Tải bản đầy đủ - 169 (trang)
Xác định nguy cơ tái phát

Xác định nguy cơ tái phát

Tải bản đầy đủ - 169trang

a. Tính nguy cơ khi kiểu di truyền theo định luật Mendel:

Đây là phương pháp đơn giản nhất để tính nguy cơ cho các thành viên trong gia

đình. Ví dụ 2 vợ chồng đều mang dị hợp tử của bệnh di truyền trên nhiễm sắc thể

thường lặn, nguy cơ có con bị bệnh mang cả 2 gien lặn của cha mẹ là ¼ (Hình

50A). Nếu cha mẹ đã có 6 con không bị bệnh thì nguy cơ cho thai kì tiếp theo vẫn

là ¼ (Hình 50B).

1`



?

Hình 49: Tính nguy cơ theo phỏng đoán. Trong gia đình có con bị những rối

loạn đa yếu tố hoặc rối loạn nhiễm sắc thể. Nếu con trước bị hở đốt sống thần

kinh, nguy cơ của con tiếp theo sẽ là 4%. Nếu đã sinh con bị hội chứng Down,

nguy cơ sinh con tiếp theo bị Down là 1%.



b. Tính nguy cơ sử dụng xác suất có điều kiện khi kiểu gien thay đổi

Trong những trường hợp kiểu gien của những thành viên trong gia đình không xác

định được, nguy cơ tái phát sẽ khác nhau tùy vào người đi tham vấn là người có

mang allele bất thường bệnh di truyền hay không. Ví dụ: một phụ nữ muốn biết

nguy cơ sẽ có con bị bệnh u sợi (cystic fibrosis) hay không khi lấy chồng mới vì

con với người chồng trước đã bị bệnh này. Nguy cơ của người chồng tiếp theo có

phải là người lành mang gien bệnh tùy thuộc vào chủng tộc. Ví dụ người da trắng,

xác suất người lành mang gien bệnh là 1/22. Do đó xác suất để 1 người lành mang

gien bệnh đã biết kết hôn với một người không biết kiểu gien có con bị bệnh cystic

fibrosis trong trường hợp này là 1/22 x 1/4 = 1/88 (Hình 51C). Nếu chồng là người

không mang gien bệnh thì nguy cơ sinh con bị bệnh =0. Tuy nhiên trong trường hợp

khác, ví dụ cặp vợ chồng có biết là người mang gien, nhưng chồng không biết và họ

đã có 6 con khỏe mạnh để tính nguy cơ cho con tiếp theo sẽ dựa vào xác xuất có

điều kiện (phân tích Bayesian), phương pháp này sử dụng thông tin từ kiểu gien

trong cây gia hệ để xác định xác suất tương đối, ví dụ trong trường hợp đã sinh 6

con bình thường, nguy cơ sinh con tiếp theo bình thường là 1/476 (Hình 51D).

158



c. Xác định các trường hợp có thể xảy ra

Tính toán nguy cơ sử dụng cách tính xác suất Baye. Đầu tiên liệt kê tất cả kiểu

gien đại diện cho từng cá nhân trong cây gia hệ:

A: II-2 là người mang gien, nhưng người tham vấn thì không

B: II-2 và người tham vấn đều là người mang gien

C: II-2 không phải là người mang gien và người tham vấn cũng vậy.



1/4



A



1/4



6



B

Hình 50: Di truyền theo định luật Mendel



1



2



6



1/88



C



2



1



1/476



D



Hình 51: Cây gia hệ cho thấy di truyền lặn NST thường có các nguy cơ tái phát

khác nhau

Đầu tiên vẽ cây gia hệ (Hình 52), viết xác suất của II-2 xem có phải là người mang

gien hay không. Vấn đề này liên quan đến xác suất trước đó, tùy thuộc vào II-2 có

bị di truyền đột biến từ mẹ hay không (I-1). Bước tiếp theo, viết xác suất của từng

người qua các thế hệ III-1 đến III-4 là những người có bệnh hay không tùy thuộc

vào II-2 là người mang gien hay không. Nếu II-2 là người mang gien trong trường

hợp A và B, cơ hội để III-1 đến III-4 không bị bệnh là ½ cho mỗi con trai và (½)4

cho 4 trường hợp. Trong trường hợp C, vì II-2 không phải là người mang gien nên

tất cả con đều không bị bệnh. Tương tự, tiếp theo viết xác suất của người III-5

159



(người đi tham vấn). Trong trường hợp A, cô không mang đột biến di truyền từ mẹ

với xác suất là ½. Trong trường hợp B, cô mang di truyền đột biến từ mẹ cũng với

xác suất ½. Trong trường hợp C, mẹ cô không mang đột biến và cô cũng sẽ là người

không mang đột biến. Chúng ta nhân xác suất trước đó và xác suất có điều kiện sẽ

được xác suất kết hợp trong các trường hợp A,B,C. Cuối cùng chúng ta xác định

một phân số xác suất kết hợp tổng cộng gọi là xác suất sau trong từng trường hợp.

Trong trường hợp B, xác suất sau của III-5 là người mang gien là:



A



B



B

C



Hình 52: Cây gia hệ tính xác suất theo Baye

Trong trường hợp B, thêm 1 người con sinh ra không bị bệnh, nguy cơ của III-5 là

người mang gien giảm xuống. Tuy nhiên nếu II-2 có con bị bệnh và II-2 là người

mang gien, xác suất của III-5 sẽ là ½. Tương tự nếu III-5 có con bị bệnh, III-5 chắc

chắn là người mang gien.

Khi III-5 đi tham vấn di truyền, cô ấy đã có 4 anh em trai không bị bệnh, sau khi

phân tích được thực hiện sẽ tính toán được nguy cơ III-5 là người mang gien và tính

được nguy cơ III-5 có con đầu tiên bị hemophili A là 1/34 x 1/4.

Ứng dụng di truyền phân tử để xác định nguy cơ tái phát

Nhiều bệnh di truyền có thể phát hiện trực tiếp người mang gien và người bệnh qua

phân tích DNA, cải thiện rất nhiều trong lãnh vực chẩn đoán tiền sản trong một số

160



trường hợp có thể phát hiện chính xác 100%. Có 2 cách xác định nguy cơ chính

bằng phân tích DNA. Phương pháp thứ nhất là phát hiện đột biến trực tiếp trên bệnh

nhân và các thành viên trong gia đình, phương pháp này sử dụng cho các đột biến

hay các gien bệnh đã biết trước. Phương pháp thứ 2 là nghiên cứu liên kết gien dựa

vào các maker xung quanh vùng cần nghiên cứu (flanking marker) đối với các đột

biến không biết trước.

Xác định nguy cơ tái phát theo kinh nghiệm

Tham vấn đối với các rối loạn phức tạp

Nhà tham vấn di truyền có thể gặp nhiều rối loạn không phải do di truyền đơn gien.

Lúc này nhà tham vấn di truyền phải đưa ra các ước tính nguy cơ, các thành phần di

truyền trong một số bệnh như: sứt môi chẻ vòm hầu, bệnh tim bẩm sinh, thoát vị

màng não tủy, bệnh mạch vành…Trong những trường hợp này nguy cơ tái phát của

thế hệ thứ nhất của người bệnh cao hơn trong dân số. Trong trường hợp này nguy

cơ tái phát dựa vào sự ước tính theo kinh nghiệm bằng cách nghiên cứu nhiều gia

đình và quan sát tần suất các rối loạn xảy ra. Nhà tham vấn di truyền phải sử dụng

cách ước tính nguy cơ theo kinh nghiệm cho gia đình đặc biệt. Nguy cơ ước tính

theo kinh nghiệm là một nhóm rối loạn khác nhau có cơ chế di truyền khác nhau.

Trong bất cứ gia đình nào, nguy cơ tái phát có thể cao hơn hay thấp hơn nguy cơ

trung bình. Nguy cơ tái phát theo kinh nghiệm dựa vào bệnh sử để dự đoán nguy cơ

xảy ra trong tương lai, nếu nguy cơ sinh học tiềm ẩn thay đổi theo thời gian, những

dữ liệu trong quá khứ sẽ không chính xác trong tương lai. Các số liệu từ nhóm dân

số đặc biệt do đó dữ liệu từ một nhóm dân chủng tộc, xã hội sẽ không chính xác cho

nhóm người có nguồn gốc khác. Tuy nhiên những số liệu này quan trọng khi bệnh

nhân yêu cầu nhà tham vấn đưa ra ước tính nguy cơ cho những rối loạn di truyền

phức tạp. Ví dụ khiếm khuyết ống thần kinh chiếm khoảng 0.3% trẻ được sinh ra ở

Mĩ, nhưng nếu 1 cặp vợ chồng đã có 1 con bị khiếm khuyết ống thần kinh, nguy cơ

tái phát tăng lên 4%.

Tham vấn di truyền trong các trường hợp đồng huyết thống

Những căp vợ chồng đồng huyết thống cần tham vấn di truyền trước khi có con vì

họ có nguy cơ cao sinh con bị dị tật bẩm sinh. Nếu trong gia đình không có các

bệnh lí di truyền lặn NST thường, chúng ta sử dụng cách xác định nguy cơ theo

kinh nghiệm dựa trên các nghiên cứu về dị tật bẩm sinh của trẻ được sinh ra từ cặp

vợ chồng là anh em thế hệ thứ nhất so với những cặp vợ chồng bình thường.

161



3. Giải quyết nguy cơ tái phát trong gia đình

Một số gia đình có các bệnh di truyền có thể di truyền cho những thế hệ sau. Mặc

dù chẩn đoán tiền sản là phương pháp được đề nghị để tầm soát các bất thường

trước sanh nhưng không phải là phương pháp có thể chẩn đoán được tất cả các rối

loạn di truyền trước. Những phương pháp hiện tại đang được sử dụng:

Các xét nghiệm di truyền (nhiễm sắc thể đồ, sinh hóa, phân tích DNA) trong

một số trường hợp kết hợp với bệnh sử gia đình có thể bảo đảm những người

này không tăng nguy cơ có con bị một số rối loạn di truyền. Tham vấn di

truyền sẽ thực hiện trước và sau khi xét nghiệm.

Trong một số rối loạn, phân tích DNA của phôi trong giai đoạn tiền làm tổ có

thể thực hiện bằng PCR của 1 tế bào phôi lấy từ thụ tinh trong ống nghiệm.

Chẩn đoán tiền sản khi có thai: sinh thiết gai nhau, chọc ối, siêu âm

Thụ tinh nhân tạo (xin trứng hay tinh trùng hay của người khác): phương

pháp được đề nghị đối với người cha mang gien trội trên nhiễm sắc thể

thường; cha có khiếm khuyết trên nhiễm sắc thể X, khiếm khuyết nhiễm sắc

thể nếu mẹ cũng mang các rối loạn tương tự. Thụ tinh nhân tạo cũng sử dụng

trong trường hợp cha mẹ cùng mang các rối loạn nhiễm rối loạn nhiễm sắc

thể lặn.

Ngừa thai chờ đợi phương pháp chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn trong

tương lai.

Triệt sản

Xin con nuôi

4. Khía cạnh tâm lí trong tham vấn di truyền

Bệnh nhân và những người trong gia đình có nguy rối loạn di truyền sẽ có những

biểu hiện tình cảm và căng thẳng khác nhau. Mặc dù đây không phải là lãnh vực

của di truyền nhưng những kiến thức về tâm lí rất quan trọng khi tham vấn cho

bệnh nhân vì bệnh nhân phải đưa ra những quyết định rất quan trọng. Một số người

muốn đối đầu với những vấn đề này và đưa ra quyết định nhưng một số người khác

thì cần phải hỗ trợ thêm của tâm lí để có thể đi đến quyết định.



CÂU HỎI TỰ LƯỢNG GIÁ



162



1. Dự phòng di truyền gồm các biện pháp chính sau, TRỪ MỘT:

A. Tầm soát gien

B. Chẩn đoán tiền sản

C. Chẩn đoán tiền làm tổ

D. Tạo môi trường sống tối ưu

E. Tham vấn di truyền

2. Chỉ định chẩn đoán tiền sản trong các trường hợp sau, TRỪ MỘT:

A. Tiền căn sinh con bị dị tật bẩm sinh

B. Mẹ bị rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể

C. Phát hiện thai dị tật qua siêu âm

D. Xét nghiệm phát hiện cha mẹ bị nhiễm HIV

E. Sảy thai liên tiếp



TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nussbaum et al: Thompson & Thompson's Genetics in Medicine. Saunders; 7th

edition (2007).

Mark I. Evan. Prenatal Diagnosis (2006).

Harold Chen. Atlats of Genetic diagnosis and counseling (2006).



163



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Xác định nguy cơ tái phát

Tải bản đầy đủ ngay(169 tr)

×