Tải bản đầy đủ - 169 (trang)
III. BỆNH LÝ BẤT THƯỜNG SỐ LƯỢNG NST

III. BỆNH LÝ BẤT THƯỜNG SỐ LƯỢNG NST

Tải bản đầy đủ - 169trang

Bệnh nhiễm sắc thể

Với hội chứng trisomy 21 trên lâm sàng, bản chất di truyền có thể thuộc các trường

hợp sau:

Trisomy 21 thuần nhất, chiếm khoảng 90% các trường hợp: bệnh nhân có 3

NST 21. Karyotype cho kết quả 47, XX, + 21 hoặc 47, XY, + 21. NST 21

thừa trong 80% trường hợp có nguồn gốc từ mẹ, 20% có nguồn gốc từ bố;

Trisomy 21 do lặp đoạn liên quan đến phần lớn cánh dài của NST 21;

Trisomy 21 chuyển đoạn (chi tiết trong phần Bất thường cấu trúc NST).

Trong một số ít trường hợp (4% - 6%), các bất thường di truyền kể trên có thể gặp

dạng thể khảm (xuất hiện trong quá trình nguyên phân của hợp tử, chỉ tìm thấy ở

một số cơ quan). Tùy tỷ lệ các tế bào bình thường / các tế bào trisomy 21 mà các

triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân có độ nặng thay đổi.

b. Tần suất

Chiếm tỷ lệ khoảng 1/660 trẻ sơ sinh sống. Tỷ lệ này càng tăng cao khi phân tích

Karyotype ở các thai sẩy.

c. Nguyên nhân

Tuổi mẹ cao là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất, và là lý do chỉ định chẩn

đoán trước sinh;

Tuổi bố: không rõ và có lẽ không có ảnh hưởng gì cả. Một số tài liệu cho

rằng nếu tuổi cha quá lớn thì cũng sinh con bị dị tật bẩm sinh nhưng không

phải hội chứng Down.

Bố mẹ bị nhiễm phóng xạ, viêm gan siêu vi.

Tuổi mẹ



Nguy cơ con mắc hội chứng Trisomy 21



20 - 24



1/1550



25 - 29



1/1000



30-34



1/700



40



1/100



42



1/65



Bảng 1: Nguy cơ sinh con mắc bệnh Trisomy 21 theo tuổi mẹ



d. Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng lâm sàng sau đây có thể được quan sát thấy ở bệnh nhân trisomy

21 ():

Đầu nhỏ, trán hẹp, gáy rộng và phẳng;

36



Bệnh nhiễm sắc thể

Mặt tròn, nét mặt trầm cảm;

Khe mắt xếch, lông mi ngắn và thưa;

Gốc mũi tẹt, môi khô và dày;

Lưỡi dài, dày, nứt nẻ, hay thè ra ngoài;

Tai nhỏ;

Giảm trương lực cơ, dễ đưa đến thoát vị rốn;

Thiểu năng tâm thần, chỉ số thông minh IQ = 25  50;

Cơ quan sinh dục kém phát triển;

Thường kèm theo dị tật bẩm sinh tim và ống tiêu hóa;

Nếp vân da bàn tay có những thay đổi rõ rệt như các đường vân tay mờ, khó

quan sát. Lòng bàn tay có một nếp ngang đơn độc (rãnh khỉ) ở 1 bên hoặc 2 bên

lòng bàn tay (quan sát được ở khoảng 50% các trường hợp);

Ngón tay út ngắn, thường chỉ có 2 đốt và quặp vào trong.

e. Chẩn đoán trước sinh

Xét nghiệm huyết thanh mẹ được thực hiện như công cụ tầm soát đầu tiên, được

chỉ định tùy theo tuổi thai:

Thai 11 - 13 tuần tuổi: xét nghiệm PAPP-A và β-HCG. Có thể phối hợp với

đo mộ mờ da gáy trên siêu âm, để đạt khả năng phát hiện 85%, với khả năng

dương tính giả 5%;

Thai thuộc ba tháng giữa thai kỳ: xét nghiệm AFP, uE3, và β-HCG.

Xét nghiệm di truyền là cần thiết để chẩn đoán. Các xét nghiệm có thể thực hiện là:

Nhiễm sắc thể đồ ()

FISH (Hình 15)

Phân tích SNP (Single Nucleotide Polymorphism)

f.



Tiến triển



Tiên lượng sống phụ thuộc vào tình trạng dị tật tim và ống tiêu hóa kèm theo. Bệnh

nhi dễ nhạy cảm đối với vi khuẩn và bệnh bạch cầu.

Tỷ lệ tử vong chiếm 50% trong vòng 5 năm đầu. Khoảng 8% bệnh nhân sống đến

40 tuổi. Chế độ giáo dục và chăm sóc đặc biệt cho những bệnh nhân trisomy 21 là

cần thiết để tăng chất lượng sống của bệnh nhân và gia đình.



37



Bệnh nhiễm sắc thể



Hình 13: Nét mặt điển hình của bệnh nhân Trisomy 21



Hình 14: Nhiễm sắc thể đồ một trường hợp Trisomy 21

(Nguồn: Khoa Di truyền, BV Hùng Vương, TPHCM)



Hình 15: Hình ảnh FISH một trường hợp Trisomy 21

(Nguồn: Khoa Di truyền, BV Hùng Vương, TPHCM)



38



Bệnh nhiễm sắc thể

2. Trisomy 13 hay Hội chứng Patau

Những biểu hiện dị dạng kiểu Trisomy 13 có lẽ đã được mô tả cách đây 300 năm.

Mãi đến năm 1960, Patau và cộng sự mới xác định có sự sai lệch NST trong hội

chứng này là thừa 1 NST thuộc nhóm D (Patau gọi là D1 Trisomy).

Tuổi thọ trung bình của bệnh nhân trisomy 13 khoảng 90 ngày. Bệnh nhân rất hiếm

khi vượt quá 1 năm tuổi.

a. Nguyên nhân

Cũng phụ thuộc vào tuổi mẹ và các điều kiện môi trường sống.

b. Bản chất di truyền:

80% trường hợp là Trisomy 13 thuần nhất : 47, XX, + 13.

20% trường hợp là Trisomy 13 khảm 46, XX/47, XX, +13 hoặc chuyển đoạn: 46,

XX, -14, + t(13/14), hoặc 46, XX, -21, + t(13/21), hoặc 46, XX, -21, + t(13/21)

c. Tần suất

Ít gặp hơn hội chứng Down, chiếm tỷ lệ 1/7000 trẻ sơ sinh.

Tỷ lệ mắc bệnh theo giới tính Nam : Nữ = 1 : 1



d. Triệu chứng lâm sàng

Trisomy 13 có những dị tật nặng như (Hình 16):

Đầu nhỏ, nhỏ từ phần đỉnh ra phần trán; chiếm 80% trường hợp.

Da có nhiều dị dạng mạch. Cổ ngắn.

Mắt nhỏ hoặc không có mắt (90%), có thể đục giác mạc (30%).

Mũi tẹt và bè; môi trên và hàm ếch bị hở. Sứt môi một bên hoặc hai bên chiếm

từ 70% - 90% trường hợp.

Tai có nhiều dị dạng, vị trí hơi thấp, vành tai ép sát vào da đầu.

Bàn tay, bàn chân thường thừa ngón chiếm 80% trường hợp.

Có nhiều dị dạng ở tim và cơ quan sinh dục.

Trong một số trường hợp, những dị dạng mặt của bệnh nhân có thể lầm với hội

chứng Down không điển hình.



39



Bệnh nhiễm sắc thể



Hình 16: Những dị dạng điển hình trong hội chứng Patau



3. Trisomy 18 hay Hội chứng Edwards

Được Edwards và cộng sự mô tả vào năm 1960.

a. Tần suất

Tỷ lệ 1/4000 - 1/8000 trẻ sơ sinh.

b. Nguyên nhân

Mẹ có công tác liên quan đến tia xạ, mẹ bị nhiễm độc thai nghén trong những tháng

đầu mang thai.

c. Bản chất di truyền

80% trường hợp là Trisomy thuần nhất. Karyotype: 47, XX, +18 hoặc 47, XY,

+18;

10% trường hợp là Trisomy ở dạng khảm. Karyotype:

46, XX/ 47,XX, +18

hoặc 46, XY/ 47,XY, +18;

10% trường hợp là Trisomy kép, ví dụ karyotype: 48, XXY, +18, thường gây

thai lưu.

d. Triệu chứng lâm sàng

Trẻ sơ sinh trisomy 18 có những triệu chứng lâm sàng đặc trưng (Hình 17) mà từ

đó ta có thể hướng đến chẩn đoán như:

40



Bệnh nhiễm sắc thể

Đầu nhỏ, trán hẹp, gáy phẳng và rộng. Tai đóng thấp và dị dạng, không có dái

tai, gờ tai không rõ, các xoắn và đối xoắn ít phát triển.

Hàm dưới kém phát triển: miệng nhỏ hình tam giác.

Bàn tay: cơ nâng ngón kém phát triển do đó các ngón tay thường quặp vào

nhau. Lòng bàn tay có rãnh khỉ giống như trường hợp hội chứng Down.

Dị tật bẩm sinh chủ yếu ở tim, thận, cơ quan sinh dục.

Tổng trạng: trẻ yếu, ít vận động, tâm thần - vận động kém phát triển.

Tuổi thọ trung bình khoảng 2 tháng. Trẻ chết chủ yếu là do biến chứng tim và

nhiễm trùng nặng ở phổi và cơ quan niệu.



Hình 17: Những dị dạng điển hình trong hội chứng Edwards



41



Bệnh nhiễm sắc thể



4. Hội chứng Klinefelter

Được Klinefelter miêu tả vào năm 1942. Trước tuổi dậy thì, thường bệnh nhân chưa

có biểu hiện lâm sàng để phân biệt với các bé trai bình thường. Các triệu chứng

được quan sát rõ ở bệnh nhân trưởng thành.

a. Tần suất

Hội chứng Klinefelter là bệnh lý lệch bội tương đối thường gặp, tỷ lệ từ khoảng

1/1000 đến 1/600 trẻ sơ sinh.

b. Nguyên nhân

Không phân ly trong quá trình giảm phân tạo giao tử của cha hoặc mẹ đều có thể là

nguyên nhân dẩn đến sự hình thành hợp tử 47, XXY (trứng XX kết hợp với tinh

trùng Y, hoặc trứng X kết hợp với tinh trùng XY).

Cũng có trường hợp: Trứng XX kết hợp với tinh trùng XY, Trứng XXXX kết hợp

với tinh trùng Y...

c. Bản chất di truyền

Hội chứng Klinefelter trên lâm sàng có thể tương ứng với karyotype 47, XXY

(Hình 18), hay 48, XXXY, hay thậm chí 49, XXXXY. Trong nhân tế bào của bệnh

nhân quan sát thấy số lượng thể Barr tương ứng với số lượng NST X thừa.



42



Bệnh nhiễm sắc thể

Hình 18: Karyotype một trường hợp Klinefelter 47, XXY

(Nguồn: Karvita B. Ahluwalia. Genetics. New Age International, tái bản lần thứ 2, 2009)



d. Triệu chứng lâm sàng

Cao, tỷ lệ bất thường: tay chân dài, thân ngắn;

Ngực rộng;

Ít lông tóc;

Tinh hoàn nhỏ, dương vật nhỏ;

Kém sinh sản tinh trùng;

Giảm ham muốn tình dục, rối loạn tình dục;

Chậm phát triển tâm thần.

Điều trị hỗ trợ bằng androgens ngoại sinh có thể giúp phát triển thể chất và tâm

thần tương đối bình thường.

Bệnh nhân Klinefelter ở tuổi trưởng thành có tần suất ung thư vú cao hơn so với

nam giới bình thường.

5. Hội chứng Turner

a. Tần suất

Tỷ lệ 1/5.000 trẻ sơ sinh. Hội chứng này quan sát thấy trong khoảng 5% các thai

sẩy.

b. Nguyên nhân

Không phân ly trong quá trình giảm phân tạo giao tử của mẹ tạo thành hai loại giao

tử: thiếu NST X và thừa một NST X. Sự thụ tinh giữa trứng thiếu NST X và tinh

trùng X tạo thành hợp tử 45, XO (Error: Reference source not found).

c. Bản chất di truyền

Hội chứng Turner có karyotype 45, XO. Trong nhân các tế bào của bệnh nhân

Turner không quan sát thấy thể Barr nào.

Đa số các trường hợp bệnh nhân Turner ở thể khảm: 45, XO / 47, XXX, hoặc 45,

XO / 46, XX / 47, XXX.

Nghiên cứu các trường hợp hội chứng Turner đem lại một số kiến thức bổ sung: tuy

có sự bất hoạt một NST X ở người nữ bình thường, nhưng một số gien trên NST X

vẫn hoạt động trên cả hai NST X và cần thiết cho sự phát triển bình thường của

người nữ.

d. Triệu chứng lâm sàng

Biểu hiện giới tính nữ, tuy nhiên thường gặp vô kinh nguyên phát, thiểu sản và

kém chức năng buồng trứng

43



Bệnh nhiễm sắc thể

Tầm vóc thấp

Móng tay mềm, lồi

Nhiều nút ruồi

Cổ rộng, chân tóc thấp

Chân vòng kiềng

Xương bàn tay, xương bàn chân thứ tư ngắn

Điều trị hỗ trợ bằng hormone estrogens giúp bệnh nhân Turner dậy thì và phát triển

tương đối bình thường. Đa số bệnh nhân thích ứng tốt với cuộc sống.



IV.



BẤT THƯỜNG CẤU TRÚC NST

1. Đại cương

Đa số những cá thể mang bất thường cấu trúc NST:

biểu hiện kiểu hình bệnh lý;

tạo thành các giao tử bất thường.

Một số trường hợp bất thường cấu trúc NST được gọi là “cân bằng” không kéo theo

hậu quả về kiểu hình (chuyển đoạn cân bằng, đảo đoạn), nhưng vẫn có khả năng tạo

giao tử bất thường và gây mất cân bằng chất liệu di truyền ở đời con.

2. Nguyên nhân

Tia phóng xạ:

Là một yếu tố gây đột biến đã được đề cập đến rất sớm;

Tần số đột biến tỷ lệ thuận với liều lượng phóng xạ;

Các đột biến NST tăng nhanh ngay sau khi bị phóng xạ, NST lạ được hình

thành (NST hai tâm , NST vòng).

Hoá chất gây đột biến :

Có nhiều hợp chất hoá học có khả năng làm tăng tần số rối loạn NST;

Những hoá chất có tính chất kìm hãm phân bào (một số thuốc chống ung

thư), một số hoá chất vừa có khả năng gây ung thư, vừa có khả năng gây đột

biến NST;

Hoá chất như chì, Benzen, thủy ngân, thuốc trừ sâu, diệt cỏ... cũng gây rối

loạn cấu trúc NST.

Vai trò của Virus:

Nhiều quan sát cho thấy: sau khi mắc bệnh đậu mùa, thủy đậu, rubeola, viêm

gan siêu vi thì số trường hợp NST bất thường tăng lên ở mẫu lympho bào

nuôi cấy.

3. Cơ chế phát sinh bất thường cấu trúc nhiễm sắc tử và nhiễm sắc thể

44



Bệnh nhiễm sắc thể

Tất cả các NST có sai lệch về cấu trúc đều do hậu quả của sự đứt, gãy của NST.

Các đoạn bị đứt gãy hầu hết đều được nối lại và hàn gắn lại theo đúng như cũ, nếu

sự hàn gắn không đúng như cũ thì mới gây nên sự thay đổi về cấu trúc.

Trong chu kỳ tế bào, giai đoạn phân bào chỉ chiếm một khoảng thời gian ngắn, vì

vậy các nhân tố hầu hết tác động ở giai đoạn gian kỳ.

Tùy theo các nhân tố tác động đến NST ở giai đoạn trước hoặc sau khi DNA nhân

đôi mà biểu hiện ở dạng sai lệch kiểu NST hoặc kiểu nhiễm sắc tử (Hình 19).

Trước khi DNA nhân đôi (G1, đầu pha S):  Sai lệch kiểu NST;

Sau khi DNA nhân đôi (S, G2, M)  Sai lệch kiểu nhiễm sắc tử  Sai lệch

kiểu NST (sau 1 chu kỳ tiếp theo).



Hình 19: Phát sinh sai lệch kiểu nhiễm sắc thể và sai lệch kiểu nhiễm sắc tử



4. Các loại sai lệch kiểu nhiễm sắc tử (Hình 20, Hình 21)

Khuyết đơn (gap): Một chỗ nào đó của một nhiễm sắc tử không liên tục do

không bắt màu. Độ lớn của chỗ nhạt thường không lớn hơn đường kính của

nhiễm sắc tử.

Khuyết kép (isogap): Sự không bắt màu này lại xảy ra ở cả 2 nhiễm sắc tử.

Đứt đơn: Một đoạn nhiễm sắc tử bị đứt tách ra xa phần nhiễm sắc tử còn lại, độ

xa của khoảng cách giữa 2 phần thường lớn hơn đường kính của nhiễm sắc tử.

Khuyết kép: Đứt xảy ra ở cả hai nhiễm sắc tử ở vị trí giống nhau.

Chuyển nhiễm sắc tử: Các nhiễm sắc tử của 2 hay nhiều NST bị đứt, các nhiễm

sắc tử bị đứt ghép lại với nhau tạo thành các hình 3 cánh hoặc 4 cánh.



45



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. BỆNH LÝ BẤT THƯỜNG SỐ LƯỢNG NST

Tải bản đầy đủ ngay(169 tr)

×