Tải bản đầy đủ - 169 (trang)
TƯƠNG TÁC CỦA THỂ PHÁT TRONG DIỄN NGÔN BÁO ĐIỆN TỬ

TƯƠNG TÁC CỦA THỂ PHÁT TRONG DIỄN NGÔN BÁO ĐIỆN TỬ

Tải bản đầy đủ - 169trang

61

chương 2 này, chúng tôi chỉ đề cập tới những đặc điểm của thể phát 1 còn thể phát2 sẽ

được phân tích ở chương 3 khi nói tới những đặc điểm của thể nhận. Dưới đây, khi

nói đến thể phát tức là chỉ thể phát1.

Chủ đề là tiêu chí để tập hợp và khảo sát các bài báo trong luận án. Qua khảo

sát trên hai tờ báo mạng điện tử Dân trí và VietNamNet ở chuyên mục Giáo dục

năm 2015, chúng tôi lựa chọn được 185 bài báo. Chúng được phân loại theo nội

dung; mỗi bài báo được phân loại theo các kiểu tiêu đề, dẫn nhập (sapô), thể loại

(chi tiết xem phụ lục). Kết quả, chúng tôi phân loại 185 bài báo thành 7 chủ đề lớn

(7 tuyến bài lớn) với số lượng bài cụ thể như sau:

STT

1

2

3

4

5

6

7



Chủ đề

Thạc sĩ, thủ khoa xuất sắc trượt

công chức Hà Nội

ĐH Tôn Đức Thắng phong GS,

PGS

Đà Nẵng kiện nhân tài

Tích hợp môn Lịch sử

Học sinh nói xấu giáo viên trên

Facebook

Tranh cãi mở đầu đoạn văn 0 điểm

Giảng viên nói xấu trường trên

Facebook

Tổng



Lượng bài

của Dân trí



Lượng bài

của

VietNamNet



Tổn

g



17



17



34



22



17



39



8

28



2

27



10

55



5



2



7



2



4



6



19



15



34



101



84



185



Bảng 2.1: Tổng hợp số lượng các bài báo được khảo sát

Tên các chủ đề (trong bảng trên) được lấy từ sự kiện bắt nguồn cho toàn bộ tuyến

bài. Đó cũng là sự kiện xuyên suốt trong tất cả các bài báo của tuyến bài đó.

2.1. Tương tác giữa các thể phát trong diễn ngôn báo điện tử

Tương tác giữa các thể phát được thực hiện trên cơ sở chủ đề của các bài

báo. Các bài báo có liên quan với nhau về mặt chủ đề sẽ có sự tương tác với nhau.

Tương tác chủ đề là tương tác về mặt nội dung. Từ tương tác về mặt nội dung sẽ

dẫn đến tương tác về mặt hình thức là tương tác thể loại.

2.1.1. Tương tác chủ đề

Chủ đề là tiêu chí để nhận diện sự tương tác giữa các thể phát.



62

185 bài báo, với 7 chủ đề cụ thể trong bảng 2 trên, được thể hiện bằng biểu

đồ sau:

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ các chủ đề

Nhìn vào biểu đồ có thể thấy 4 chủ đề có số lượng bài nhiều nhất đó là: Thạc

sĩ, thủ khoa xuất sắc trượt công chức Hà Nội (34 bài); ĐH Tôn Đức Thắng phong

GS, PGS (39 bài), Tích hợp môn Lịch sử (55 bài), Giảng viên nói xấu trường trên

Facebook (34 bài). Với số lượng bài nhiều, các chủ đề này đã khai thác được khá

triệt để các nội dung thông tin. Ba chủ đề có lượng bài ít đó là: Đà Nẵng kiện nhân

tài (10 bài), Học sinh nói xấu giáo viên trên Facebook (7 bài), Tranh cãi mở đầu

đoạn văn 0 điểm (6 bài). Những chủ đề này mới dừng lại ở việc nêu các vấn đề hoặc

chốt lại cách giải quyết vấn đề luôn, ít có những tranh cãi, bàn luận.

Cũng cần lưu ý rằng, không phải cứ hai bài báo cùng chủ đề là có sự tương

tác, rất có thể người viết độc lập với nhau và không có sự tương tác với nhau. Chính

vì thế, khi tiến hành thống kê các bài báo tương tác chủ đề, ngoài tiêu chí quan

trọng về nội dung là chủ đề (trong các bài báo có các từ khóa, cụm từ khóa được lặp

đi lặp lại); chúng tôi còn căn cứ vào hai tiêu chí hình thức, hiện trên giao diện mỗi

bài báo, đó là: (1) thời gian xuất bản của các bài báo và (2) các đường siêu liên kết.

Thời gian xuất bản của các bài báo cho biết bài nào xuất bản trước, bài nào xuất bản

sau (trong phần phục lục, các bài báo được liệt kê theo thứ tự thời gian xuất bản

trong từng báo). Những bài báo xuất bản sau có thể có sự tương tác chủ đề với các

bài báo xuất bản trước nó. Căn cứ hình thức thứ hai để tập hợp các bài báo tương

tác chủ đề là các đường siêu liên kết (link, superlink, hyperlink). Các bài báo được

định vị bằng các đường siêu liên kết có sự tương tác chủ đề theo ý đồ của nhà báo

và tòa soạn. Dựa vào các đường liên kết ở các bài báo mà chúng tôi tập hợp được

các bài báo có sự tương tác chủ đề. Ví dụ đường siêu liên kết chủ đề được đánh dấu

trong khung ở hai ví dụ dưới đây:

Ví dụ 1:



63



Ví dụ 2:



Hình 2.1: Đường siêu liên kết chủ đề

Siêu liên kết là khả năng cho phép kết nối từ một trang web của tờ báo điện

tử đến bất cứ một bài báo nào khác trên web đó và bất kì một trang web nào trên

mạng Internet. Với hệ thống siêu liên kết, mỗi bài báo được định vị bằng một địa

chỉ và kết nối với bài khác qua đường link. Các siêu liên kết tổ chức thông tin thành

từng lớp, tạo mối quan hệ giữa thông tin mới nhất với các thông tin tham chiếu, bổ

sung trong cùng một chủ đề. Nhờ siêu liên kết, mỗi bài báo điện tử trở thành một hệ

thống mở, nó có thể liên kết với nhiều bài báo khác. Rõ ràng, về mặt hình thức, việc

sử dụng các đường siêu liên kết là một trong các hình thức để tạo dựng sự liên kết

chủ đề giữa các bài báo với nhau.



64

Theo khảo sát, diễn ngôn báo điện tử thực hiện việc liên kết và tương tác chủ đề

theo ba kiểu: 1- tạo lập chủ đề (ở bài báo gốc), 2- duy trì chủ đề (giống của bài báo trước),

3- phát triển chủ đề (ngoài duy trì chủ đề còn mở rộng chủ đề khác với bài báo trước).

Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh sự tương tác về mặt chủ đề giữa các bài báo. Do

đó, vấn đề liên kết chủ đề cụ thể với những phép liên kết của ngôn ngữ sẽ không

được nhắc tới. Nghĩa là sẽ không có sự phân tích liên kết giữa từ với từ, câu với

câu… mà chủ yếu phân tích sự liên kết về mặt chủ đề của các văn bản với nhau.

Cùng một chủ đề bao nhiêu văn bản đề cập đến, đối tượng được nói đến như thế nào,

chủ đề được tạo lập, duy trì và phát triển như thế nào?

Cụ thể ở từng chủ đề, lượng bài ở các phương diện trên được thống kê như

sau: (chú thích: a- tạo lập chủ đề, b- duy trì chủ đề, c - duy trì và phát triển chủ đề):

STT

1

2

3

4

5

6

7



a



b



c



VietNamNe

t

a b c



1



11



5



1



12



4



2



23



9



1



19



2



1



15



1



2



34



3



1

1



3

23



4

4



1

1



1

17



0

9



2

2



4

40



4

13



1



1



3



1



1



0



2



2



3



1



1



0



1



3



0



2



4



0



1



6



12



1



7



7



2



13



19



7



64 30



7



56 21



14



120



51



Dân trí



Chủ đề

Thạc sĩ, thủ khoa xuất

sắc trượt công chức Hà

Nội

ĐH Tôn Đức Thắng

phong GS, PGS

Đà Nẵng kiện nhân tài

Tích hợp môn Lịch sử

Học sinh nói xấu giáo

viên trên Facebook

Tranh cãi mở đầu đoạn

văn 0 điểm

Giảng viên nói xấu

trường trên Facebook

Tổng



Tổng (Tỉ lệ %)

a



b



C



(7,6%) (64,9% (27,5%

)

)



Bảng 2.2: Thống kê lượng bài tương tác chủ đề

Nhìn vào bảng trên có thể thấy, sự duy trì chủ đề diễn ra nhiều nhất (64,9%) sau

đó đến sự duy trì và phát triển chủ đề (27,5%), còn sự tạo lập chủ đề là ít nhất (7,6%).

Điểm độc đáo cần nhấn mạnh qua sự tương tác chủ đề đó là sự thay đổi về

tiêu điểm thông tin (focus) giữa các bài báo ở cùng một chủ đề. Tuy các bài báo

đều hướng tới một đối tượng chung nhưng ở mỗi bài báo tiêu điểm thông tin lại

khác nhau. Sự thay đổi về tiêu điểm thông tin là điểm làm nên sự hấp dẫn, khác biệt



65

của các tin và cũng thể hiện quá trình khai thác thông tin của các nhà báo. Một ví dụ

cụ thể, báo chí những ngày đầu tháng 11/2016 đưa tin về vụ việc điều động giáo

viên nữ đi tiếp khách phục vụ các dịp lễ lớn ở Hà Tĩnh. Tuyến bài “Hà Tĩnh cử giáo

viên nữ đi tiếp khách” cho thấy sự thay đổi tiêu điểm thông tin qua các bài báo. Ban

đầu đưa tin “Lãnh đạo Hà Tĩnh cử giáo viên nữ đi tiếp khách”. Tiêu điểm của tin

này là lãnh đạo Hà Tĩnh (làm sai quy chế, nhân quyền - ứng xử với nhà giáo chưa

đúng). Sau đó tiêu điểm tin thay đổi qua các bài báo khác nhau: Bộ trưởng Giáo dục

nói gì về vụ việc này? (đối tượng của tin này là Bộ trưởng, cách ứng xử của Bộ

trưởng với tư cách là người đứng đầu...); hay chủ tịch Hà Tĩnh yêu cầu báo cáo vụ

việc (đối tượng tin là người đứng đầu địa phương xảy ra vụ việc). Ví dụ này cho

thấy sự tương tác chủ đề luôn đi kèm sự thay đổi về tiêu điểm thông tin.

Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt phân tích ba kiểu tương tác chủ đề (tạo lập,

duy trì, phát triển chủ đề) đồng thời chỉ ra sự thay đổi về tiêu điểm thông tin trong

các bài báo.

2.1.1.1. Tạo lập chủ đề

Tạo lập chủ đề là hoạt động đầu tiên để tiến hành tương tác chủ đề. Đó là

việc các nhà báo tạo ra chủ đề ban đầu trong bài báo gốc. Do đặc thù của việc tạo

lập nên kiểu tương tác chủ đề này thường diễn ra ở các bài báo đầu tiên của các chủ

đề đã kể trên. Cụ thể:

1- Nhiều thạc sĩ, cử nhân xuất sắc, giỏi ở nước ngoài trượt công chức Hà

Nội (DT, 23/04/2015, PL1)

30 thạc sĩ, thủ khoa xuất sắc nước ngoài trượt công chức (VNN, 23/04/2015, PL3)

Hai bài báo này tạo lập chủ đề “Thạc sĩ, thủ khoa xuất sắc trượt công chức Hà Nội”.

2- Trường ĐH tự phong GS, PGS cho giảng viên (DT, 15/09/2015, PL5)

Trường ĐH phong giáo sư cho giảng viên (VNN, 14/09/2015, PL8)

Hai bài báo này tạo lập chủ đề “ĐH Tôn Đức Thắng phong GS, PGS”.

3- “Nhân tài” thua kiện vì… bỏ cuộc nửa chừng (DT, 29/09/2015, PL10)



66

Đà Nẵng đòi “nhân tài” trả lại 10 tỷ đồng (VNN, 01/10/2015, PL11)

Hai bài báo này tạo lập chủ đề “Đà Nẵng kiện nhân tài”.

4- Góp ý chương trình phổ thông mới: Môn Lịch sử sẽ… biến mất (DT,

10/08/2015, PL12)

Bộ Giáo dục giải thích tại sao Lịch sử là môn tự chọn (VNN, 21/10/2015, PL15)

Hai bài báo này tạo lập chủ đề “Tích hợp môn Lịch sử”.

5- Bị thôi học vì xúc phạm giáo viên trên Facebook: Phụ huynh khiếu nại

nhà trường (DT 05/11/2015, PL18)

Nữ sinh bị thôi học 10 ngày vì xúc phạm giáo viên trên Facebook (VNN,

04/11/2015, PL18)

Hai bài báo này tạo lập chủ đề “Học sinh nói xấu giáo viên trên Facebook”.

6- Tranh cãi mở đầu đoạn văn bị 0 điểm (DT, 18/11/2015, PL19)

Mở đoạn bài văn 0 điểm gây tranh cãi (VNN, 18/11/2015, PL19)

Hai bài báo này tạo lập chủ đề “Tranh cãi mở đầu đoạn văn 0 điểm”.

7- Nói xấu trường trên Facebook, cựu quán quân Olympia bị kỷ luật? (DT,

01/12/2015, PL20)

“Nói xấu” trường trên Facebook, cựu quán quân Olympia bị kỷ luật (VNN,

01/12/2015, PL21)

Hai bài báo này tạo lập chủ đề “Giảng viên nói xấu trường trên Facebook”.

Các bài báo trên đã tạo lập nên những từ khóa cơ bản mở đầu cho toàn bộ

tuyến bài (1-thạc sĩ, thủ khoa; 2-ĐH Tôn Đức Thắng; 3-nhân tài; 4-môn Lịch sử; 5học sinh và Facebook; 6-đoạn văn 0 điểm; 7-giảng viên và Facebook). Ở các bài

báo tạo lập chủ đề, thông tin đưa ra là những thông tin lần đầu xuất hiện trên báo

đó. Những thông tin này thường ngắn gọn, mang tính chất thông báo khách quan (1trượt công chức, 2-kiện nhân tài, 3-phong GS và PGS, 4-tích hợp môn Lịch sử, 5học sinh nói xấu giáo viên, 6-tranh cãi đoạn văn, 7-kỷ luật giảng viên nói xấu

trường). Sự tạo lập chủ đề trong các bài báo gốc là tiền đề cho sự duy trì và phát

triển chủ đề ở các bài báo sau.

2.1.1.2. Duy trì chủ đề



67

Duy trì chủ đề là việc nhắc lại cùng một sự vật, một sự việc nào đó trong các

bài báo (sự vật, sự việc này đã được đề cập tới trong bài báo đầu tiên có nhiệm vụ

tạo lập chủ đề khởi đầu cho toàn tuyến bài). Việc cùng nói về một sự vật, sự việc

nào đó khiến cho các bài báo có mối quan hệ tương tác về mặt chủ đề với nhau. Vì

thế trong các bài báo này, các từ khóa và cụm từ khóa thường được lặp đi lặp lại.

Ví dụ ở chủ đề 6-“Tranh cãi đoạn văn mở đầu 0 điểm”, sau hai bài báo đầu

tiên tạo lập chủ đề, bốn bài báo còn lại đều xoay quanh một đoạn văn mở đầu bị

chấm 0 điểm của một học sinh:

(1)

(2)

(3)

(4)



Giáo viên lên tiếng về đoạn văn mở 0 điểm gây xôn xao (DT 19/11/2015, PL19)

Giáo viên mổ xẻ mở đoạn bài văn 0 điểm (VNN 19/11/2015, PL19)

Độc giả chấm điểm bài văn điểm 0 (VNN 19/11/2015, PL19)

Trò chuyện với phụ huynh chia sẻ về đoạn văn 0 điểm (VNN 20/11/2015, PL19)

Các bài báo trên, từ tiêu đề đến nội dung đều nhắc đến một đối tượng đó là

“đoạn văn 0 điểm”. Xoay quanh đối tượng này, các bài báo khai thác các nội dung:

giáo viên phân tích, độc giả bình luận, phụ huynh học sinh chia sẻ. Tiêu điểm thông

tin của tuyến bài này đã thay đổi theo quy trình như sau: đoạn văn - giáo viên - độc

giả - phụ huynh. Để tạo sự liên kết, các bài báo đều nhắc lại thông tin về đoạn văn 0

điểm để làm cái cớ cho việc trình bày thông tin tiếp theo, ví dụ:



(1) “Sau khi Dân trí đăng tải thông tin về đoạn văn mở bị chấm 0 điểm, nhiều giáo

viên Văn đã chia sẻ về cách chấm này”. (Giáo viên lên tiếng về đoạn văn mở 0

điểm gây xôn xao DT 19/11/2015, PL19)

(2) “Trao đổi với VietNamNet, chị Vũ Hoàng Huệ, người chia sẻ hình ảnh mở đoạn bài

văn 0 điểm của con nhấn mạnh: Một số bạn nếu chưa rõ về câu chuyện xin đừng

kết tội cho cô. Ở đây chỉ đơn giản là chúng ta cùng trao đổi về một vấn đề và tìm ra

một cách dạy con sao cho vừa phù hợp… (Trò chuyện với phụ huynh chia sẻ về

đoạn văn 0 điểm VNN 20/11/2015, PL19)

Trong hai ví dụ trên, các cụm “đoạn văn mở bị chấm 0 điểm” và “mở đoạn

bài văn 0 điểm” chính là những cụm từ khóa mà sự xuất hiện của nó đã cung cấp

cho người đọc những thông tin cơ bản về chủ đề đang được nói đến. Bằng những

cụm từ khóa này, nhà báo thực hiện việc duy trì chủ đề trong bài báo của mình.



68

Ở chủ đề 1-“Thạc sĩ, thủ khoa xuất sắc trượt công chức Hà Nội”, 23/34 bài

báo cùng duy trì chủ đề trên. Trong đó, các bài báo đã khai thác quan điểm của những

người trong cuộc: chia sẻ của các thạc sĩ, thủ khoa tham gia kì thi; sở Nội vụ trả lời

những phản hồi hoặc phỏng vấn các thạc sĩ, thủ khoa ngoài cuộc để có cái nhìn nhiều

chiều. Tiêu điểm truyền tin của tuyến bài này là: thạc sĩ, thủ khoa trong cuộc - sở Nội

vụ - thạc sĩ, thủ khoa ngoài cuộc…. Sự thay đổi về tiêu điểm thông tin nhưng vẫn

xoay quanh một chủ đề chính tạo thông tin đa chiều cho độc giả tiếp nhận.

Cũng với phương thức như vậy, ở chủ đề 4-“Tích hợp môn Lịch sử” có một

sự kiện nổi bật là: trong dự thảo chương trình phổ thông mới môn Lịch sử sẽ được

tích hợp. Sự kiện này đã thu hút các nhà báo và kết quả 40/54 bài báo trực tiếp bàn

luận với những quan điểm trái chiều của các nhà Sử học, bộ Giáo dục… Sự khác

biệt của 40 bài báo này chính là ở mỗi bài báo có một tiêu điểm, một đối tượng khai

thác thông tin trực tiếp khác nhau.

Hay ở chủ đề 2-“ĐH Tôn Đức Thắng phong GS, PGS”, 34/39 bài báo được

khảo sát đều duy trì chủ đề. Ngoài, 2 bài báo tạo lập chủ đề, 3 bài báo duy trì và

triển khai chủ đề thì các bài báo còn lại đều xoay quanh vấn đề về trường ĐH Tôn

Đức Thắng phong GS, PGS: các bình luận, đánh giá của các GS, PGS, TS; đại diện

nhà trường lên tiếng; Bộ Giáo dục trả lời; trường phản hồi thông tin… Số lượng bài

báo nhiều, với các cách thức khai thác thông tin từ các đối tượng khác nhau đã cung

cấp một lượng thông tin đa dạng, nhiều chiều xung quanh chủ đề này.

(3) Ví dụ cụ thể hơn, ở chủ đề 5-“Học sinh nói xấu giáo viên trên Facebook” có 2 bài

báo duy trì chủ đề là:

(1) Đuổi học vì nói xấu GV trên Facebook: Nhà trường là nơi giáo dục chứ

không phải là nơi kết tội học sinh! (DT 07/11/2015, PL18)

(4) Nữ sinh bị thôi học vì kể chuyện cô giáo trên Facebook xin chuyển

trường (VNN 09/11/2015, PL18)

Cụm từ khóa của các bài báo trên là “nói xấu, xúc phạm giáo viên trên

Facebook”. Xoay quanh từ khóa này, các bài báo đưa thông tin việc một học sinh bị

thôi học vì nói xấu giáo viên trên Facebook với những chia sẻ của phụ huynh học

sinh, phỏng vấn sở Giáo dục và tin về học sinh xin chuyển trường. Có thể thấy, tiêu



69

điểm truyền tin của tuyến bài này là: phụ huynh - sở Giáo dục. Vụ việc của học sinh

là sợi dây liên hệ giữa các tiêu điểm này và nó gắn kết các bài báo với nhau. Bài báo

sau nhắc lại vụ việc, thông tin của bài báo trước:

(4) “Liên quan đến vụ việc nữ sinh Q. - Trường THPT Lê Lợi (quận Hà Đông, Hà

Nội) bị buộc thôi học 10 ngày vì lý do em xúc phạm cô giáo trên Facebook, ngày

9/11 gia đình đã làm đơn xin chuyển trường cho con gái.

Trước đó, sự việc nữ sinh tên Q. bị nhà trường buộc thôi học 10 ngày với lý

do xúc phạm giáo viên trên Facebook. Bức xúc trước việc làm này, bà Hà Phương, phụ

huynh của nữ sinh Q. cho biết bà đã có phản hồi lãnh đạo Trường THPT Lê Lợi vì đuổi

học con bà một cách tùy tiện, thiếu căn cứ, không đúng quy trình.” (Nữ sinh bị thôi học

vì kể chuyện cô giáo trên Facebook xin chuyển trường VNN 09/11/2015, PL18)

Những thông tin của bài báo trên đưa ra có sự nhắc lại thông tin trong bài

báo đã đưa trước đó: Nữ sinh bị thôi học 10 ngày vì xúc phạm giáo viên trên

Facebook (VNN 04/11/2015, PL18)

Như vậy, để duy trì chủ đề giữa các bài báo, nhà báo thường nhắc lại sự việc

hoặc các từ, cụm từ khóa mà các bài báo trước đã đề cập tới. Sự duy trì chủ đề tạo

nên mối quan hệ trực tiếp về mặt chủ đề giữa các bài báo. Sự tương tác ở đây là sự

tương tác trực tiếp, các bài báo có sự tác động và tương tác lẫn nhau thông qua các

chủ đề chính - các đối tượng được nói đến.

2.1.1.3. Duy trì và phát triển chủ đề

Một cách đơn giản có thể hiểu, duy trì và phát triển chủ đề là cùng với chủ đề

đã cho (duy trì chủ đề), đưa thêm vào một hoặc những chủ đề (vật, việc) khác nữa

có liên quan với chủ đề ban đầu (phát triển chủ đề). Sự phát triển này theo tiêu

chuẩn cần và đủ của logic để bảo đảm cho các bài báo chứa chúng có mối liên hệ về

chủ đề với nhau.

Thông thường, đan xen với các bài báo có sự duy trì chủ đề (chủ đề A), nhà

báo phát triển vấn đề và tạo ra các bài báo khác có sự phát triển chủ đề rộng và sâu

hơn (chủ đề B). Trong đó, A và B có sự liên hệ về mặt logic. Có thể khái quát theo

mô hình sau:



70

Duy trì chủ đề



Phát triển chủ đề



A



B

Mô hình 2.1: Mô hình duy trì và phát triển chủ đề



Ví dụ, ở chủ đề (5) Học sinh nói xấu giáo viên trên Facebook, chủ đề được

phát triển tiếp theo là “Hạn chế học sinh dùng Facebook”. Cụ thể, có 3 bài báo phát

triển chủ đề:

(5) Việc một học sinh lớp 12 ở Trường THPT Lê Lợi, Hà Đông, Hà Nội vừa bị đình chỉ

học 10 ngày vì nói xấu giáo viên trên Facebook. Nhiều người đặt câu hỏi, liệu có

nên cấm học sinh sử dụng Facebook? (Có nên cấm học sinh sử dụng Facebook?

DT, 04/11/2015, PL18). Trong bài báo, tác giả đưa ra các dẫn chứng về quy định

“cấm kỵ” học sinh khi sử dụng mạng xã hội của các trường như: Trường THPT

Nguyễn Đức Cảnh (Thái Bình), Trường PTDL Lương Thế Vinh (Hà Nội)… Từ đó,

bàn luận về vấn đề: có nên cấm học sinh sử dụng Facebook hay không?

(6) Thời gian qua, nhiều vụ học sinh chửi bới nhau, thậm chí chửi cả bố mẹ, người

thân trên Facebook. Mới đây nhất, một nữ sinh Trường THPT Lê Lợi (Hà Đông, Hà

Nội) đã bị đình chỉ học 10 ngày vì nói xấu giáo viên trên Facebook.

Đấy là lý do vì sao, một số trường đã đưa những điều cấm kỵ với học sinh

khi sử dụng mạng xã hội. (Hạn chế học sinh sử dụng Facebook để ngăn ngừa

“loạn ngôn” DT, 05/11/2015, PL18). Từ vụ việc nguyên cớ ban đầu, bài báo tiếp

tục chủ đề với những chia sẻ của lãnh đạo một số trường về vấn đề học sinh và

Facebook. PGS Văn Như Cương (Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường THPT dân lập

Lương Thế Vinh, Hà Nội), thầy Vũ Trọng Lâm (Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn

Đức Cảnh) đã đưa ra các ý kiến bàn luận để phát triển chủ đề trong bài báo.

(7) “Em nghĩ chỉ nên hạn chế thôi chứ không cấm. Sở dĩ em đồng tình với quan điểm

này bởi em có khá nhiều bạn chỉ chúi đầu vào Facebook, gần như không giao tiếp

với các bạn trong lớp. Các bạn ấy dường như không “tồn tại” trong lớp mà chỉ làm

bạn với Facebook…” Đó là chia sẻ của học sinh khi nói về việc sử dụng Facebook

hiện nay của học sinh. (Nhiều học sinh dường như không “tồn tại” trong lớp vì

Facebook DT, 08/11/2015, PL18). Bài báo đưa ra nhiều chia sẻ của các học sinh:

nhiều bạn chỉ chúi đầu vào Facebook, Facebook điều khiển nhiều người như rô-bốt,

nên cấm học sinh sử dụng Facebook nhưng cũng không nên quá gò ép… Đây là



71

những bình luận cụ thể để tiếp tục cho chủ đề đang được triển khai: Hạn chế học

sinh dùng Facebook.

Như vậy, ở một chủ đề mới (được phát triển từ chủ đề cũ), nhà báo lại tiếp

tục thực hiện một sự duy trì chủ đề (cả 3 bài báo dẫn chứng trên đều cùng nói về

vấn đề hạn chế học sinh dùng Facebook). Vì thế, 3 bài báo này không những có mối

liên hệ với các bài báo cũ (ở chủ đề cũ) mà tự thân còn liên hệ mật thiết với nhau (ở

chủ đề mới). Giữa các bài báo này đồng thời có cả sự duy trì và sự phát triển chủ đề.

Từ khảo sát thực tế, chúng tôi rút ra các mô hình duy trì và phát triển chủ đề

ở các chủ đề cụ thể như sau (riêng chủ đề (6) không có sự phát triển chủ đề):

(1) Thạc sĩ, thủ khoa xuất sắc



Thi công chức



trượt công chức Hà Nội

(2) ĐH Tôn Đức Thắng



Tầm của GS, PGS



phong GS, PGS

(3) Đà Nẵng kiện nhân tài



Nhân



tài







trách



nhiệm

(4) Tích hợp môn Lịch sử



Dạy và học Lịch sử



(5) Học sinh nói xấu



Hạn chế học sinh dùng



giáo viên trên Facebook

(7) (Giảng viên nói xấu



Facebook

Du học sinh về nước hay ở lại



Dùng người tài



trường trên Facebook)

Mô hình 2.2: Mô hình duy trì và phát triển chủ đề ở các chủ đề

Trong mô hình 2.1.1.3b trên, chủ đề (7) là chủ đề có sự phát triển chủ đề

phức tạp nhất.

(7) (Giảng viên nói xấu



Du học sinh về nước hay ở lại



Dùng người tài



trường trên Facebook)

Mô hình trên cho thấy có hai chủ đề mới được phát triển từ chủ đề cũ:

1- Từ vụ việc giảng viên TS Doãn Minh Đăng nói xấu trường trên Facebook

- chủ đề mới: du học sinh nên về nước hay ở lại nước ngoài làm việc?

2- Từ chủ đề: Du học sinh nên về nước hay ở lại? - chủ đề mới: dùng người tài.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TƯƠNG TÁC CỦA THỂ PHÁT TRONG DIỄN NGÔN BÁO ĐIỆN TỬ

Tải bản đầy đủ ngay(169 tr)

×