Tải bản đầy đủ - 59 (trang)
Chương 3: Thảo luận và gợi ý chính sách

Chương 3: Thảo luận và gợi ý chính sách

Tải bản đầy đủ - 59trang

35



khẩu. Tuy nhiên phương thức mua tạm trữ không phát huy năng lực bình

ổn giá triệt để (bình ổn 1 phía), thiếu tính linh hoạt. Đồng thời Chính phủ,

Hiệp hội lương thực thiếu thông tin về thị trường càng làm giảm năng lực,

hiệu quả của các chính sách điều hành bình ổn giá gạo trong nước, nhất là

đối phó khi xảy ra khủng hoảng lương thực.

3.2 Đề xuất giải pháp

3.2.1 Kế hoạch tồn kho đệm

Tính mùa vụ là biểu hiện đặc trưng của các sản phẩm nông sản, đặc biệt là

các sản phẩm không thể dự trữ buộc phải tiêu dùng ngay (lập tức phải đưa ra thị

trường ngay sau khi thu hoạch). Đa số các quốc gia đều sử dụng các biện pháp

nhằm ổn định giá nông sản, thông thường nhất là thu mua đưa vào dự trữ khi dôi dư

và bán ra khi thiếu hụt theo giá thị trường được gọi là kế hoạch tồn kho đệm 21 . Kế

F



F



hoạch tồn kho đệm với mục đích cơ bản là làm giảm tính mùa vụ của nông sản, điều

tiết lượng dự trữ để cân bằng cung cầu kể cả trong nước và xuất khẩu. Cụ thể như

Thái Lan, là quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Chính phủ Thái Lan bình ổn

giá trong nước bằng phương thức mua gạo trên giá sản xuất ở các thời điểm thu

hoạch, đảm bảo nông dân trồng lúa có lợi nhuận. Sau đó, gạo được tạm trữ và tiến

hành đấu giá cho các doanh nghiệp xuất khẩu khi có hợp đồng.

Tác động của kế hoạch tồn kho đệm đến giá gạo được mô tả như sau:



21



Tên gọi được sử dụng chính thức trong cuốn Nguyên lý kinh tế nông nghiệp (David Colman và

Trevor Young,1989)



36



P



P



D0



P0



P2

P1



Q0



Q2 Q1



Q



t0



t



t1



Sơ đồ 3.1: Sơ đồ mô tả hiệu quả tác động của kế hoạch tồn kho đệm khi sản

lượng tăng

Khi sản lượng tăng từ Q0 lên Q1 làm giá giảm từ P0 xuống P1. Với lượng dự

trữ ΔQ = Q1 – Q2 làm giá không giảm đến P1 mà chỉ giảm đến P2 < P1. Nếu lượng

dự trữ ΔQ = Q1 – Q0 thì giá vẫn giữ ở mức không đổi là P0.

P



P

D0



P1



P2

P0



Q1



S Q0



Q



t1



t



t0



Sơ đồ 3.2: Sơ đồ mô tả tác động của kế hoạch tồn kho đệm khi sản lượng giảm

Ngược lại, khi sản lượng giảm từ Q0 xuống Q1 làm giá tăng từ P0 lên P1. Với

sự điều tiết bằng cách bán ra lượng dự trữ ΔQ = Q2 – Q1 làm giá không tăng đến P1

mà chỉ tăng đến P2 < P1. Nếu lượng dự trữ ΔQ = Q1 – Q0 thì giá vẫn giữ ở mức

không đổi là P0.



37



Sơ đồ cho thấy khi xác định được giá P2 (giá định hướng để điều tiết) với

năng lực dự trữ đủ lớn thì phương thức điều tiết bằng tồn kho đệm có khả năng làm

triệt tiêu các biến động của giá gạo nội địa kể cả khi giá lên cao hay xuống thấp.

Thực tế được minh chứng từ trường hợp Thái Lan, kế hoạch tồn kho đệm đã tách

rời thị trường trong nước với các biến động của thế giới, che chắn tốt cho thị trường

tiêu dùng gạo trong nước (Timmer và David Dawe, 2008).

Bên cạnh đó, tác động của phương thức tồn kho đệm không chỉ là giảm ảnh

hưởng của biến thiên sản lượng do thời vụ mà còn làm ổn định giá kỳ vọng. Việc

công bố phương thức tính toán giá điều tiết thị trường 22 làm giá kỳ vọng ổn định,

F



F



người sản xuất có kế hoạch ổn định diện tích canh tác, ổn định sản lượng, duy trì ổn

định trong dài hạn.

Đồng thời thông qua sản lượng tồn kho, Chính phủ phần nào kiểm soát được

thông tin để điều tiết thị trường hiệu quả hơn. Sản lượng cung ứng cho thị trường

trong nước được điều tiết cho phù hợp với tiêu dùng, cũng như xuất khẩu. Khối

lượng dự trữ dôi dư ở được mang đấu giá cho các doanh nghiệp xuất khẩu có tác

dụng phân cách thị trường trong nước với thị trường thế giới, giảm tác động của giá

gạo thế giới đối với thị trường trong nước.

Tuy nhiên, kế hoạch tồn kho đệm không phải là phương thuốc thần kỳ để

bình ổn giá gạo trong tình hình thực tế ở Việt Nam. Nó cũng có các thách thức để

khởi động cũng như các rủi ro khi vận hành.

3.2.2 Tính khả thi của phương thức tồn kho đệm

Rủi ro khởi động

Điều kiện đầu tiên để thực hiện dự án tồn kho đệm là từ cơ sở hạ tầng (kho,

bãi lưu trữ bảo quản dài ngày). Theo thống kê của VFA, tổng năng lực kho bãi dự

trữ của cả nước thấp, tương đương 2 triệu tấn gạo, chỉ đạt 50% lượng xuất khẩu, chỉ

22



Đối với các chương trình, đề án cho một ngành hàng cụ thể, chính sách cần công khai, ổn định,

thì không chịu sự hạn chế bởi các quy định của WTO (Báo cáo tổng hợp nghiên cứu “Phân tích

chính sách Nông nghiệp Việt Nam trong khuôn khổ WTO” của chương trình hỗ trợ quốc tế, Bộ

Nông nghiệp và phát triển Nông thôn năm 2001).



38



đạt 20% vụ Đông Xuân. Trong đó ½ năng lực tập trung ở 2 công ty Lương thực

miền Nam và miền Bắc tương đương 1 triệu tấn gạo. Vậy nếu huy động toàn bộ

năng lực dự trữ ở thời điểm thu hoạch vụ Đông Xuân thì chỉ dự trữ được 1/5 sản

lượng, còn lại 4/5 sẵn sàng cho lưu thông nhưng không có điều kiện dự trữ, dẫn đến

tỷ lệ hao hụt lớn (11%-18% tùy theo địa phương). Người nông dân, hàng xáo,

doanh nghiệp không có điều kiện bảo quản dài ngày tốt càng muốn bán nhanh, giải

phóng lượng lúa, gạo hàng hóa càng làm cho giá giảm sâu. Thống kê của GSO từ

năm 2000 đến nay thể hiện rõ rằng thời điểm thu hoạch vụ Đông Xuân đều là thời

điểm giá gạo (giá thực) trong nước thấp nhất.

Bên cạnh đó, phương thức tồn kho đệm cần phải có nguồn vốn để tiến hành

thu mua ở những thời điểm nguồn cung dồi dào, giá gạo nội địa giảm. Giả sử sự

phát triển năng lực dự trữ ở các doanh nghiệp tư nhân, hàng xáo tương đương sự

phát triển năng lực dự trữ của Chính phủ 23 (thực tế đang có tỷ lệ 1:1), thì để ứng

F



F



phó đủ với sản lượng vụ Đông Xuân, Chính phủ cần xây dựng thêm kho chứa 4

triệu tấn gạo với lượng vốn đầu tư 7.620 tỷ đồng 24 và với nguồn vốn dự trữ tương

F



F



đương 28.000 tỷ đồng (tính theo giá gạo tẻ vụ Đông Xuân 2008 trước khủng hoảng

lương thực). Tổng lượng vốn để vận hành phương thức tồn kho đệm là trên 35.000

tỷ đồng là khá lớn, chiếm gần 2,5% GDP năm 2008. Do đó, để có đủ năng lực dự

trữ của Chính phủ cần phải có thời gian chuẩn bị nguồn vốn, cũng như quyết tâm để

thực hiện.

Rủi ro ngân sách và áp lực chính trị

Rủi ro ngân sách của phương thức này là khi giá thị trường thế giới thấp hơn

cả giá thành sản xuất trong nước hoặc do Chính phủ ấn định quá cao so với giá gạo

thế giới, làm thiệt hại cho ngân sách một khoản để bù lỗ sự chênh lệnh giá. Xem xét

trường hợp của Thái Lan, chỉ riêng trong giai đoạn 2005 - 2009, giá gạo xuất khẩu



23



Một khi Chính phủ tăng dự trữ sẽ chèn ép khu vực ngoài Nhà nước dự trữ, do đó tỷ lệ phát triển

năng lực dự trữ khu vực ngoài Nhà nước sẽ có xu hướng tăng chậm hơn.

24

Là lượng vốn mà Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn năm 2008 tính toán và kêu gọi đầu tư

kho trữ lúa gạo 4 triệu tấn tại Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2009-2010.



39



hầu như thấp hơn giá thành sản xuất trong nước, Chính phủ Thái Lan đã phải chi

tiêu một khoảng lớn để bù đắp, tạo nên tổng thâm hụt xấp xỉ 1 tỷ USD, khi giá thu

mua là 11.800 bath/tấn thóc so với giá thế giới là 9000 bath/tấn. Điều này cho thấy

việc tính toán giá điều tiết giữ vai trò quan trọng khi vận hành. Một mặt giá điều tiết

phải thấp hơn giá thế giới trong hoàn cảnh hiện tại còn lượng dôi dư để xuất khẩu.

Mặt khác, giá điều tiết phải cao hơn giá thành sản xuất để không mâu thuẫn với

chính sách an ninh lương thực. Điều này đặt trách nhiệm nặng nề lên cơ quan điều

hành, xác định giá bình ổn về năng lực dự báo cung cầu trong nước và thế giới, sự

nhạy bén trong điều chỉnh giá (bao gồm chi phí lưu kho, hao hụt, vận tải) theo các

biến động chi phí sản xuất nông nghiệp Việt Nam.

Sự điều hành linh động giá gạo nội địa có nguy cơ bị hạn chế bởi áp lực chính

trị. Giảm giá thu mua sẽ khó khăn hơn tăng giá một khi người nông dân trồng lúa

chiếm đại đa số dân chúng. Vì vậy, người nông dân trồng lúa càng có động cơ mở

rộng diện tích gieo trồng, gia tăng sản lượng làm ngân sách dành cho thu mua ngày

càng lớn hơn. Áp lực chính trị cho việc đảm bảo lợi nhuận cho người nông dân làm

suy giảm mạnh tính hiệu quả kinh tế của ngành hàng lúa, gạo (Timmer và David

Dawe, 2008). Xu hướng tăng chi ngân sách này không chỉ thiệt hại về phương diện

kinh tế, mà còn tiềm ẩn nguy cơ bất ổn xã hội khi Chính phủ không còn đủ năng lực

trợ giá, quyết định thay đổi chính sách 25 .

F



F



Bên cạnh đó, vẫn còn một điểm hạn chế mà bài viết chưa đề cập đến là tổng

lợi ích quốc gia của phương thức tồn kho đệm để bình ổn giá. Lợi ích của bình ổn

giá được đề cập ở phần đầu gồm: lợi ích cho người sản xuất, lợi ích cho đa số người

tiêu dùng trong nước cần thiết phải được lượng hóa để so sánh với chi phí phải bỏ ra

để thực hiện. Bài phân tích này dựa trên giả định chủ quan rằng tổng lợi ích thực

tiễn của phương án tồn kho đệm sẽ lớn hơn không. Tuy nhiên, không có gì chắc

chắn cho điều này (cũng như chưa có luận điểm phản biện hùng hồn nào cho giả

định). Vì vậy, chủ ý tác giả đề cập giải pháp tồn kho đệm như là một ý tưởng để các



25



Trường hợp điển hình đã xảy ra ở Thái Lan và được xem như một trong những nguyên nhân của

các cuộc đấu tranh giữa “phe áo Đỏ” và “phe áo Vàng”.



40



nhà hoạch định chính sách cân nhắc, chọn lựa để giải quyết những thách thức, bất

ổn đối với giá gạo trong nước hơn là chỉ ra một quyết sách duy nhất cho Chính phủ.

Do đó, để thực hiện đề xuất này cần thiết phải mở rộng đề tài theo hướng lượng hóa

các lợi ích quốc gia nhận được làm cơ sở so sánh với chi phí phải sử dụng.

Kết luận chương

Dựa trên lý thuyết về các nguyên lý kinh tế nông nghiệp cũng như từ thực tiễn

của Thái Lan, để khắc phục tính mùa vụ của sản phẩm lúa gạo, Chính phủ cần thiết

sử dụng phương pháp tồn kho đệm. Nguyên lý cơ bản của phương thức tồn kho đệm

là thu mua sản lượng dôi dư khi giá thấp và bán ra lượng dự trữ khi giá cao.

Lượng dự trữ dôi dư sau khi trừ lượng tiêu dùng trong nước được bán cho các

doanh nghiệp để xuất khẩu. Động thái này làm tách rời sự liên thông giữa thị trường

trong nước và thị trường thế giới, đồng thời cũng đảm bảo an ninh lương thực trong

nước. Ở phương diện khác, kế hoạch tồn kho đệm làm giảm biến động giá kỳ vọng,

góp phần ổn định sản lượng, ổn định giá gạo trong nước.

Tuy nhiên, để thực hiện phương thức tồn kho đệm đòi hỏi Chính phủ chi tiêu

lượng vốn lớn để chuẩn bị cơ sở hạ tầng kho bãi dự trữ. Bên cạnh đó, để vận hành

hiệu quả, việc xác định giá mục tiêu để bình ổn trở thành thách thức to lớn một khi

chi phí, giá gạo thế giới liên tục biến động. Giá mục tiêu cơ bản cần phải cao hơn

chi phí sản xuất và phải thấp hơn giá gạo thế giới để không xảy ra rủi ro cho ngân

sách cũng như các áp lực chính trị.

Ở góc độ tổng quát hơn, hạn chế của khuyến nghị này là chưa khẳng định được

tổng lợi ích quốc gia nhận được, do giả định rằng lợi ích nhận được từ phương thức

tồn kho đệm lớn hơn so với chi phí phải bỏ ra. Đề tài có thể mở rộng theo hướng

lượng hóa các lợi ích nhận được để so sánh với chi phí thực hiện, từ cơ sở đó Chính

phủ có quyết sách phù hợp.



41



TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2009). Tác động của biến đổi khí hậu

đến Nông nghiệp, Nông thôn và định hướng của ngành Nông nghiệp và

phát triển Nông thôn, Hà Nội

2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2001). Báo cáo tổng hợp nghiên cứu

“Phân tích chính sách Nông nghiệp Việt Nam trong khuôn khổ WTO”,,

Hà Nội

3. David Colman và Trevor Young (1989). Nguyên lý kinh tế nông nghiệp, Đại học

tổng hợp Manchester

4. Dương Văn Chín (2008). Thực trạng sản xuất và cung ứng giống lúa tại Đồng

bằng Sông Cửu Long, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long.

5. Trần Tiến Khai (2009). Chính sách xuất khẩu lúa gạo Việt Nam và những vấn

đề cần điều chỉnh, Đại học Kinh tế Tp.HCM

6. Chu Tiến Quang (2008). Sản xuất lúa gạo và vấn đề an ninh lương thực ở Việt

Nam, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

7. Đặng Kim Sơn, Phạm Hoàng Ngân (2008). Cung cầu lúa gạo Việt Nam và thế

giới năm 2008 và dự báo đến 2020, Viện nghiên cứu và phát triển chính

sách Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn

8. C.Peter Timmer và David Dawe (2008). Quản lý bình ổn giá lương thực Châu

Á: Nhìn từ góc độ an ninh lương thực vĩ mô.

9. Tổng Cục Thống kê (2008). Niên giám Thống kê 2008, Hà Nội

10. Trung tâm khảo, kiểm nghiệm giống Nam Bộ (2008). Báo cáo đặc tính một số

giống phổ biến tại Đồng bằng Sông Cửu Long, Viện Lúa Đồng bằng sông

Cửu Long

11. Trung tâm thông tin Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2007a). Báo cáo

thường niên ngành hàng lúa gạo Việt Nam 2007 và triển vọng 2008, Hà

Nội



42



12. Trung tâm thông tin Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2007b). Báo cáo

thường niên ngành Nông nghiệp Việt Nam 2007 và triển vọng 2008, Hà

Nội

13. Trung tâm thông tin Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2008). Báo cáo

thị trường gạo: Thị trường gạo thế giới 2009 sau các cuộc đua tăng vụ,

Hà Nội

14. Văn phòng Quốc hội (2008). Tổng hợp thảo luận tại Hội trường ngày

13/11/2008, kỳ họp thứ 4 khóa XII, Hà Nội

15. VFA (2008). Báo cáo hoạt động, Hiệp hội lương thực Việt Nam, Tp. Hồ Chí

Minh

Tiếng Anh

1. Andrew Schmith (1984). Commodity Price Stabilization-The theory and Its

Application, World Bank USA

2. Brian Wright (2009). Speculators, Storage, and the Price of Rice, Gianini

Foundation of Agricultural Economics, University of California

3. C.Peter Timmer (2009). Price Rice formation in the short run and the long run:

the role of Market Structure in Explaining Volatity,

4. Vo Thanh Danh (2007). The role of prices in stimulating Vietnamese rice

economy, Cần Thơ University

5. Lưu Thanh Đức Hải (2005). Rice markets in the MeKong River Delta, VietNam:

A market Integration analysis, Groningen University, Netherlands

6. Lê Cảnh Quang (2008). An empirical study of food demand in Vietnam, Asian

Economic Bulletin

7. Nguyễn Ngọc Quế (2009). Viet Nam rice sector in the age of globalization, Viện

nghiên cứu và phát triển chính sách Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông

thôn

8. Robert C.Guell (2008). Issues in Economics Today: Microeconomics



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3: Thảo luận và gợi ý chính sách

Tải bản đầy đủ ngay(59 tr)

×