Tải bản đầy đủ - 47 (trang)
Thứ ba, phân theo kiểu chuyển giao hay chiều sâu của chuyển giao công nghệ.

Thứ ba, phân theo kiểu chuyển giao hay chiều sâu của chuyển giao công nghệ.

Tải bản đầy đủ - 47trang

13



Ngày nay, sự phân công lao động diễn ra mạnh mẽ, xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, áp lực cạnh tranh gia tăng

cùng với sự phát triển không đồng đều giữa các nền kinh tế đã

tạo điều kiện cho hoạt động chuyển giao công nghệ trên

phạm vi toàn cầu. Mặt khác, công nghệ có một thuộc tính

quan trọng là tính sinh thể, tức có giai đoạn phát triển và diệt

vong. Để thu đợc nhiều lợi nhuận, các nhà nghiên cứu, nhà kinh

doanh, các hãng đều muốn kéo dài vòng đời công nghệ. Cùng

với quá trình phát triển khoa học - công nghệ trên thế giới, các

công nghệ cũng phải luôn đợc cải tiến đợc đổi mới. Hơn nữa,

tranh thủ sự đầu t của



nớc ngoài, các quốc gia tận dụng



chuyển giao công nghệ nh một giải pháp hữu hiệu để cải tiến

nền sản xuất trong nớc. Đó là những cơ sở quan trọng của hoạt

động chuyển giao công nghệ trong điều kiện hiện nay.

1.2.4. Vai trò của chuyển giao công nghệ.

Chuyển giao công nghệ có vai trò to lớn đối với nền kinh tế

thế giới nói chung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng.

Chuyển giao công nghệ có lợi cho cả hai bên, bên chuyển giao và

bên nhận chuyển giao. Đối với bên tiếp nhận, họ có đợc công

nghệ mới, có trình độ kĩ thuật cao hơn, trong khi đó lại tiết

kiệm đợc nguồn lực. Đối với bên chuyển giao, họ có thể thu lợi từ

việc chuyển giao công nghệ, kéo dài vòng đời công nghệ, tạo

điều kiện xâm nhập thị trờng nớc ngoài. Ngày nay, trong xu

thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới cùng với trình độ phân



14



công lao động, chuyên môn hoá đã ở tầm chuyên sâu đến từng

chi tiết sản phẩm, hoạt động chuyển giao công nghệ góp phần

thúc đẩy thơng mại quốc tế phát triển, cho phép khai thác lợi

thế so sánh giữa các quốc gia. Mặt khác, nó làm thay đổi cơ

cấu nền kinh tế thế giới theo hớng gia tăng tỉ trọng dịch vụ và

công nghiệp. Công nghệ tạo năng suất lao động cao hơn cùng sự

phong phú về chủng loại sản phẩm, phục vụ cho nhu cầu ngày

càng cao của ngời tiêu dùng. Nó là vũ khí cạnh tranh của các

doanh nghiệp, các nền kinh tế và có vai trò to lớn đối với vấn đề

môi trờng trong quá trình khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên

và quá trình chế tác sử dụng.

1.3. Kinh nghiệm chuyển giao công nghệ của một

số nớc.

1.3.1. Thế nào là một công nghệ thích hợp.

Công nghệ thích hợp là những công nghệ phù hợp với khả

năng và trình độ phát triển của quốc gia trong một thời kì nhất

định, tạo điều kiện khai thác tối đa những lợi thế so sánh của

nền kinh tế trong nớc và đa lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao.

Nh vậy, một công nghệ thích hợp phải thoả mãn đồng thời

3 tiêu chuẩn là: có hiệu quả kinh tế; có hiệu quả xã hội; có tính

thích dụng với trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

trong từng thời kì.

Trong hoạt động chuyển giao công nghệ, đòi hỏi bên tiếp

nhận công nghệ phải nắm vững các thông tin để lựa chọn đ-



15



ợc công nghệ thích hợp theo những tiêu chuẩn nêu trên. Đó là

các thông tin liên quan đến bên cung cấp và bên nhận công

nghệ nh: lịch sử và kinh nghiệm; địa vị hiện tại; chiến lợc và

kế hoạch của doanh nghiệp; các thông tin về mức độ tiên tiến

của công nghệ cũng nh về tình hình công nghệ thế giới. Lựa

chọn công nghệ phải trên cơ sở chủ động tích cực và xuất

phát từ đòi hỏi của bản thân doanh nghiệp và đất nớc.

1.3.2. Kinh nghiệm chuyển giao công nghệ của một

số nớc.

Để bắt đầu quá trình tìm hiểu kinh nghiệm chuyển

giao công nghệ của một số quốc gia tiêu biểu, chúng ta hãy

cùng xem xét biểu đồ sau:



1860



1950



1980



(Biểu đồ: những mô hình đuổi kịp về công nghệ của

Nhật Bản và các nớc đang phát triển ở Châu á, so sánh với các

nớc phát triển)



16



Biểu đồ cho thấy những nỗ lực vơn lên để đuổi kịp nền

công nghệ tiên tiến ở các nớc phát triển của Nhật Bản và một

số nớc đang phát triển ở Châu á. Trong đó, chuyển giao công

nghệ là một nhân tố quan trọng trong quá trình công nghiệp

hoá theo hớng hiện đại ngay từ thời kỳ những năm 60 của thế

kỷ XIX.



Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, điều kiện chính



trị xã hội nghiêm ngặt đã bắt rễ sâu trong thời đại phong

kiến và đặc biệt là những thiệt hại lớn lao do chiến tranh gây

ra, ngời Nhật đã rút ra bài học quý giá trong quá trình chuyển

giao công nghệ của mình là: Tinh thần Nhật Bản cộng kỹ

thuật phơng tây. Ngời Nhật đánh giá cao bốn năng lực trong

các giai đoạn chuyển giao công nghệ: năng lực lĩnh hội; năng

lực thao tác; năng lực thích ứng và năng lực đổi mới. Họ đặc

biệt coi trọng nguồn tài nguyên con ngời với t cách là nhân tố

tích luỹ tri thức công nghệ. Từ những kinh nghiệm về chuyển

giao công nghệ, các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng: các nớc

đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng có thể trớc

tiên phải làm chủ công nghệ ở phần ngoại vi của kĩ thuật, là

phần mà hầu hết đầu t nớc ngoài có thể đem vào, và dần

dần họ phải mở rộng việc học tập để bao trùm lên phần cốt lõi

của kĩ thuật.

Đối với các nớc công nghiệp mới (NIC) Châu á, nhận thức đợc

rằng chuyển giao công nghệ có vai trò to lớn trong giai đoạn

công nghiệp hoá đất nớc, khi mà cuộc cách mạng công nghệ

phát triển nh vũ bão, khoảng cách giữa các nớc phát triển và



17



đang phát triển ngày càng cách xa nhau, lợi dụng kĩ thuật tiên

tiến của nớc ngoài là việc làm cần thiết để thúc đẩy kinh tế

phát triển. Công nghệ đã giúp các NIC Châu á trở thành

những con rồng với tốc độ tăng trởng cao, đầu t trực tiếp nớc

ngoài tăng liên tục, hoà nhập vào thị trờng thế giới và đời sống

nhân dân đợc cải thiện đáng kể... Trong thời gian qua, các

NIC Châu á rất chú trọng việc nghiên cứu, phân loại, xác định

tính chất, đặc điểm các kênh chuyển giao công nghệ trên

thế giới. Đối với kênh chuyển giao công nghệ giữa các nớc công

nghiệp phát triển, các NIC thông qua các công ty xuyên quốc

gia(TNCs), cụ thể là thông qua các chi nhánh đặt tại nhiều nớc

để tiếp cận với công nghệ hiện đại. Đối với kênh chuyển giao

công nghệ giữa các nớc phát triển với các nớc đang phát triển,

các NIC tập trung u đãi về tài chính, tạo điều kiện thuận lợi

để nhập và sử dụng công nghệ cho phù hợp điều kiện cụ thể.

Đối với kênh chuyển giao công nghệ giữa các nớc đang phát

triển, họ luôn ý thức đợc u thế của mình, tiến hành đầu t và

chuyển giao công nghệ sang nhiều nớc, đặc biệt là sang các nớc

ASEAN. Các NIC Châu á cũng thờng sử dụng các hình thức tiếp

thu chuyển giao công nghệ nh: qua liên doanh, tiếp nhận

chuyển giao trọn gói, qua mua bản quyền sở hữu công nghệ,

thuê chuyên gia hớng dẫn, trao đổi thông tin và đào tạo cán bộ

kĩ thuật. Thông qua các hình thức tiếp thu công nghệ nh trên

cùng với khả năng ứng dụng và đổi mới công nghệ, các NIC châu



18



á đã đạt đợc những thành công rực rỡ, đặc biệt là trong phát

triển công nghiệp.

Mặt khác, các NIC châu á đã thực hiện phơng châm đi

tắt, đón đầu trong công nghệ. Thời kỳ đầu, với trình độ kỹ

thuật còn thấp, họ chỉ tiến hành chuyển giao dây chuyền

công nghệ của nớc ngoài để lắp ráp hoặc qua gia công sản

phẩm cho các công ty nớc ngoài. Sau khi đã đổi mới cơ cấu

ngành, tăng sản xuất những thành phẩm có hàm lợng công

nghệ cao, không chỉ nhà nớc quan tâm mà cả các công ty t

nhân cũng quan tâm thực hiện đuổi bắt tiếp thu và làm chủ

công nghệ nh chính nớc xuất khẩu công nghệ. Các NIC cũng đa ra những chính sách u đãi thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài

hoặc trực tiếp mua máy móc trên thị trờng. Trên thực tế, tuỳ

theo đặc điểm kinh tế xã hội của riêng mình, mỗi NIC châu á

đều có những chính sách chuyển giao công nghệ hết sức

thận trọng để mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế.

Nghiên cứu kinh nghiệm tiếp nhận chuyển giao công

nghệ của các quốc gia nói trên cho ta những bài học kinh

nghiệm hết sức quý báu đó là: việc cải thiện môi trờng đầu

t để thu hút nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) có

hiệu quả, gắn đầu t trực tiếp nớc ngoài với chuyển giao công

nghệ thích hợp; các hợp đồng chuyển giao công nghệ phải

đợc chú trọng, đợc tính toán cẩn thận cả trong hiện tại và t-



19



ơng lai; chú trọng phát triển công nghệ hiện đại với công

nghệ truyền thống trong nớc tạo cơ sở để tiếp nhận một

cách hợp lý có chọn lọc, thích hợp với công nghệ mới; xây dựng

và thúc đẩy sự phát triển của khu công nghệ cao là nơi thu

hút các hoạt động chuyển giao công nghệ, đóng vai trò

động lực, đầu tàu trong việc đẩy mạnh phát triển công

nghệ quốc gia; chuyển giao công nghệ không đợc tách rời

việc nâng cao đời sống của nhân dân - đây cũng là mục

tiêu xã hội công bằng văn minh của Đảng và Nhà nớc ta đã

đề ra.

Trong quá trình học tập kinh nghiệm của các nớc khác,

không có một mô hình nào là thớc đo vạn năng, phổ biến rộng

khắp, cần chú trọng điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể sẽ giúp

chúng ta có đợc những bớc đi thích hợp cho hoạt động chuyển

giao công nghệ, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp

hoá - hiện đại hoá đất nớc. Đặc biệt, con ngời là nhân tố

quyết định đối với mọi thành quả kinh tế - xã hội. Tri thức đợc

tích luỹ bởi tài nguyên con ngời là bài học kinh nghiệm không

bao giờ cũ cho chúng ta.



20



1.4. Thực trạng chuyển giao công nghệ qua các d án

đầu t nớc ngoài tại việt nam.

1.4.1. Đánh giá chung.

Nhìn chung, công nghệ chuyển giao vào Việt Nam đợc chia

thành bốn nhóm:

- Nhóm 1: Bao gồm những thiết bị và công nghệ lạc hậu

hơn mức trung bình của thế giới khoảng 1 - 2 thế hệ, đang

phổ biến tại các ngành lắp ráp điện tử, ôtô, lắp máy xây

dựng, thuỷ sản đông lạnh...

- Nhóm 2: Bao gồm những thiết bị và công nghệ lạc hậu

khoảng 2 - 3 thế hệ so với mức trung bình của thế giới, tồn tại

trong các ngành điện, giấy, đờng, chế biến thực phẩm...

- Nhóm 3: Bao gồm các thiết bị và công nghệ lạc hậu từ 3 5 thế hệ so với mức trung bình của thế giới, chủ yếu trong các

ngành đờng sắt, đờng bộ, cơ khí, đóng tàu, sản xuất vật

liệu xây dựng...

- Nhóm 4: Bao gồm các loại thiết bị và công nghệ có độ

lạc hậu cao hơn.

Trong những năm qua, hoạt động chuyển giao công nghệ

đã và đang diễn ra trên hầu hết các ngành, các lĩnh vực nhng

với mức độ, trình độ khác nhau. Bớc đầu chuyển giao công

nghệ đã gắn với phơng hớng kinh doanh và đợc định hớng

theo thị trờng. Đây là đòi hỏi tất yếu của quá trình cạnh

tranh trong hoạt động kinh doanh: hoàn thiện sản phẩm trên



21



cơ sở đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Ngành dệt

may, giày da là một trong những ngành thực hiện đổi mới

công nghệ theo hớng này, gắn đơn đặt hàng lớn với việc khai

thác thị trờng tơng đối ổn định. Trong cơ chế thị trờng, mọi

thành phần kinh tế đợc tự do kinh doanh trên cơ sở sự điều

chỉnh của Nhà nớc. Do vậy, bản thân các doanh nghiệp đã

chủ động nâng cao hiệu quả đầu t sản xuất thông qua

chuyển giao công nghệ. Mặc dù còn nhiều hạn chế song chính

họ là ngời quyết định hiệu quả của chuyển giao công nghệ

thông qua quá trình tìm tòi, lựa chọn, đàm phán và kí kết

các hợp đồng chuyển giao công nghệ. Đồng thời, chuyển giao

công nghệ đã thực hiện một cách có trọng điểm gắn với đầu

t chiều sâu và nâng cao hiệu quả kinh tế. Qua khảo sát, các

doanh nghiệp đều tiến hành lần lợt từng dây chuyền, từng sản

phẩm hoặc một số giai đoạn trong toàn bộ dây chuyền, sau

đó triển khai tiếp. Trong xu thế khu vực hoá, quốc tế hoá nền

kinh tế thế giới hiện nay, cùng với sự mở rộng các quan hệ kinh

tế song phơng và đa phơng, chuyển giao công nghệ cũng đợc

thực hiện chủ yếu qua con đờng này. ở đây, phần chủ động

thờng thuộc về phía nớc ngoài. Phía Việt Nam thờng phải chịu

thua thiệt, đặc biệt là nếu ngời chịu trách nhiệm đàm phán

lại thiếu kiến thức về công nghệ và chuyển giao công nghệ.

Thực tế cho thấy, nhiều dự án gặp vớng mắc trong vấn đề

chuyển giao công nghệ mà hai bên phải đàm phán, thảo luận



22



nhiều lần, phải bổ sung, điều chỉnh lại các văn bản liên quan...

khiến các bên tốn kém thời gian, tiền của mà hiệu quả rất hạn

chế. Bên cạnh đó, chuyển giao công nghệ gắn với hàng loạt các

vấn đề kinh tế xã hội khác nh: việc làm của ngời lao động,

mức sống, bản sắc văn hoá dân tộc... Điều này đòi hỏi các

doanh nghiệp nói riêng và các cơ quan quản lý nói chung phải lu

tâm trong việc lựa chọn công nghệ thích hợp. Một vấn đề cần

đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay là: chuyển giao

công nghệ phần nhiều vẫn là yếu tố kĩ thuật ( máy móc, thiết

bị ) còn những bí quyết kĩ thuật, phơng pháp quản lý... lại ít

đợc chuyển giao. Giải quyết vấn đề này không tốt có thể dẫn

tới tình trạng lệ thuộc vào nền công nghệ chính quốc.

Đánh giá chung về chuyển giao công nghệ qua các dự án

đầu t nớc ngoài, không thể không đánh giá chất lợng công

nghệ đợc chuyển giao thông qua các nhà đầu t nớc ngoài - ngời đóng vai trò quyết định trong việc đa công nghệ nào vào

nớc sở tại.

Tính đến ngày 21/12/2010, cả nớc đã có 12.213 dự án

đầu t nớc ngoài vào nớc ta còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là

192,9 tỷ USD. Có 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có đầu t tại

Việt Nam. Trong đó, Đài Loan là nhà đầu t số 1 với trên 2.146

dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký là 22,8 tỷ USD; Hàn

Quốc đứng thứ 2 với trên 2650 dự án còn hiệu lực, tổng vốn



23



đăng ký là 22,1 tỷ USD; tiếp theo là các nhà đầu t Singapore,

Nhật Bản và Malaysia...

Chúng ta đã biết mối quan hệ mật thiết giữa các dự án

đầu t trực tiếp nớc ngoài với hoạt động chuyển giao công

nghệ. Đây không những là mong muốn đợc tiếp nhận những

công nghệ mới, tiên tiến của các nớc sở tại mà còn là mong

muốn kéo dài vòng đời công nghệ, thải hồi những công nghệ

lạc hậu ở các quốc gia phát triển của nhà đầu t thông qua các

dự án đầu t trực tiếp. Số liệu trên cho thấy, chuyển giao công

nghệ vào Việt Nam những năm qua chủ yếu là từ các nớc trong

khu vực ASEAN, mà đứng đầu là Đài Loan, Hàn Quốc,

Singapore ... Các nớc này có trình độ công nghệ ở mức trung

bình so với thế giới, nên không thể hy vọng công nghệ chuyển

giao vào Việt Nam là hiện đại, tiên tiến nếu nh không tăng cờng các biện pháp chuyển giao công nghệ từ các nớc có nền

công nghệ phát triển nh EU, Mỹ, nhật bản...

Nh vậy, chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu t trực

tiếp nớc ngoài vào Việt Nam thời gian qua tuy đã đáp ứng đợc

phần nào yêu cầu phát triển của nền kinh tế song cha thực sự

hiệu quả và phát huy tác dụng.

1.4.2. Những thành tựu và hạn chế trong chuyển

giao công nghệ ở các dự án đầu t nớc ngoài thời gian

qua.

Thứ nhất, những thành tựu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thứ ba, phân theo kiểu chuyển giao hay chiều sâu của chuyển giao công nghệ.

Tải bản đầy đủ ngay(47 tr)

×