Tải bản đầy đủ - 95 (trang)
1 Giới thiệu về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Chi nhánh NHĐầu tư và Phát triển Bắc An Giang

1 Giới thiệu về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Chi nhánh NHĐầu tư và Phát triển Bắc An Giang

Tải bản đầy đủ - 95trang

30



Qua 53 năm xây dựng và trưởng thành, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt

Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần đắc lực cùng toàn ngành

ngân hàng thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và phát triển kinh tế xã hội của đất

nước. Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của công nghệ và tri thức, với hành trang

là bề dày truyền thống, BIDV tự tin hướng tới những mục tiêu và ước vọng to lớn là

trở thành một Tập đoàn tài chính Ngân hàng có uy tín trong nước, trong khu vực và

vươn ra thế giới.

2.1.1.2 Mô hình tổ chức hoạt động NHBL của BIDV:

* Về quan điểm nhận thức:

Hoạt động NHBL đã được BIDV triển khai từ năm 1995 khi BIDV trở thành

một NHTM đầy đủ. Đây là một hoạt động không mới đối với BIDV, tuy nhiên trong

bối cảnh phát triển và cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng cũng như xu hướng hội

nhập quốc tế cần phải có sự đổi mới trong nhận thức, trong tư duy, trong cách thức

triển khai hoạt động kinh doanh bán lẻ nhằm đưa hoạt động NHBL trở thành hoạt

động kinh doanh nòng cốt của BIDV trong thời gian tới.

Với một nền kinh tế đang phát triển, dân số đông, các dịch vụ ngân hàng đang

trong giai đoạn phát triển, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng cho phát

triển dịch vụ NHBL. Đây là điều kiện thuận lợi để BIDV đẩy mạnh DV NHBL để trở

thành NHTM hiện đại có DV NHBL hàng đầu trong nước, ngang tầm với các NHTM

tiên tiến khu vực Đông Nam Á.

* Mô hình tổ chức bán lẻ hiện tại:

Từ tháng 9/2008, BIDV đã thực hiện việc chuyển đổi về tổ chức và hoạt động

theo TA2 trong toàn hệ thống. Trong đó Trụ sở chính hình thành 07 khối và tại các Chi

nhánh hình thành 05 khối. Theo đó, đối với hoạt động NHBL đã hình thành cơ cấu tổ

chức:

- Trụ sở chính BIDV gồm 03 đơn vị: Ban PTSPBL và Marketing, Trung tâm

thẻ và Ban QLCN có nhiệm vụ chủ yếu là định hướng, xây dựng kế hoạch, thiết kế sản

phẩm bán lẻ, tổ chức triển khai, quản lý, giám sát toàn bộ hoạt động NHBL của toàn

hệ thống BIDV.



31



- Tại các Chi nhánh: Phòng QHKH cá nhân, Phòng GDKH cá nhân và PGD với

nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện marketing, trực tiếp bán dịch vụ NHBL đến các khách

hàng cá nhân, hộ gia đình.

Với mục tiêu trở thành một NHBL hiện đại, BIDV xác định lấy hoạt động

NHBL làm nhiệm vụ trọng tâm, làm mục tiêu hàng đầu trong toàn bộ hoạt động của

ngân hàng. Theo đó, hoạt động NHBL của BIDV trong giai đoạn tới phải có những

biến đổi mạnh mẽ cả về lượng và về chất.

Tầm nhìn đến 2015: BIDV trở thành NHTM hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực

NHBL, ngang hàng với các NHTM tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á; cung cấp các

dịch vụ NHBL đồng bộ, đa dạng, chất lượng tốt nhất phù hợp với các phân đoạn khách

hàng mục tiêu.

Mục tiêu đến 2012: BIDV trở thành NHTM hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực

NHBL, đáp ứng đầy đủ các thông lệ và chuẩn mực quốc tế về hoạt động.

Với tiềm năng của thị trường bán lẻ và sự cạnh tranh về dịch vụ NHBL của các

NHTM tại Việt Nam đã đặt BIDV nói chung và BIDV Chi nhánh Bắc An Giang trước

thách thức không nhỏ, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của mỗi cán bộ BIDV để đạt

được mục tiêu đề ra.

2.1.2 Phân tích thực trạng dịch vụ NHBL của CN NH Đầu tư và Phát triển

Bắc An Giang:

Là một trong những chi nhánh của BIDV, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát

triển Bắc An Giang (tiền thân là CN NH Đầu tư và Phát triển TX Châu Đốc) có quá

trình hình thành và phát triển như sau:

+ Chi nhánh Bắc An Giang được nâng cấp Chi nhánh cấp I trực thuộc Trung

ương từ ngày 01/10/2006 (từ Chi nhánh cấp II trực thuộc Chi nhánh An Giang). Tại

thời điểm này, trụ sở Chi nhánh còn chật hẹp, phòng ốc đã xuống cấp nên phải thuê

thêm 01 căn nhà của tư nhân sát với trụ sở, sửa chữa lại để hoạt động; cơ cấu nhân sự

theo mô hình hiện đại hóa ngân hàng vẫn còn thiếu, chưa tương xứng với tầm vóc của

Chi nhánh cấp I để tìm kiếm và mở rộng khách hàng, thúc đẩy tăng trưởng huy động

vốn, dư nợ cho vay và dịch vụ.



32



+ Trong điều kiện vô cùng khó khăn đó đã tạo động lực to lớn cho mỗi cán bộ

chi nhánh sát cánh cùng với Ban Giám đốc nỗ lực phấn đấu vượt qua trở ngại, từng

bước thực hiện tốt các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh của Chi nhánh.

+ Tháng 10/2008 thực hiện theo mô hình TA2 và không ngừng củng cố mô

hình tổ chức nhân sự theo mô hình hoạt động NHBL để từng bước tách dần tổ QHKH

cá nhân ra khỏi phòng QHKH. Phát triển chất lượng nguồn nhân lực cho hoạt động

bán lẻ, đảm bảo cho cán bộ am hiểu đầy đủ về các nghiệp vụ của ngân hàng như: huy

động vốn, tín dụng, dịch vụ.

Năm 2006 cơ cấu tổ chức hoạt động gồm có:



BAN GIÁM ĐỐC



TỔ HCQT



PHÒNG DVKH



TỔ TTKQ



PHÒNG KHNV



PHÒNG TCKT



PHÒNG TÍN DỤNG



Năm 2008, mô hình được cơ cấu:



BAN GIÁM ĐỐC



TỔ HCQT



PHÒNG

DVKH



PHÒNG

KHTH



TỔ QTTD



PHÒNG

TCKT



TỔ QL&DVKQ



PHÒNG

QHKH



PHÒNG

QLRR



33



+ Về nguồn nhân lực:

Bảng 2.1: Định biên lao động của BIDV CN Bắc An Giang



Chỉ tiêu



Năm 2006



Năm 2007



Năm 2008



Năm 2009



Năm 2010



33



37



44



48



53



Định biên lao động



Nguồn: Báo cáo tổng kết CN NH Đầu tư và Phát triển Bắc An Giang hàng năm



Cùng với mô hình tổ chức thì việc bố trí nhân sự từng bước được cơ cấu, bổ

sung phù hợp với mục tiêu kinh doanh của Chi nhánh. Đến cuối năm 2010, tổng số cán

bộ CNV chính thức tại Chi nhánh là 53 người; số lượng phòng, tổ và số lượng CNV

còn hạn chế trong khi phải thực hiện hoạt động kinh doanh, quản lý, giám sát đầy đủ

như những chi nhánh khác.

+ Trụ sở Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc An Giang tọa lạc tại

19-21 Nguyễn Hữu Cảnh, phường Châu Phú A, TX Châu Đốc, tỉnh An Giang. Phòng

giao dịch Tịnh Biên ở Quốc lộ N1, ấp Xuân Hoà, huyện Tịnh Biên, An Giang.

2.1.2.1 Thực trạng dịch vụ ngân hàng bán lẻ theo dòng sản phẩm:

* Tín dụng bán lẻ:

Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản của BIDV và trong

giai đoạn hiện nay vẫn đóng góp một phần lớn trong tổng thu nhập của Ngân hàng.

Hoạt động tín dụng của BIDV trong những năm 2006 - 2010 đã đạt được những kết

quả đáng khích lệ, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư phát triển. Tổng dư nợ tín dụng năm

2006 đạt 93.453 tỷ đồng, năm 2007 đạt 125.596 tỷ đồng tăng 34% so với năm 2006,

sang năm 2008 tiếp tục tăng khoảng 18,5% và đến 2010 là 250.476 tỷ đồng.

Hòa cùng kế hoạch kinh doanh toàn hệ thống, dư nợ tín dụng của Chi nhánh

Bắc An Giang cũng tăng trưởng qua các năm nhưng với tốc độ không đều, phụ thuộc

nhiều vào tình hình kinh tế thế giới và trong nước. Năm 2006 với tinh thần chuyển đổi

cho vay đa ngành nghề, chọn lọc khách hàng nên Chi nhánh đã có mức tăng trưởng tín

dụng khá tốt (tăng 27% so với năm 2005). Đến năm 2007 mức tăng trưởng này đạt

68.75% so với năm trước, trong đó nợ ngắn hạn chiếm gần 91% và dư nợ bán lẻ chiếm

khoảng 64% trong tổng dư nợ. Kết quả này là minh chứng hùng hồn cho việc Chi

nhánh bám sát mục tiêu của BIDV và phương hướng hoạt động của Chi nhánh, với

phương châm phát huy nội lực, tận dụng ngoại lực, nắm bắt tình hình kinh doanh và



34



nhu cầu của khách hàng để tìm kiếm những dự án mới, nhất là đối với các hộ gia đình,

các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thị xã. Châu Đốc được biết đến là vùng đất

có tiềm năng phát triển, là điểm hẹn du lịch của nhiều du khách gần xa, đang có bước

chuyển dịch cơ cấu kinh tế tích cực theo hướng đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng đa

dạng về sản xuất kinh doanh, xuất khẩu và phục vụ đời sống dân cư. Các mặt hoạt

động xã hội đều có bước phát triển, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện, tình

hình an ninh chính trị, an toàn xã hội được giữ vững là điều kiện tiên quyết thu hút vốn

đầu tư và tạo tâm lý an tâm cho người dân trong sản xuất kinh doanh. Tranh thủ được

sự quan tâm của chính quyền Thị xã, Chi nhánh luôn đồng hành cùng khách hàng ngay

trong những lúc khó khăn nhất nên đã tạo được niềm tin khó lay chuyển được của

khách hàng đối với Chi nhánh trong cuộc chiến giữ vững và mở rộng thị phần tín

dụng.

Bảng 2.2: Tình hình dư nợ của BIDV CN Bắc An Giang 2006-2010



Chỉ tiêu

Dư nợ cho vay cuối

kỳ

Cơ cấu dư nợ

1. Theo kỳ hạn

Ngắn hạn

Trung, dài hạn

2. Theo đối tượng

Cá nhân, HGĐ

Các TCKT

Tỷ trọng dư nợ bán lẻ



Năm

2006



Năm 2007

%

Số dư

thay

đổi



Năm 2008

%

Số dư

thay

đổi



ĐVT: Triệu đồng

Năm 2009

Năm 2010

%

%

Số dư

thay

Số dư

thay

đổi

đổi



103,291



174,305



68.75



268,361



53.96



317,391



18.27



493,000



55.33



103,291

88,514

14,777

103,291

60,159

43,132

58.24%



174,305

158,219

16,086

174,305

111,555

62,750

64.00%



68.75

78.75

8.86

68.75

85.43

45.48



268,361

245,450

22,911

268,361

114,402

153,959

42.63%



53.96

55.13

42.43

53.96

2.55

145.35



317,391

289,657

27,734

317,391

108,120

209,271

34.07%



18.27

18.01

21.05

18.27

-5.49

35.93



493,000

430,440

62,560

493,000

160,000

333,000

32.45%



55.33

48.60

125.57

55.33

47.98

59.12



Nguồn: Báo cáo tổng kết CN NH Đầu tư và Phát triển Bắc An Giang hàng năm



Từ lâu BIDV đã khẳng định vị thế và bề dày kinh nghiệm trong cho vay đầu tư

đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn (bán buôn), hoạt động cho vay bán lẻ

chỉ mới bắt đầu được quan tâm từ vài năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2008 cùng với

việc nhận thức tầm quan trọng của việc phát triển hoạt động kinh doanh ngân hàng bán

lẻ và việc chuyển đổi mô hình tổ chức theo TA2, hoạt động cho vay bán lẻ bước đầu

được quản lý tách bạch với cơ chế và chính sách riêng.

Năm 2008 là năm sôi động của thị trường tiền tệ Việt Nam với những cảnh

chưa từng xảy ra. Người ta ăn ngủ cùng lãi suất, rồng rắn xếp hàng tại các nhà băng

với lãi suất tiết kiệm cao. Với chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính phủ đã tác động



35



mạnh đến khả năng thanh khoản của một số ngân hàng thương mại, tạo ra sức ép tăng

lãi suất huy động, thắt chặt cho vay, lãi suất huy động của các ngân hàng có thời điểm

lên đến mức cao kỷ lục 21%/năm. Ngoài ra tỷ lệ lạm phát cao đã làm cho năng lực sản

xuất kinh doanh và năng lực tài chính doanh nghiệp bị suy giảm nên dư nợ tín dụng

năm 2008 tăng chậm so với năm 2007 (chỉ tăng 53.96%). Do lãi suất cho vay cao nên

nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao, cho vay cá nhân và hộ gia đình chỉ tăng 2.55% so với

năm trước và chiếm 42.63% trong tổng dư nợ.

Bước sang năm 2009 với tình hình ngày càng căng thẳng, nhờ vào các chính

sách quyết liệt và kịp thời của Chính phủ trong việc kích thích sản xuất, ổn định kinh

tế, đảm bảo an sinh xã hội và đặc biệt là nhờ nội lực của doanh nghiệp, mức cầu nội

địa và tiết kiệm của dân cư, kinh tế Việt Nam đã vượt qua giai đoạn suy giảm từ cuối

quý I/2009, dần khắc phục khó khăn và bắt đầu tăng tốc cho chu kỳ phát triển mới.

Thực hiện triển khai có hiệu quả chương trình hỗ trợ lãi suất đối với khách hàng

vay vốn theo các Quyết định 131/2009/QĐ-TTg và 443/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng

Chính phủ, các Thông tư số 02/2009/TT-NHNN và 05/2009/TT-NHNN của Thống

đốc Ngân hàng Nhà nước góp phần bình ổn sản xuất và kích thích tăng trưởng trong

hoạt động sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp, cá nhân là khách hàng vay vốn

của BIDV. Tổng dư nợ thực hiện năm 2009 là 317.391 triệu đồng, không vượt giới

hạn Trung ương giao, tăng 18.27% so với năm 2008, dư nợ bình quân đạt 284 tỷ đồng.

Về cơ cấu tín dụng: Tỷ lệ dư nợ bán lẻ năm 2009 đạt 34%, cao hơn kế hoạch

Trung ương giao (32%), tỷ lệ dư nợ trung dài hạn đạt 8.72% (Trung ương giao <9%),

cho vay có tài sản đảm bảo chiếm 95.5%. Về chất lượng tín dụng: nợ xấu dưới mức

Trung ương cho phép (đạt 0.33%), giảm nhiều so năm 2008 nhờ vào công tác đôn đốc

khách hàng nộp lãi hàng tháng cũng như nợ đến hạn của cán bộ quan hệ khách hàng,

đồng thời có kế hoạch kiểm tra kiểm soát việc gia hạn nợ đúng theo quy định.



36



Tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm tuy có tăng nhưng không đều, xét về số

tuyệt đối thì dư nợ tín dụng đều có tăng. Năm 2009 dù có chính sách kích cầu đầu tư

để chống suy giảm kinh tế nhưng dư nợ tín dụng tăng trưởng thấp là do Chi nhánh bên

cạnh việc mở rộng cho vay nhưng vẫn không quên quan tâm chất lượng tín dụng, chọn

lọc khách hàng, cho vay đúng đối tượng, cảnh giác với các hiện tượng đảo nợ và sử

dụng vốn sai mục đích.



Năm 2010 với sự đóng góp vào dư nợ của PGD Tịnh Biên là 40.7 tỷ đồng, dư

nợ của Chi nhánh đạt 493 tỷ đồng, tăng 55.33% so với năm 2009 (đạt 98.6% kế hoạch

điều chỉnh năm 2010). Dư nợ bình quân đạt 393 tỷ đồng tăng 38.4% so năm 2009,

trong đó dư nợ bán lẻ là 160 tỷ đồng (tăng 47.98% so năm 2009, vượt 8.8% so kế

hoạch Trung ương giao), bình quân là 131 tỷ đồng (tăng 24.8% so năm 2009, vượt 9%

so kế hoạch Trung ương giao).



37



Dư nợ tín dụng tăng trưởng mạnh và được kiểm soát chặt chẽ trong giới hạn

được giao của Hội sở chính, tập trung ưu tiên đáp ứng vốn cho sản xuất và xuất khẩu.

Các chỉ tiêu về chất lượng tín dụng, cơ cấu tín dụng đều đạt và vượt kế hoạch. Tăng

trưởng tín dụng đi đôi với an toàn hiệu quả. Tỷ lệ dư nợ nhóm II và nợ xấu thấp, dư nợ

bán lẻ tăng trưởng kịp thời với tăng trưởng dư nợ tín dụng.

Thực tế cho thấy hiện nay có một số nguyên nhân hạn chế tỷ trọng dư nợ bán lẻ

tại Chi nhánh, chủ yếu là khâu hồ sơ trong quá trình cho khách hàng vay. Các NHTM

CP đơn giản hoá thủ tục vay vốn với các hậu mãi kèm theo đối với các sản phảm bán

chéo, thích hợp với các khách hàng có nhu cầu vốn đột xuất. Trong khi đó Chi nhánh

lại có những bước đi thận trọng trong việc đánh giá năng lực trả nợ của khách hàng,

quan tâm đến việc quản lý rủi ro và xem xét cho vay đối với ngành nghề được ưu tiên

nên chưa đáp ứng được thị hiếu của khách hàng.

* Huy động vốn dân cư:

Nhận thức được tầm quan trọng và đặc tính ổn định, lâu dài của nguồn vốn dân

cư, hoạt động huy động vốn cá nhân luôn được BIDV Bắc An Giang chú trọng với

việc triển khai hàng loạt các sản phẩm tiện ích đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách

hàng như tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm ổ trừng vàng, tiết kiệm dự thưởng, tiết

kiệm tích lũy bảo an…Điều này đã góp phần mang lại kết quả tăng trưởng khả quan

đối với nguồn vốn dân cư giai đoạn 2006-2010.

Bảng 2.3: Tình hình số dư huy động vốn của BIDV CN Bắc An Giang 2006-2010



218,681



Năm 2007

%

Số dư

thay

đổi

263,905 20.68



Năm 2008

%

Số dư

thay

đổi

293,751

11.31



ĐVT: Triệu đồng

Năm 2009

Năm 2010

%

%

Số dư

thay

Số dư

thay

đổi

đổi

271,650

-7.52 326,700

20.27



1. Theo kỳ hạn



218,681



263,905



20.68



293,751



11.31



271,650



-7.52



326,700



20.27



Ngắn hạn



181,053



234,920



29.75



293,040



24.74



270,100



-7.83



323,515



19.78



37,628



28,985



-22.97



711



-97.55



1,550



118.00



3,185



105.48



218,681



263,905



20.68



293,751



11.31



271,650



-7.52



326,700



20.27



72,446



60,811



-16.06



46,915



-22.85



91,490



95.01



170,449



86.30



4,125



3,291



-20.22



15,978



385.51



33,550



109.98



44,000



31.15



142,110



199,803



40.60



230,858



15.54



146,610



-36.49



112,251



-23.44



33.13%



23.04%



Năm

2006



Chỉ tiêu

Huy động vốn cuối kỳ

Cơ cấu huy động vốn



Trung, dài hạn

2. Theo đối tượng

HĐV từ dân cư, hộ GĐ

HĐV từ các TCKT

HĐV từ KH ĐCTC

Tỷ trọng HĐV từ KH

bán lẻ



15.97%



33.68%



Nguồn: Báo cáo tổng kết của Chi nhánh qua các năm



52.17%



38



Qua bảng số liệu cho thấy số dư huy động vốn cuối kỳ có sự tăng trưởng qua

các năm nhưng không ổn định, còn phụ thuộc nhiều vào tiền gửi của khách hàng là

định chế tài chính và một nhóm khách hàng là dân cư. Tỷ trọng huy động vốn của Chi

nhánh tập trung lớn ở tầng lớp dân cư, đây là đối tượng khách hàng thuộc chiến lược

phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng (chiếm tỷ trọng 52.17% năm 2010).

Số dư huy động vốn năm 2007 tăng 20.68% so với năm 2006, trong đó nguồn vốn

ngắn hạn thì tăng 29.75%, nguồn vốn trung dài hạn giảm 22.97%. Điều này diễn ra

không phải ngẫu nhiên mà xuất phát từ việc thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam. Năm 2007 chỉ số giá cả tăng lên đến mức kỷ lục 12.63%, có hàng

loạt nguyên nhân dẫn đến tăng giá nhưng lạm phát năm 2007 có nguyên nhân chính từ

nguồn cung tiền tệ quá lớn. Theo các chuyên gia về thị trường giá cả Việt Nam, năm

2007 có tốc độ phát triển kinh tế chưa đạt đến mức 8.5% như kỳ vọng, trong khi đó chỉ

số giá cả đã vượt quá xa mục tiêu kiềm chế. Mặc dù tốc độ tăng giá chưa đến mức là

một “thảm họa” đối với một nền kinh tế đang phát triển nhanh như Việt Nam, song lại

là một tín hiệu không tốt cho đời sống người dân và nền kinh tế. Chi nhánh Bắc An

Giang luôn chú trọng tiếp thị, hướng khách hàng vào sản phẩm tiền gửi trung dài hạn

đảm bảo tạo lập nguồn vốn ổn định, lâu dài; tuy nhiên dưới sự tác động của giá cả và

chính sách kiềm chế lạm phát nên khách hàng luôn chọn sản phẩm tiền gửi ngắn hạn,

do đó số dư tiền gửi ngắn hạn vào cuối năm 2007 tăng mạnh.

Năm 2007, lãi suất cơ bản ổn định ở mức 8.25%/năm. Sang năm 2008, NHNN

thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nới lỏng siêu linh hoạt thể hiện qua 5 lần điều

chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc, 3 lần nới lỏng biên độ tỷ

giá, 2 lần tăng mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng và số lần điều chỉnh LSCB lên tới

8 lần đã đưa LSCB từ 8.25%/năm lên đến 14%/năm và sau đó giảm xuống còn

8.5%/năm.

Cùng với việc NHNN điều chỉnh linh hoạt LSCB là giảm cung tiền nhằm kiểm

soát tăng trưởng tín dụng, kiểm soát CPI. Trong tình hình đó, hệ thống NHTM phải

đối mặt với khó khăn thanh khoản kéo dài hơn 6 tháng đầu năm 2008, sau đó lại

chuyển sang dư thừa vốn khả dụng trong 4 tháng cuối năm nhưng lúc đó nền kinh tế

cũng đã bắt đầu có dấu hiệu suy thoái. Cụ thể bảng số liệu cho thấy số dư tiền gửi ngắn

hạn tăng 24.74%, kỳ hạn trung dài hạn giảm 97.55% so với năm 2007; trong khi đó



39



tiền gửi của dân cư lại không ổn định, giảm 22.85% do khách hàng rút trước hạn để

gửi Ngân hàng khác khi lãi suất thay đổi liên tục, tỷ trọng tiền gửi dân cư năm 2008

chỉ chiếm 15.97% trong tổng nguồn vốn. Trong tình hình này nếu Chi nhánh không

cân đối được nguồn vốn thì sẽ dễ dàng phải đối mặt với rủi ro lãi suất, ảnh hưởng

không nhỏ đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.

Sang năm 2009, để chặn đà suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, NHNN thực

hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, cắt giảm liên tục lãi suất cơ bản từ 14% xuống còn

7%/năm, đồng thời Chính phủ thực hiện gói chính sách kích cầu hỗ trợ lãi suất. Nhu

cầu tín dụng tăng mạnh trong khi tăng trưởng nguồn vốn hạn chế do cạnh tranh chia sẻ

thị phần trong huy động vốn khiến các ngân hàng đối mặt khó khăn thanh khoản. Năm

2009 số dư huy động cuối kỳ giảm 7.52% so năm 2008, khách hàng gửi các kỳ hạn dài

cũng thay đổi kỳ hạn gửi ngắn hơn vì họ kỳ vọng rằng lãi suất trong ít tháng nữa sẽ

khởi sắc trở lại. Trong năm này, với chính sách khách hàng linh động và hấp dẫn, số

dư huy động vốn từ khách hàng bán lẻ đã được tăng lên 95.01% so với năm 2008.



Năm 2010 được dự báo có nhiều khả năng NHNN sẽ thực thi chính sách tiền tệ

tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng đồng thời kiềm chế khả năng lạm phát quay trở lại. Lãi

suất cơ bản được giữ nguyên ở mức 8%/năm từ 01/12/2009 đên 01/11/2010, sau đó

tăng lên 9%/năm từ 05/11/2010. Như vậy lãi suất cơ bản đã được điều chỉnh sau gần

một năm giữ ổn định ở mức 8% cho thấy đây là dấu hiệu của việc thắt chặt tiền tệ

trong thời điểm cuối năm của NHNN. Theo ông Lê Đức Thúy, trước đây Chính phủ



40



đặt vấn đề các NHTM phải giảm lãi suất nhưng đến nay tình hình đã thay đổi, nếu duy

trì lãi suất VND càng thấp thì đồng USD lại càng có giá hơn so với VND. Vì vậy

thường trực Chính phủ để các NHTM tự điều chỉnh theo lãi suất thị trường. Tốc độ

tăng trưởng nguồn vốn năm 2010 là 20.27% so với năm 2009 điều này cho thấy một

phần nền kinh tế đã dần được hồi phục và việc tăng lãi suất cơ bản vào cuối năm 2010

đã góp phần không nhỏ trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội. Lãi suất tăng

cao nên một số khách hàng có nhu cầu gửi các kỳ hạn trung dài hạn vì họ e ngại rủi ro

về giá (tăng 105.48%), tiền gửi thanh toán của khách hàng định chế tài chính giảm

23.44% trong khi tiền gửi dân cư vẫn duy trì mức tăng trưởng cao 86.3% so với năm

trước. Lãi suất tăng lên đã diễn ra viễn cảnh chạy đua lãi suất ngầm giữa các ngân

hàng để giành giật thị phần huy động vốn, khách hàng có cảm giác không an tâm về

khả năng sinh lợi tối ưu của nguồn vốn nhàn rỗi của mình, đe dọa khả năng thanh

khoản của ngân hàng, cụ thể nguồn vốn ngắn hạn của Chi nhánh ở mức cao (323 tỷ

đồng tăng 19.78% so năm 2009).

Theo quyết định 1317/QĐ-NHNN ngày 10/6/2008, các ngân hàng không được

phép huy động, cho vay vượt 150% lãi suất cơ bản do NHNN ban hành từng thời kỳ.

Từ đây cho thấy nếu ngân hàng nào càng huy động sát với mức quy định nói trên có

nghĩa là các ngân hàng đó đang trên bờ vực thiếu hụt khả năng thanh toán. Tuy nhiên

phần lớn các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất huy động để giữ thị phần. Mức lãi suất

huy động vốn của Chi nhánh Bắc An Giang thời điểm hiện tại vẫn thấp hơn các

NHTMCP trên địa bàn nhưng nguồn vốn huy động vẫn đảm bảo tăng trưởng tốt do lãi

suất huy động các kỳ hạn ngắn của Chi nhánh luôn đảm bảo tính cạnh tranh với các

NHTM CP để giữ nền khách hàng cũ và thu hút thêm khách hàng, khả năng tư vấn và

chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên giao dịch. Chi nhánh luôn quán triệt tư

tưởng của cán bộ nhân viên trong việc xem trọng công tác huy động vốn, đa dạng hóa

các hình thức huy động vốn để phục vụ tốt cho hoạt động kinh doanh của Chi nhánh.

Hàng năm Chi nhánh có tổ chức hội nghị khách hàng để tổng kết, lắng nghe ý kiến

phản hồi từ phía khách hàng, định kỳ 6 tháng có phát phiếu thăm dò ý kiến khách

hàng, đo lường sự hài lòng khách hàng để cải tiến quy trình nghiệp vụ, để tìm hiểu và

khắc phục các hạn chế mà khách hàng phản ánh, từ đó có thể phục vụ khách hàng tốt

hơn làm cho khách hàng gắn bó với Chi nhánh hơn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Giới thiệu về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Chi nhánh NHĐầu tư và Phát triển Bắc An Giang

Tải bản đầy đủ ngay(95 tr)

×