Tải bản đầy đủ - 169 (trang)
a. HĐNT trực tiếp và PTTT trực tiếp

a. HĐNT trực tiếp và PTTT trực tiếp

Tải bản đầy đủ - 169trang

96

thông tin cần thiết của vụ việc đến cho người đọc từ đó họ có thể tương tác lại bằng

cách đánh giá, nhận xét tính chất đúng - sai, bày tỏ quan điểm, lập trường, tư tưởng

của mình. Bài báo sử dụng HĐNT với ý nghĩa tường minh. Vì thế, những điều

muốn tương tác cũng được biểu hiện rõ ràng với các tín hiệu ngôn ngữ hiển ngôn:

“xét xử”, “khởi kiện”, “thua kiện”… Theo đó, trong những phản hồi tương tác lại ở

bài báo này, độc giả cũng tập trung bàn luận tới các vấn đề đã nêu ra trong bài báo

với các từ khóa “xét xử”, “thua kiện”…

Một ví dụ khác:

(46)



Chiều tối 7/12, một cuộc họp giữa lãnh đạo Bộ GD-ĐT và Hội Khoa học Lịch



sử Việt Nam dưới sự chủ trì của Ban Tuyên giáo TƯ xung quanh tranh luận có nên để

môn Lịch sử là môn học độc lập, bắt buộc trong chương trình SGK mới.

[…] Theo đó, điều mà cả hai bên đều thống nhất là Lịch sử đóng vai trò

quan trọng trong chương trình phổ thông và là nội dung giáo dục bắt buộc đối với

tất cả học sinh từ tiểu học lên THPT. (Không tích hợp Lịch sử vào môn Công dân

với Tổ quốc VNN 07/12/2015, PL17)

Đoạn trên sử dụng cấu trúc khẳng định với từ “là” (là nội dung giáo dục bắt

buộc), cấu trúc phủ định “không + động từ” (không tích hợp) – phủ định để khẳng

định (Lịch sử là môn độc lập). Người đọc có thể tiếp nhận thông tin qua tiêu đề và

nội dung bài báo rất hiển ngôn: môn Lịch sử sẽ là một môn học độc lập, không tích

hợp vào môn Công dân với Tổ quốc. Trong bài báo trên, nhà báo nói về một cuộc

họp để bàn về môn Lịch sử. Nội dung cuộc họp, các bên tham gia, các ý kiến tranh

luận và các điểm thống nhất sau cuộc họp… đã lần lượt được kể lại đầy đủ. Theo

đó, sự tương tác trở lại của độc giả cũng tập trung bàn luận về nội dung và kết luận

của cuộc họp này.

Như vậy, hầu hết HĐNT trong các bài báo kể trên là hành động trần thuật với

mục đích là miêu tả và thông báo. Nó được sử dụng đúng như khái niệm mà nó gợi

ra. Đó là những lời kể lại, thuật lại một câu chuyện hoặc sự việc với các chi tiết và

diễn biến của nó. Chúng nói về các sự kiện, các hiện tượng, các tình trạng hoặc

hành động. Các ý kiến nêu lên để người nghe biết, đồng tình, phản đối hoặc tư duy

cùng. Bản chất của HĐNT trong DNBC là việc sử dụng các phương tiện ngôn từ để



97

cung cấp thông tin cho người đọc, từ đó họ tương tác trở lại với thông tin đó. Cách

thức sử dụng HĐNT của nhà báo là sử dụng nhiều hành động trần thuật, miêu tả

mang tính chất thông báo thông tin khách quan. Và tác động, hiệu lực ở lời của

HĐNT chính là việc độc giả phản hồi đánh giá, nhận xét, bàn luận về những thông

tin đã được đưa ra.

a2. Ở PTTT trực tiếp này, chúng tôi bắt gặp các đối thoại trực tiếp với dạng

bài viết nhà báo hỏi và người được phỏng vấn trả lời với các thông tin khá tường

minh. Thông thường, nội dung đối thoại đã được thể hiện trên câu hỏi của nhà báo.

Người được phỏng vấn trả lời nội dung đó. Trên cơ sở câu trả lời đó, nhà báo lại

tiếp tục đặt câu hỏi để khai thác được tối đa lượng thông tin cần đạt. Đối thoại kiểu

này rất dễ được nhận diện. Ví dụ:

(47)



Đuổi học vì nói xấu GV trên Facebook: Nhà trường là nơi giáo dục chứ



không phải là nơi kết tội học sinh! (DT 07/11/2015, PL18)

Bài báo phỏng vấn Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Chử Xuân

Dũng sau khi làm việc với trường THPT Lê Lợi chiều ngày 6/11 về vụ việc “Nữ

sinh bị đuổi học 10 ngày vì nói xấu giáo viên trên Facebook” gây xôn xao dư luận.

Thưa ông, qua làm việc với nhà trường, quan điểm của ông về sự việc này

như thế nào?

Chúng tôi đang yêu cầu nhà trường tường trình toàn bộ sự việc, báo cáo từng

bước xử lý, từng văn bản cụ thể từ trước tới nay về vấn đề này vào ngày 7/11.

Quan điểm của tôi phải nghe từ 2 phía….

Việc học sinh sử dụng Facebook để bày tỏ cảm nghĩ của mình, nói lên

những điều bức xúc của mình về việc học tập nhưng không nói rõ đích danh người

nào đó có phải là hành động sai? Có phải chịu hình thức kỷ luật?

Việc học sinh viết ám chỉ chung chung, không cụ thể ai thì mình cần phải

xem lại. Đây chỉ là hành động nhất thời của học sinh. Làm giáo dục cái quan trọng

nhất là vì sự tiến bộ của học sinh. Nhà trường là nơi giáo dục chứ không phải là nơi

kết tội học sinh. Làm thế nào để nhà trường, học sinh và gia đình học sinh luôn tìm

được tiếng nói chung thì giáo dục mới hiệu quả. Khi nhà trường giải trình đầy đủ sự

việc, Sở sẽ có chỉ đạo chính thức về sự việc này.



98

Dẫn chứng trên là một đoạn phỏng vấn bao gồm hành động hỏi do phóng viên

đảm nhận và hành động trả lời do người được phỏng vấn trả lời. Cặp hành động hỏi trả lời tường minh thông tin cần truyền đạt với hai cặp trao đáp hỏi - trả lời.

Trong câu hỏi 1, điểm hỏi của nhà báo là về quan điểm của người được

phỏng vấn về vấn đề. Trong câu trả lời 1, điểm trả lời trực tiếp “quan điểm của tôi

phải nghe từ 2 phía…”. Từ khóa “quan điểm” ở đây đánh dấu hiệu lực tương tác

của cặp đối thoại hỏi - trả lời 1 này.

Trong câu hỏi 2, nhà báo đề cập tới một vấn đề khác: học sinh sử dụng

Facebook để nói điều bức xúc nhưng không nói rõ người nào, hành động đó sai hay

đúng. Trong câu hỏi này nhà báo liên tiếp hỏi hai câu hỏi: “có phải là hành động

sai?”, “có phải chịu hình thức kỷ luật?”. Điểm hỏi là vụ việc học sinh dùng

Facebook, điểm trả lời cũng xoay quanh vấn đề này với từ khóa là “việc học sinh

ám chỉ chung chung, không cụ thể ai”. Trong câu trả lời, người được phỏng vấn

không trực tiếp trả lời vào hai câu hỏi mà nhà báo đã nêu song quan điểm đã được

thể hiện rõ trong các lời khẳng định: Làm giáo dục…là vì học sinh, nhà trường là

nơi giáo dục chứ không phải là nơi kết tội học sinh.

Như vậy, ở dạng bài phỏng vấn đối thoại trực tiếp thì HĐNT thể hiện tương

tác của các bài báo là hành động hỏi - trả lời. Điểm hỏi - điểm trả lời xoay quanh

các từ khóa đánh dấu mức độ tương tác của DNBC.

b. HĐNT gián tiếp và PTTT gián tiếp

b1. Với PTTT gián tiếp, thông qua các HĐNT gián tiếp, người đọc phải suy ý

để nhận ra hàm ý ẩn giấu trong đó. Nguyễn Đức Dân gọi đây là “những thông tin

chìm trong báo chí”. Vì thông tin chìm nên sự tương tác với độc giả cũng chìm trong

các lớp ngôn từ. HĐNT gián tiếp ở đây đã góp phần làm nên những nét đặc sắc về

mặt ngôn từ cho diễn ngôn báo chí bởi “có những điều không được phép nói, không

tiện nói ra hoặc nói thẳng chưa chắc đã đạt hiệu quả cao bằng những lời nói tế nhị,

chứa đựng hàm ý” [ 20].

Trên mặt báo có những thông tin không được viết ra nhưng độc giả có thể

nhận biết được. Những thông tin này được thể hiện bằng những HĐNT gián tiếp.



99

Ví dụ:

(48)



Ít có sai phạm trong tuyển dụng công chức ở Hà Nội? (DT 28/09/2015, PL2)

HĐNT ở tiêu đề bài báo này là hành động hỏi nhưng hỏi để chê, giễu, mỉa.



Bài báo đưa ra kết luận của thanh tra UBND Thành phố Hà Nội và các đơn vị về

quản lý biên chế công chức. Theo kết luận này thì “ưu điểm nhiều, khuyết điểm ít”,

việc tuyển dụng công chức không có sai sót đáng kể nào. Đặt các nội dung bài báo

này trong ngữ cảnh những lùm xùm trong việc sát hạch công chức của Hà Nội năm

2015 vừa được báo chí phản ánh mới thấy được hàm ý của bài báo. Nó đã được

nhắc đến trong bài như: kết luận của thanh tra “bỏ quên”, những lùm xùm “vắng

bóng”. Cuối cùng câu hỏi mà tiêu đề đặt ra mỗi độc giả đã có câu trả lời cho mình.

Ít có sai phạm trong tuyển dụng công chức ở Hà Nội, đó là theo kết luận của thanh

tra; còn thực tế thì ngược lại.

Những thông tin chìm này cũng được suy ra từ một bài báo tương tự:

(49)



Môi trường trọng nhân tài (DT 15/12/2015, PL21)

Bài báo đi tìm câu trả lời cho ba câu hỏi: Một, vì sao người Việt có trí tuệ,



học tập không thua kém các dân tộc khác nhưng đất nước lại không phát triển

nhanh như kỳ vọng. Hai, vì sao những người giỏi không tham gia nhiều vào các

hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, trong khi đất nước rất cần người tài để

xây dựng cơ chế chính sách? Ba, vì sao nhiều người giỏi đi học ở nước ngoài lại

không muốn về?

Cần đặt ba câu hỏi này trong một ngữ cảnh vượt ngoài bài báo là vụ việc

của TS Doãn Minh Đăng và trường: TS Đăng là một người giỏi đi học ở nước

ngoài, trở về nước làm việc nhưng lại xảy ra những mâu thuẫn với nhà trường. Liên

hệ với vụ việc này mới hiểu rõ hơn hàm ý mà tác giả muốn nói trong lời kết của bài:

“Người giỏi không ai chịu nhận lương ba đồng ba cọc để kiếm ăn bằng cách

mờ ám và ngồi chờ “chuyến tàu vét” của buổi hoàng hôn cuối nhiệm kỳ. Nhân tài

chỉ tồn tại trong môi trường trọng nhân tài”.

Rõ ràng, vấn đề ở đây không còn chỉ là chuyện của nhân tài nữa mà là

chuyện môi trường có trọng dụng nhân tài hay không? Vì thế HĐNT hỏi trong bài



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. HĐNT trực tiếp và PTTT trực tiếp

Tải bản đầy đủ ngay(169 tr)

×