyền thực hiện quyền của mình tại bất

kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn.







+ Quyền chọn kiểu Châu Âu: chỉ cho phép thực hiện quyền tại ngày

đáo hạn.



- Đặc điểm:

 Cho phép khách hàng có quyền (nhưng không kèm theo nghĩa vụ)



mua hoặc bán một lượng ngoại tệ nhất định tại một mức giá được ấn

định trước vào một ngày xác định.

 (Call Option): cho phép người mua quyền nhưng không kèm theo

nghĩa vụ mua một ngoại tệ ở một tỉ giá định trước (The strike price)





trong tại một thời điểm xác định trong tương lai.

(Put Option): cho phép người mua quyền nhưng không kèm theo

nghĩa vụ bán một ngoại tệ ở một tỉ giá định trước (The strike price)

trong tại một thời điểm xác định trong tương lai.



 Chủng loại và khối lượng hàng hóa cơ sở (underlying asset): Là tài



sản dựa vào đó quyền chọn được giao dịch. Giá cả trên thị trường

của tài sản cơ sở là căn cứ để xác định giá trị của quyền chọn. Tài

sản cơ sở có thể là hàng hóa như cà phê, dầu hỏa, vàng, hay chứng

khoán như cổ phiếu, trái phiếu hoặc ngoại tệ như EUR, CHF, CAD,…

 Giá thực hiện của hàng hóa cơ sở (strike price): có thể rất khác biệt



so với thị trường. Tỷ giá hợp đồng quyền chọn mua càng nhỏ (hợp

14



đồng quyền chọn bán càng lớn) thì mức phí người mua hợp đồng

phải trả càng cao.

 Ngày hết hạn (expiration date): 1-12 tháng. Việc thực hiện quyền



chọn phải thực hiện trước 4h chiều ngày cuối cùng của kỳ hạn. Việc

giao và thanh toán được thực hiện sau 2 ngày.

 Phí mua quyền (Premium): Khoản tiền người mua phải trả cho người



bán để dành cho mình quyền được thực hiện hay không thực hiện

hợp đồng. Kỳ hạn càng dài phí mua càng lớn.

d. Hợp đồng hoán đổi (Swap):

-



Khái niệm: Là việc đồng thời mua và bán một đồng tiền nhất định,

trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau



theo tỷ giá ấn định ngay khi ký kết hợp đồng.

- Đặc điểm:

 Nếu một bên là mua vào trước và bán ra sau thì bên còn lại sẽ là

người bán ra trước và mua vào sau.

 Giao dịch mua vào và bán ra (hoặc ngược lại) được ký kết đồng thời

ngay vào ngày ký hợp đồng (ngày giao dịch) trong cùng một hợp

đồng cùng với một đối tác.

 Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền này là bằng nhau trong cả 2

vế (vế mua và vế bán) của hợp đồng hoán đổi.

 Ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra khác nhau.

e. Quyền tiên mãi (Right):

- Khái niệm: Là loại chứng khoán ghi nhận quyền dành cho cổ đông

hiện tại của 1 CTCP được mua trước 1 lượng cổ phiếu trong đợt phát

hành cổ phiếu phổ thông bổ sung, tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện

có của họ trong công ty.

- Đặc điểm:

 Chỉ phát hành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu mới, không phát

hành độc lập.

 Giá mua cổ phiếu mới thấp hơn giá thị trường.

 Thời hạn ngắn: 1-6 tuần.

 Xác nhận quyền mua chứ không phải nghĩa vụ.



15



 Quyền mua có giá trị tách biệt và những cổ đông không có ý định



thực hiện quyền mua có thể tách quyền mua để bán riêng trên thị

trường trong thời hạn hiệu lực của quyền.

 Mỗi cổ phần tương ứng với một quyền mua.

f. Chứng quyền (Warrant):

- Khái niệm: ): Là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát

hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng

khoán được mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá

đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định.

- Đặc điểm:

 Quyền được phát hành khi tổ chức lại công ty hoặc nhằm mục đích

khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua trái phiếu hay cổ phiếu

ưu đãi có những điều kiện kém thuận lợi.

 Thời hạn: Kéo dài hàng năm, đa số từ 5-10 năm.

 Giá mua cổ phiếu mới bao giờ cũng cao hơn giá thị trường tại thời

điểm chứng quyền được phát hành.

 Xác nhận quyền mua chứ không phải nghĩa vụ.

 Chứng quyền có thể được giao dịch tách rời với trái phiếu và cổ

phiếu ưu đãi mà nó đi kèm.

2.5.



Rào cản thị trường

Thị trường ngoại hối phái sinh Việt Nam còn phát triển ở mức độ



thấp, bộc lộ nhiều hạn chế => Rào cản cho các thành viên tiếp cận

thị trường như chủ thể tham gia thị trường chưa đa dạng, sản phẩm

chỉ dừng ở mức độ giản đơn.

*Đối với các NHTM:

-



Các NHTM cũng quy định giá trị hợp đồng tối thiểu không thống nhất

giữa các ngân hàng.



-



Với tư cách là người bán quyền chọn NHTM luôn có nghĩa vụ thực

hiện hợp đồng, xác định phí quyền chọn để bù đắp sự lên giá của

ngoại tệ.



16



=> Cần đông khách hàng để làm trung gian cân đối hay điều hòa rủi ro

giữa người ký kết hợp đồng quyền chọn với NH.

-



Ngân hàng ký hợp đồng mua quyền chọn mua tiếp với các ngân

hàng nước ngoài như một việc làm để bảo vệ cho chính mình.



=> Phí quyền chọn thu được từ khách hàng trong nước được trả cho

người bán quyền chọn nước ngoài => Ngân hàng không có lãi.

-



Số lượng ngân hàng tham gia thị trường quyền chọn còn ít, nên các

ngân hàng không có cơ hội giao dịch với nhau, buộc các ngân hàng

tự đi tìm đối tác nước ngoài.



-



Ngoài rủi ro tỷ giá ngân hàng tự gánh chịu, ngân hàng còn có nguy

cơ khác là rủi ro đối tác nếu đối tác ký hợp đồng nước ngoài không

đáng tin cậy.



*Đối với các Doanh nghiệp:

-



Mức độ am hiểu về sản phẩm phái sinh của các doanh nghiệp còn

thấp.

Rủi ro lãi suất và tỷ giá.

Thiếu đào tạo thực tế về sản phẩm phái sinh.

Phí thực hiện sản phẩm phái sinh cao.

Còn nhập nhằng giữa phòng ngừa rủi ro và đầu cơ.

Thiếu nhân sự có năng lực về sản phẩm phái sinh.

Thông tin về sản phẩm phái sinh khó tiếp cận.

Tâm lý ỷ lại.



2.6.



Thực trạng giao dịch phái sinh ở Việt Nam



2.6.1. Tính hiệu quả và sự ổn định của thị trường ngoại hối

Việt Nam

- Để đánh giá tình hình thị trường, các thành viên tham gia cố gắng

tiếp cận thông tin mới và tìm cách sử dụng những thông tin có sẵn



17



trên thị trường một cách hiệu quả nhất để dự đoán sự biến động của

tỷ giá.

- Phát triển các nghiệp vụ phái sinh là bước đi quan trọng và có tính

quyết định đến với sự phát triển thị trường ngoại hối trong bối cảnh

thị trường ngoại hối phái sinh đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới

và Việt Nam đang hội nhập kinh tế thế giới.

- Các doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ ngoại hối phái sinh

để phòng ngừa rủi ro tỷ giá và cả đầu tư sinh lời.

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay doanh số nghiệp vụ ngoại hối phái

sinh vẫn luôn chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong giao dịch ngoại hối

( chưa đến 10%). Thị trường ngoại hối phái sinh của Việt Nam vẫn

chưa phát huy được sự hiệu quả và chưa phát huy được vai trò của

mình trong việc bình ổn thị trường ngoại hối.

2.6.2. Mức độ hội nhập của thị trường ngoại hối phái sinh ở khu vực và

thế giới

- Hình thái tồn tại thị trường ngoại hối phái sinh mới chỉ ở mức đơn

giản. Việt Nam chưa có Sở giao dịch ngoại hối, các giao dịch đều ở

dạng OTC.

-Giao dịch phái sinh với mục đích tự kinh doanh chiếm tỷ trọng ít.

-Các giao dịch ngoại hối phái sinh ở Việt nam mới tồn tại ở hình thái

sơ khai, đơn giản nhất.

-Doanh số giao dịch còn nhỏ, chưa tương xứng với quy mô phát triển

của nền kinh tế. Các sản phẩm đơn giản, rào cản thị trường nhiều,

chi phí sản phẩm phái sinh cao và không đồng nhất giữa các ngân

hàng.

2.6.3. Khả năng giám sát quản lí giao dịch phái sinh của các CQQL tiền

tệ

18



Điều hành tỷ giá hối đoái ở nước ta trong thời gian qua đã có nhiều

đổi thay rõ rệt:

- Thứ nhất, các quy định về giao dịch ngoại hối phái sinh đã tạo ra

cơ hội kinh doanh chênh lệch giá.

- Thứ hai, với cách quy định về tỷ giá kỳ hạn, tỷ giá giao ngay đã

khiến cho hai chuỗi tỷ giá bị lệch khỏi nhau tương đối lớn với cùng kỳ

hạn trong suốt giai đoạn 2002 - 2009.

-Thứ ba, giao dịch Swap ở Việt nam không có chức năng phòng ngừa

rủi ro tỷ giá, mà chỉ được sử dụng khi các NHTM thiếu vốn khả dụng

VND, thừa USD. Giao dịch Swap đòi hỏi NHTM mất chi phí cao hơn

nếu vay vốn VND từ NHNN.

-Thứ tư, cách quy định về giao dịch quyền chọn tiền tệ giúp NHTM vi

phạm biên độ giao động tỷ giá giao ngay.

2.6.4. Thực trạng giao dịch phái sinh ở Việt Nam

- Thị trường ngoại hối phái sinh ở Việt nam tuy ra đời sau, chưa thực

hiện được chức năng phòng ngừa rủi ro tỷ giá theo đúng yêu cầu của

doanh nghiệp. Thực tế, có NHTM đã lạm dụng giao dịch ngoại hối

phái sinh để đầu cơ, lách trần quy định về tỷ giá, lãi suất, che giấu lỗ

kinh doanh.

- Các nghiệp vụ phái sinh mới bắt đầu được sử dùng từ đầu những

năm 2000. Tuy nhiên còn mang tính thí điểm và đơn lẻ. Số lượng

giao dịch của các công cụ này còn hết sức khiêm tốn. Một số tổ chức

tín dụng được NHNN cho phép thực hiện giao dịch các công cụ phái

sinh như sau:



19



- Trải qua hơn 16 năm hình thành và phát triển, quy mô thị trường

chứng khoán (TTCK) hiện vẫn còn khá khiêm tốn so với các nước

trong khu vực và thế giới. So với giá trị vốn hoá toàn thế giới, TTCK

Việt Nam chỉ tương đương 0,09%. Quy mô thị trường vốn so với nền

kinh tế của Việt Nam cũng nằm trong nhóm thấp nhất, với tỷ số thị

trường vốn so với GDP đạt 33,7%. Việc chưa phát triển TTCK phái

sinh khiến cho TTCK Việt Nam chưa thực sự hấp dẫn trong mắt NĐT

20



trong và ngoài nước khi họ thiếu đi công cụ phòng ngừa và thiếu các

sản phẩm để đa dạng hóa đầu tư. Tại các quốc gia trên thế giới,

TTCK phái sinh tuy ra đời muộn nhưng lại có doanh số giao dịch cao

như ở châu Âu doanh số hợp đồng tương lai gấp bốn lần thị trường

sơ cấp.

-



Quy mô giao dịch thị trường ngoại hối phái sinh Việt nam tăng đều



-



qua các năm từ 2008 – 2011.

Trong năm 2012 - 2013, khi các chính sách ổn định tỷ giá phát huy



-



hiệu lực, doanh số giao dịch phái sinh có xu hướng giảm dần.

Trong ba năm 2011 – 2013, các NHTM cổ phần chú trọng tới lĩnh vực

kinh doanh ngoại tệ, trong đó có giao dịch ngoại hối phái sinh, coi đó



-



là nguồn kiếm lời trong khi lợi nhuận từ lĩnh vực tín dụng bị thu hẹp.

Giai đoạn từ 2011-2015 tăng đáng kể do cơ chế điểu chỉnh tỷ giá



-



“thả nổi có quản lý” của nhà nước.

Doanh số giao dịch ngoại hối phái sinh hằng ngày ở Việt Nam vào



-



khoảng 200-300 USD/ ngày (2015).

Quyết định 366/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Đề án xây dựng

và phát triển TTCK phái sinh Việt Nam, cụ thể là phương án xây

dựng, lộ trình phát triển TTCK phái sinh và việc tổ chức thực hiện đã

được phê duyệt. Theo đó, lộ trình phát triển TTCK phái sinh được

chia thành 3 giai đoạn chính gồm: giai đoạn chuẩn bị 2013 - 2015:

xây dựng khung pháp lý, hoàn thiện cơ sở vật chất để vận hành

TTCK phái sinh; giai đoạn thử nghiệm 2016 - 2020: tổ chức giao dịch

các chứng khoán phái sinh dựa trên tài sản cơ sở là chứng khoán, với

lộ trình thiết kế và giao dịch sản phẩm theo từng giai đoạn là hợp

đồng tương lai (HĐTL) chỉ số; hợp đồng quyền chọn (HĐQC) chỉ số,

HĐTL trái phiếu chính phủ (TPCP); HĐTL và HĐQC dựa trên cổ phiếu;

cuối cùng là giai đoạn hoàn thiện sau năm 2020: phát triển TTCK

phái sinh thống nhất dựa trên các tài sản cơ sở theo thông lệ quốc

tế, giao dịch HĐTL và HĐQC dựa trên lãi suất, hối đoái, vàng, hàng

hóa.



21



Như vậy, nếu thực hiện đúng theo lộ trình, năm 2016, TTCK phái sinh

sẽ chính thức bắt đầu được vận hành với sản phẩm thử nghiệm là

hợp đồng tương lai dựa trên chỉ số TTCK và Trái phiếu Chính phủ.

 Những con số này cho thấy, nhu cầu giao dịch ngoại hối phái sinh tại

Việt Nam ngày một tăng cao, mở ra cơ hội đầu tư lớn cho các cá

nhân và tổ chức, doanh nghiệp.

2.7. Giải pháp củng cố thị trường pháp sinh ở Việt Nam.

Để thị trường chứng khoán phái sinh đi vào hoạt động và thật sự có

hiệu quả thì cần phải có những giải pháp tầm vĩ mô:

-



Phát triển đồng bộ thị trường tài chính tiền tệ: Giao dịch tài chính

phái sinh không thể tách rời các giao dịch về công cụ tài chính cơ sở.

Do vậy để hình thành các hợp đồng phái sinh trước hết cần có các

công cụ tài chính cơ sở phục vụ cho việc trao đổi trong mỗi hợp

đồng. Các công cụ tài chính cơ sở phải đa dạng để thúc đẩy thị

trường tài chính phái sinh phát triển. Mức độ đa dạng của công cụ tài

chính cơ sở lại hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị

trường tài chính.



-



Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thị trường tài chính, tiền tệ và các

sản phẩm tài chính phái sinh: Hệ thống khung pháp lý là cơ sở quan

trọng nhất quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của thị trường

phái sinh và tạo nên những rào chắn bảo vệ sự lành mạnh của thị

trường tài chính, đồng thời các văn bản pháp luật cũng là cơ sở quan

trọng cho những dịch vụ mới ra đời. Môi trường pháp lý đầy đủ, đồng

bộ, hiệu lực pháp lý cao là điều kiện cần cho sự hình thành và phát

triển của thị trường tài chính phái sinh.

Do tính chất phức tạp của giao dịch sản phẩm tài chính phái sinh

khiến cho hoạt động của các công cụ này nhạy cảm với hành vi gian

lận, tiêu cực. Trên thị trường phái sinh có nhiều đối tượng tham gia

như: các nhà kinh doanh, nhà đầu cơ, nhà môi giới… Mỗi người tham

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thị trường phái sinh

Tải bản đầy đủ ngay(25 tr)

×