Tải bản đầy đủ - 169 (trang)
Tính tương tác trong giao tiếp được thể hiện nổi bật ở tương tác trong hội thoại bởi hội thoại là “hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [12; 201]. Hội thoại là sự tương tác bằ

Tính tương tác trong giao tiếp được thể hiện nổi bật ở tương tác trong hội thoại bởi hội thoại là “hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [12; 201]. Hội thoại là sự tương tác bằ

Tải bản đầy đủ - 169trang

37

Hội thoại được diễn ra trước hết với hoạt động trao lời. Đó là hoạt động

người phát Sp1 tạo ra diễn ngôn và hướng diễn ngôn của mình đến người nhận Sp2

theo mô hình:

Sp1



Diễn ngôn



Sp2



Mô hình 1.3: Mô hình hoạt động trao lời

Trong hội thoại không chỉ có hoạt động trao lời một chiều mà còn có hoạt động

đáp lời. Đó là hoạt động người nhận chuyển thành vai người phát đáp lại lời trao, theo

mô hình: [16; 546]

Sp1



Diễn ngôn Sp1



Sp2



Diễn ngôn Sp2

Mô hình 1.4: Mô hình hoạt động đáp lời

Sự thay đổi luân phiên vai người phát - người nhận giữa các nhân vật giao

tiếp làm nên hoạt động trao - đáp trong hội thoại. Cuộc hội thoại được hình thành

khi người nhận đáp lại lời của người phát. Nếu lời trao không có lời đáp thì không

thành cuộc hội thoại.

Trong báo chí, đầu tiên, người phát (Sp1) là nhà báo (đại diện cho tòa soạn

báo) sẽ thực hiện hoạt động trao lời. Nhà báo tạo ra diễn ngôn báo chí và hướng nó

tới người nhận (Sp2) là các độc giả. Sau đó, độc giả đọc báo, thực hiện hoạt động

đáp lời trở lại (phản hồi). Lúc này, độc giả từ vai người nhận đã chuyển thành vai

người phát để đáp lời. Trong hội thoại thông thường, sự thay đổi vai người phát người nhận sẽ diễn ra luân phiên tạo thành nhiều cặp trao - đáp. Chúng tôi nhận

thấy, trong báo chí, các bài báo thuộc thể loại phỏng vấn cũng có rất nhiều cặp trao đáp giữa nhà báo và đối tượng được phỏng vấn. Song ở luận án này, chúng tôi sẽ

chỉ xem xét một cặp trao - đáp lớn bao trùm toàn bộ bài báo. Đó là việc nhà báo

trao lời (thông qua bài báo) và độc giả đáp lời (thông qua phản hồi). Nhà báo trao



38

một lời nhưng nhận được vô số lời đáp của các độc giả. Vì thế, trong báo chí luôn

xảy ra hiện tượng một bài báo với rất nhiều phản hồi.

Trong hoạt động trao - đáp, các nhân vật thông qua diễn ngôn tác động qua lại

lẫn nhau làm thay đổi nhau và làm nên sự tương tác trong hội thoại. Tương tác chính

là tác động chủ yếu trong hội thoại. Đó là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các

nhân vật hội thoại nhằm tạo nên sự điều hòa, nhịp nhàng của cuộc hội thoại, như sử

dụng các tín hiệu hòa phối về lượt lời, các cặp kế cận, các cặp củng cố, sửa chữa…

Từ đó, các thoại nhân ảnh hưởng lẫn nhau, tác động đến cách ứng xử của từng

người trong quá trình hội thoại. Trước khi hội thoại, giữa các thoại nhân có sự khác

biệt (tri thức, tâm lí, tình cảm…). Trong hội thoại và qua hội thoại sự khác biệt mất

dần đi. “Hội thoại là một vũ điệu giữa những nhân vật tương tác.” [dt 11; 219-220]

Sự tương tác trong báo chí, do đó, cũng được tạo thành do sự tác động qua lại

của các nhân vật là nhà báo và độc giả.

Như vậy, tương tác là một vận động tiêu biểu trong hội thoại. Tương tác hội

thoại trong báo chí được thể hiện ở cặp trao - đáp: toà soạn, nhà báo (người phát,

thể phát) - độc giả (người nhận, thể nhận). Các nhân vật này có sự tác động qua lại

với nhau thông qua các diễn ngôn làm nên tính tương tác trong diễn ngôn báo chí.

1.2.3.2. Tương tác trong diễn ngôn

a. Đặc điểm tương tác diễn ngôn

Van Dijk đã đưa ra mệnh đề “Diễn ngôn như một sự tương tác xã hội” đồng

thời chỉ ra các đặc điểm, các yếu tố cần chú ý khi tiến hành phân tích diễn ngôn.

Mệnh đề này cũng là tên một cuốn sách nổi tiếng của ông (Discourse as social

interaction) [103]. Tập đầu của cuốn sách này đã chỉ ra rằng bên cạnh những hướng

phân tích trừu tượng theo cấu trúc, diễn ngôn có thể được nghiên cứu trong phạm vi

của quá trình tri nhận thực tiễn. “Diễn ngôn không nên bị phân tích chỉ như loại hình,

ý nghĩa và như một quá trình của trí óc mà còn như những cấu trúc và cấp bậc phức

tạp của sự tương tác, thực tiễn xã hội và những tính năng của chúng trong ngữ cảnh,

xã hội và văn hóa”. (Discourse should be studied not only as form, meaning and



39

mental process, but also as complex structures and hierarchies of interaction and

social practice and their function in context, society and culture) [103; 6].

Điều này đồng nghĩa với việc chú ý tới hiện tượng mang tính thực tiễn, xã

hội và văn hóa của diễn ngôn. Diễn ngôn được tạo lập và thấu hiểu bởi người sử

dụng ngôn ngữ. “Những người sử dụng ngôn ngữ tham gia diễn ngôn, hoàn thành

những hành động mang tính xã hội và tham gia vào quá trình tương tác xã hội, điển

hình là trong đối thoại và những dạng thức khác của đối thoại.” (Language users

engaging in discourse accomplish social acts and participate in social interaction,

typicially so in conversation and other form of dialogue) [103; 2].

Dijk trong nghiên cứu của mình đã đưa ra quan điểm phổ biến và thừa nhận tính

xã hội của diễn ngôn (discourse to be social): “Diễn ngôn là một loại hình của hành

động và tương tác xã hội” (Discourse is a form of action and interaction) [103; 6].

Theo đó, con đường để tìm hiểu diễn ngôn là “từ cấu trúc và quá trình đến hoạt động

mang tính xã hội trong ngữ cảnh và xã hội” (from structure and process to social

action in context and society) [103; 2].

Vì thế, theo Dijk, khi phân tích diễn ngôn cần chú ý các yếu tố sau:

1- Hành động (action): chúng ta xác định diễn ngôn như hành động nhưng

cụ thể hành động nào và điều gì đã khiến diễn ngôn trở thành một loại hình của

tương tác xã hội? (We have defined discourse as action, but what exactly is action

and what makes discourses a form of social interaction? [103; 6])

2- Ngữ cảnh (context): Những nghiên cứu về diễn ngôn mang tính xã hội

thường nghiên cứu về diễn ngôn trong ngữ cảnh. Nhưng ý niệm về ngữ cảnh không

được nghiên cứu một cách chi tiết như văn bản hay lời nói. (Social discourse analysis

typically studies discourse in context. However, although frequently used, the notion

of context is not always analysed in as much detail as text and talk [103; 7]).

3- Quyền lực (power): Cả ngữ cảnh của hành động và diễn ngôn đều mô tả

người tham gia - những thành phần của những nhóm xã hội khác nhau. Quyền lực là

ý niệm then chốt trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhóm xã hội. Nếu bất

kỳ đặc điểm nào của ngữ cảnh và xã hội tác động đến văn bản và lời nói (và ngược



40

lại) thì đó chính là quyền lực. (Both action and discourse contexts feature

participants who are members of different social groups. Power is a key notion in

the study of group relations in society. If any feature of context and society at large

impinges on text and talk (and vice versa), it is power [103; 7].)

4- Hệ tư tưởng (ideology): Ở một cấp độ khác, những hệ tư tưởng cũng thiết

lập mối liên kết giữa diễn ngôn và xã hội. Hệ tư tưởng là nhân tố tri nhận khác đối

với quyền lực. Nó chi phối cách người sử dụng ngôn ngữ tham gia vào diễn ngôn.

Cùng lúc, diễn ngôn còn cần thiết cho sự tạo lập của hệ tư tưởng.

Để minh chứng về hệ tư tưởng, Dijk đưa ra những phân tích về bài phát biểu

của ngài Rohrabacher (diễn ngôn được đưa ra phân tích rất chi tiết trong tập đầu

cuốn Discourse as social interaction). Trong bài phát biểu này, những hậu quả tiêu

cực của Pháp chế về Quyền công dân được Rohrabacher tô đậm. Đặc biệt là những

ảnh hưởng của nó đối với phụ nữ - đối tượng mà Đảng của ông cam kết bảo vệ.

Đồng thời họ cũng chính là những con người được ông tái hiện như những nạn nhân

khốn khổ của chính sách tự do. Theo Dijk, tất cả những mô tả này đều mang ngụ ý

nên diễn ngôn sẽ mang tính tư tưởng (ideological [103; 33-34] ).

Trong nghiên cứu của mình, Dijk bàn nhiều về hệ tư tưởng của tập thể và

cho rằng những tập thể nhận thức qua các thành viên (groups think through their

members [103; 31]). Các thành viên lại chính là những người tham gia vào diễn

ngôn - những người gắn với văn bản và lời nói. Vì thế, theo cách này, các tập thể

hoạt động thông qua những thành viên của họ. Và ông đi đến kết luận: “Hệ tư

tưởng của người nói trong vai trò như một thành viên của tập thể có thể được

truyền tải qua mọi cấp độ và mọi đặc điểm của diễn ngôn, cũng như của ngữ

cảnh”. (All levels and structural properties of discourse and context may ‘code for’

the ideologies of language users acting as group members) [103; 34].

Như vậy, qua những nghiên cứu của Dijk có thể khẳng định rằng hệ tư tưởng

là một yếu tố cần chú ý khi phân tích diễn ngôn và chỉ ra sự tương tác của diễn

ngôn. Diễn ngôn mang tính tư tưởng và nó được thể hiện thông qua những người



41

tham gia vào diễn ngôn đặc biệt là người nói. Hệ tư tưởng là yếu tố ở cấp độ vĩ mô

bao trùm và chi phối diễn ngôn.

Dưới đây, chúng tôi sẽ đề cập tới các yếu tố còn lại theo trình tự từ vĩ mô đến

vi mô: quyền lực - ngữ cảnh - hành động.

a1. Quyền lực

Từ góc độ tiếp cận ngôn ngữ học, quyền lực không đơn thuần chỉ quyền

thống trị hay áp bức của giai cấp thống trị và bị trị theo cách hiểu truyền thống;

quyền lực tồn tại trong giao tiếp ngôn ngữ một cách khách quan, ngoài ý muốn chủ

quan của con người. Là một một phương tiện giao tiếp, ngôn ngữ vừa là công cụ

truyền tải những quan hệ quyền lực; vừa chịu sự chi phối, điều chỉnh của quyền lực.

“Quyền lực là sự kiểm soát hành động, điều mà đòi hỏi sự kiểm soát đối với

ý thức của cá nhân hay cộng đồng và ẩn sau đó là sự kiểm soát đối với những diễn

ngôn cộng đồng”. (Power is control of action, which requires control of personal

and social cognitions, which presupoposes control of public discourse”) [103; 22].

Một trong những luận điểm nổi tiếng của M. Foucault (1926 - 1984) về

quyền lực và ngôn ngữ là “Quyền lực xuyên thấm vào điều khiển cách tư duy và

cách nói năng giao tiếp của con người”. Đối với ông, quyền lực không đơn thuần là

sự cưỡng bức hay ngăn trở tự do hay ý nguyện của người khác mà còn là “điều kiện

tạo thành tất cả mọi lời nói” và “diễn ngôn có thể vừa là một công cụ, vừa là hệ quả

của quyền lực” [dt 4; 40]. Như vậy, tư tưởng về quyền lực là một trong những tư

tưởng chủ đạo tạo nên mối quan hệ giữa diễn ngôn và xã hội. Nói cách khác, muốn

hiểu về các chức năng cơ bản của diễn ngôn trong tương tác và xã hội thì nhận thức

sâu sắc về nguồn gốc của quyền lực của diễn ngôn là cần thiết.

Nhận thức về quyền lực là rất rộng, ở đây chúng tôi chỉ chỉ ra các cách thức

mà diễn ngôn liên quan tới quyền lực. Theo Dijk, tư tưởng chủ đạo dùng để xác định

quyền lực xã hội chính là tư tưởng về sự kiểm soát hành vi và lí trí (control of action

and mind). Những quyền lực trong xã hội không đơn thuần mang tính vũ lực mà phần

nhiều lại mang tính tâm lí. Vì thế, thay vì kiểm soát hành vi của người khác một cách

chặt chẽ bằng vũ lực, người ta sẽ kiểm soát lí trí người khác qua những hành động



42

và bằng lời nói. Nói cách khác, “một trong những phương tiện quyết định được dùng

để tác động đến lí trí của người khác và khiến cho họ hành động như những gì ta

mong muốn chính là văn bản và lời nói” (one of the crucial means used to influence

others people’s minds so that they will act as we want is text or talk” [103; 17]. Kết

luận này giúp chúng ta có thể thấy mối quan hệ cơ bản và rõ ràng nhất giữa diễn ngôn

và quyền lực (relationship between power and discourse).

Cụ thể, “diễn ngôn không chỉ là một phương tiện trong sự đảm nhiệm của

quyền lực mà còn cùng lúc là nguồn gốc của quyền lực” (discourse is not only a

means in the enactment of power, as are other actions of the powerful, but at the

same time itself a power resource) [103; 20]. Quyền lực kiểm soát quá trình hình

thành diễn ngôn đồng thời diễn ngôn thể hiện sự kiểm soát của quyền lực.

Điều đặc biệt là sự kiểm soát này hoàn toàn không có sự ép buộc, thay vì các

mệnh lệnh, yêu cầu, gợi ý hay lời khuyên trực tiếp; chúng ta có thể gián tiếp khiến

người khác tự tạo lập hành vi mà chúng ta muốn thông qua các diễn ngôn. Nói như

Dijk thì “nếu diễn ngôn của chúng ta có thể khiến họ tin tưởng theo cách như vậy

và chúng ta có thể hoàn toàn gián tiếp kiểm soát hành động của họ thì chúng ta đã

thao túng họ hoàn toàn bằng lời nói và văn bản” (if our discourse can make people

belive in this way and we thus indirectly control their actions such that they are in

our best interest, we have successfully manipulated them through text and talk)

[103; 19]. Sự thao túng này chính là quyền lực của diễn ngôn. Quyền lực thể hiện ở

việc kiểm soát hành động của những đối tượng khác qua việc dùng diễn ngôn kiểm

soát lí trí của họ (về mặt kiến thức, thái độ, hệ tư tưởng).

Vì thế, một trong những điều quan trọng nhất của phân tích diễn ngôn chính

là chỉ ra quyền lực được thể hiện qua và bằng các diễn ngôn như thế nào? Trên cơ

sở nào, người tạo lập diễn ngôn được nói như vậy và việc nói như vậy có tác động

đến các đối tượng nào? Sự tác động dẫn đến sự thay đổi như thế nào trong nhận

thức, hành động? Và tất cả những điều đó được biểu hiện bằng các phương tiện

ngôn ngữ như thế nào?



43

Mối quan hệ giữa diễn ngôn, lí trí và quyền lực đang được sử dụng rộng rãi

trong những văn bản và lời nói đại chúng, rất tiêu biểu là ở lĩnh vực báo chí. Diễn

ngôn báo chí mang đậm tính chính trị - xã hội và quyền lực. Ở đây, quyền lực của

diễn ngôn được thể hiện trước hết ở vai của nhà báo. Nhà báo là người được quyền

nói tất cả những vấn đề về xã hội. Và việc nhà báo nói như vậy luôn có tác động

đến tất cả đối tượng độc giả đọc bài báo đó.

Quyền lực của diễn ngôn (bao gồm sự tác động và làm cho một đối tượng

nào đó có sự biến đổi) chính là biểu hiện cho tính tương tác của diễn ngôn báo chí.

Có thể nói, tính tương tác của diễn ngôn được thể hiện gốc rễ ở vấn đề quyền lực

của diễn ngôn.

Song để có thể kiểm soát lí trí của người khác qua diễn ngôn, quyền lực cần

thiết phải kiểm soát những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến người đó. Những kiểm

soát này được thể hiện trong các ngữ cảnh.

a2. Ngữ cảnh

Từ điển The Encyclopedia of Language and Linguistics định nghĩa: “Ngữ

cảnh là bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài

ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [dt 10; 97]. Cụ thể, tập hợp các

nhân tố: nhân vật giao tiếp, hiện thực được nói tới, hoàn cảnh giao tiếp và môi

trường giao tiếp được gọi chung là ngữ cảnh.

Ngữ cảnh là một khái niệm quan trọng trong lí luận phân tích diễn ngôn. Bản

chất của phân tích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ trong ngữ cảnh cụ thể của chúng

và do đó, yếu tố quan trọng trong giải mã diễn ngôn là ngữ cảnh. I. Bellert, 1971 đã

đưa ra khái niệm: “Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn S 1,… Sn, trong đó

việc giải thuyết nghĩa của mỗi phát ngôn Si (với 2 ≤ i ≤ n) lệ thuộc vào sự giải thuyết

những phát ngôn trong chuỗi S1, …, Si-1. Nói cách khác, sự giải thuyết thỏa đáng một

phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết ngữ cảnh đi trước” [dt 10; 199]. Khái

niệm này nhấn mạnh vai trò của ngữ cảnh.

Trong những nghiên cứu về diễn ngôn như hành động và tương tác, ngữ cảnh

đóng vai trò then chốt. Ranh giới lớn nhất giữa những phân tích về diễn ngôn mang



44

tính trừu tượng và những phân tích về diễn ngôn mang tính xã hội chính là những

phân tích mang tính xã hội có kể đến ngữ cảnh. Trong những nghiên cứu về diễn

ngôn mang tính xã hội xác định, diễn ngôn được mô tả đặt trong một địa điểm hay

trong một bối cảnh xã hội.

“Diễn ngôn biểu thị hay bộc lộ cùng lúc hình thái và những đặc điểm liên quan

của ngữ cảnh văn hóa xã hội, cái được gọi là ngữ cảnh” (Discourse manifests or

expresses, and at the same time shapes, the many relavant properties of sociocultural

situation we call its context) [103; 4]. Một cách cảm tính, khái niệm ngữ cảnh thường

gợi ra môi trường hay tình huống mà sự kiện, hành động hay diễn ngôn xảy ra. Nó có

thể tạm thời được xác định bao gồm các yếu tố như: người tham gia, vai trò của họ,

mục đích và đặc điểm của bối cảnh: không gian, thời gian, địa điểm. Diễn ngôn được

tạo nên, hiểu và phân tích dựa trên các đặc điểm đó của ngữ cảnh.

Song “Những phân tích về ngữ cảnh có thể phức tạp như chính những phân

tích về diễn ngôn” (context analysis may be as complex as discourse analysis itself)

[103; 14]. Trong khi cấu trúc của một cuộc đối thoại thường nhật giữa những người

bạn có thể được kiểm soát bởi một số ít những dữ liệu về ngữ cảnh (như hoàn cảnh,

hiểu biết, vai xã hội - bạn bè) thì những bản tin, những cuộc tranh luận nghị viện hay

những tương tác trong phòng xử án có thể được nghiên cứu trong mối liên hệ với

những điều kiện và kết quả mang tính xã hội, chính trị và văn hóa phức tạp. Vì thế,

“nhà phân tích diễn ngôn làm việc trong thế giới thực phải có khả năng rút ra, xem

như là tương thích, chỉ những phẩm chất của các đặc tính ngữ cảnh tương thích với

hành vi giao tiếp cụ thể mà anh ta đang mô tả, và những phẩm chất của các đặc tính

ngữ cảnh hỗ trợ cho việc giải thuyết phát ngôn (hay ý nghĩa theo dự định)” [9; 99].

Gillian Brown, George Yule trong Phân tích diễn ngôn đã chỉ ra phương thức

để giải mã diễn ngôn là gắn với ngữ cảnh cụ thể và “phép luận suy” để tìm ra cái

được nói đến trong diễn ngôn. Phép luận suy giúp người đọc/người nghe không

nhất thiết phải chú ý đến mọi đặc điểm của ngữ cảnh mà chỉ chú ý đến những đặc

điểm cần thiết và tương thích trong các tình huống tương tự ở quá khứ để giải mã

diễn ngôn. Để giải mã thành công diễn ngôn, nhà phân tích cũng cần đến nguyên lý



45

“giải thuyết” cục bộ. Nguyên lý “giải thuyết cục bộ” cho phép người nghe “không

nên xây dựng một ngữ cảnh lớn hơn cần thiết để bảo đảm một giải thuyết” [9; 102].

Hơn nữa, không phải tất cả các đặc điểm của một bối cảnh xã hội đều nằm

trong ngữ cảnh của diễn ngôn. Do đó, “tùy thuộc vào bối cảnh về mặt lý thuyết,

chúng ta có thể giới hạn sự xác định của ngữ cảnh trong số ít những đặc điểm liên

quan rõ ràng như người tham gia, khung cảnh hay những hành động khác.”

(Depending on our theoretical perspective, we may limit the definition of context to a

small number of immediately relavant features of participants, settings and other acts

[103; 14]). Trong đó, phải khẳng định rằng những người tham gia (các nhân vật

giao tiếp) là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong ngữ

cảnh. “Về tính chất mà nói thì họ (người nói, người nghe và đối thể được chỉ định)

được phú cho vô vàn các đặc tính vật chất và xã hội, mà bất cứ đặc tính nào trong đó

cũng có thể là phẩm chất tương thích cho một hành vi giao tiếp cụ thể” [48; 99]. Do

đó, vai trò của nhân tố nhân vật giao tiếp là vô cùng quan trọng.

Một ví dụ của Nguyễn Hòa [48; 36] về đầu đề diễn ngôn tin “THE

UNFINISHED WAR” xuất hiện đầu năm 2002 trên CNN. Đầu đề tin này không chỉ

nói về một cuộc chiến tranh chưa kết thúc. Hàm ngôn của nó rất mạnh mẽ nếu

người nghe/người đọc nhớ về cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Phần lớn các

phương tiện thông tin đại chúng và nhiều nhà chính trị của phương Tây vào những

năm sau khi kết thúc cuộc chiến tranh vùng Vịnh đều phê phán Tổng thống Mĩ

G.Bush (bố) đã không hoàn tất cuộc chiến bằng cách đánh thẳng vào thủ đô của Irắc

để tiêu diệt Tổng thống Sadam Hussein. Và họ cho rằng cuộc chiến tranh vẫn chưa

kết thúc (unfinished). Sử dụng đầu đề này trong bối cảnh Mĩ đánh Afghanistan

chống khủng bố không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên. Bush con không nên lặp

lại sai lầm của Bush bố đã mắc phải: phải đánh đến cùng. Để giải mã diễn ngôn

trong trường hợp này, người nghe cần những hiểu biết tương thích về cuộc chiến

tranh trong quá khứ và hiện tại.

Trong hoạt động báo chí, để độc giả hiểu đúng thông tin, cần thiết và bắt

buộc phải hướng tới sự đồng nhất ngữ cảnh của quá trình tạo lập diễn ngôn (nhà



46

báo) và ngữ cảnh của quá trình tiếp nhận, lĩnh hội diễn ngôn (độc giả). Điều đặc

biệt, nhà báo là người cung cấp thông tin về hoàn cảnh giao tiếp cho độc giả. Mở

đầu các bài báo, các yếu tố về thời gian, không gian, sự kiện cụ thể bao giờ cũng

được đề cập đến đầu tiên. Tính chất đầy đủ, chính xác về hoàn cảnh giao tiếp là yêu

cầu bắt buộc của báo chí.

Người ta thường đề cập đến cấu trúc tin của một văn bản báo chí gồm những

yếu tố quan trọng 5W và 1 H (5W: Ai? (Who?), Cái gì? (What?), Khi nào?

(When?), Ở đâu? (Where?), Tại sao? (Why?) và 1H: Như thế nào? (How?). Câu

chuyện nghề nghiệp của William Caldwell - nhà báo được giải thưởng Pulitzer của

Mĩ đã nhấn mạnh điều này. Ông từng nhắc đến một đoạn dẫn nhập mà ông cho là

hay nhất từ em trai vào năm 1922 khi ông còn là một biên tập viên bình thường của

một tuần báo địa phương. Trên đường về, em trai đã chạy đến đón ông vừa khóc và

nói: “Cha đã chết đuối sáng nay ở hồ George”. Ông phát hiện câu nói của người em

là một lời dẫn nhập hoàn hảo. Trong đó, “danh từ, động từ, vị ngữ, dấu chấm câu và

ai - cái gì - khi nào - ở đâu - cùng khởi động”.

Ngữ cảnh báo chí đặc biệt chính là căn cứ để nhà báo tạo ra các hàm ý. Trên mặt

báo, có những điều không được phép nói, không tiện nói ra hoặc nói thẳng chưa chắc đã

đạt hiệu quả cao bằng những lời nói tế nhị, chứa đựng hàm ý. Ngữ cảnh báo chí khi đó

có thể bộc lộ được những thông tin không công khai trên giấy trắng mực đen.

Nguyễn Đức Dân từng đưa ra những dẫn chứng thú vị về những trường hợp

“ý tại ngôn ngoại” biểu hiện những thông tin chìm của ngôn ngữ báo chí có được do

ngữ cảnh [20]. Bình thường câu “Ngọn lửa đã tắt vì ông X” không có hàm ý gì. Thế

nhưng, trong tình huống thủ tướng Đức G.Schroeder đến đài tưởng niệm các nạn

nhân Do Thái bị phát xít giết hại trong chiến tranh thì lại khác. Trong lễ tưởng niệm,

thủ tướng G.Schroeder định vặn nút điều chỉnh để khơi sáng thêm ngọn lửa trên Đài

tưởng niệm. Loay hoay thế nào, ngọn lửa lại leo lét rồi tắt. Một người thợ phải dùng

quẹt gas mồi lại ngọn lửa. Ngay hôm sau, bản tin của một phóng viên hãng Reuters

với hàng tít “Ngọn lửa Holocaust đã tắt vì ông Schroeder” xuất hiện trên các báo

điện tử khắp thế giới (Tuổi trẻ, 03.11.2000).



47

Nhà báo thậm chí có thể “lợi dụng” ngữ cảnh để tạo ra thông tin theo ý

muốn. Ví dụ của Nguyễn Đức Dân [20]: Một giáo chủ nọ lần đầu đến New York,

nghe nói rất dễ bị các nhà báo gài bẫy nên ông rất thận trọng trong nói năng. Ông

vừa xuống sân bay, một nhà báo tới hỏi: “Cha có định tới dạ hội không?” Giáo chủ

muốn tránh trả lời liền cười hỏi lại: “New York có dạ hội phải không?” Thế là ngày

hôm sau có một tờ báo đăng một tít lớn: “Câu hỏi đầu tiên khi giáo chủ xuống sân

bay là: New York có dạ hội phải không?” Trong trường hợp này, nhà báo có thể viết

như vậy mà giáo chủ không thể bác bỏ được.

Như vậy, ngữ cảnh có vai trò quan trọng trong việc giải mã diễn ngôn. Yếu

tố quan trọng hàng đầu của ngữ cảnh là người tham gia (nhân vật giao tiếp).

a3. Hành động

Khi nói năng chúng ta thực hiện những hành động khác nhau. “Nói là làm”

(how to do things with words) - là nhan đề cuốn sách nổi tiếng của Austin, người

khởi xướng lí thuyết hành động ngôn ngữ. Khi nêu ra điều kiện sử dụng các loại

hành động ngôn từ, Austin đã phát hiện ra nghĩa tương tác xã hội hay nghĩa liên

nhân của phát ngôn đồng thời bước đầu đề cập đến quyền lực của các nhân vật giao

tiếp. Searle sau đó hoàn chỉnh lí thuyết hành động ngôn từ bằng việc phân chia hành

động ngôn từ thành 5 phạm trù lớn với luận điểm: “đơn vị cơ bản của giao tiếp

ngôn ngữ là hành động ngôn từ” [dt 40]. Searle cho rằng hàng loạt những quy tắc

mà hành động của nhân loại phải tuân thủ cũng đồng thời là quy tắc mà hành động

ngôn từ phải tuân theo. Theo thời gian, lí thuyết hành động ngôn từ ngày càng được

nghiên cứu chuyên sâu. “Hành động ngôn từ được nhìn nhận như là đơn vị cơ sở

của diễn ngôn” (Katie Wales, 1989] [dt 83; 54]. Các lí thuyết này cho phép khẳng

định: Diễn ngôn như một hành động (discourse as a action), có diễn ngôn là có

hành động. Cụ thể, diễn ngôn là phương tiện chuyên chở các hành động ngôn từ của

người nói để tác động tới người nghe.



Nói năng nói chung và diễn ngôn nói riêng là một dạng hành động - hành



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tính tương tác trong giao tiếp được thể hiện nổi bật ở tương tác trong hội thoại bởi hội thoại là “hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [12; 201]. Hội thoại là sự tương tác bằ

Tải bản đầy đủ ngay(169 tr)

×