Tải bản đầy đủ - 105 (trang)
CHƯƠNG 2: NHỮNG BẰNG CHỨNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TÀI KHOẢN VÃNG LAI

CHƯƠNG 2: NHỮNG BẰNG CHỨNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TÀI KHOẢN VÃNG LAI

Tải bản đầy đủ - 105trang

28



ước lượng cho thấy có mối tương quan giữa thâm hụt ngân sách với các biến kinh

tế vĩ mô như tỷ giá hối đoái và cán cân tài khoản vãng lai. Xung lực phản ứng của

cán cân tài khoản vãng lai có xu hướng được cải thiện khi có sự gia tăng trong thu

ngân sách như phát hành nợ hay tăng thuế; sự gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai

chịu sự tác động của sự tăng lên của chi tiêu chính phủ ở các quốc gia được khảo

sát loại trừ trường hợp của nước Úc và Pháp. Tuy nhiên, tình trạng thâm hụt kép

này thay đổi khác nhau về thờigian và mức độ tùy thuộc vào các quyết định tài

chính của chính phủ trong dài hạn. Sự bù đắp thâm hụt ngân sách bằng thuế hay

bằng nợ sẽ có những ảnh hưởng khác nhau đến tình trạng cân bằng của cán cân tài

khoản vãng lai.

Guy Debelle and Hamid Faruqee (1996) cũng đã nghiên cứu thực nghiệm về

các nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai của 21 nước công nghiệp từ

1971 – 1993 gồm Anh, Úc, Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Na Uy, Thụy

Điển, Thụy Sỹ, Canada, Nhật, Phần Lan, Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban

Nha, Áo, Tân Tây Lan. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến với cơ sở dữ liệu

chéo để khảo sát mức độ ảnh hưởng của các nhân tố (biến độc lập) gồm: Cán cân

ngân sách được đo lường bằng tỷ lệ của thặng dư (biểu thị bằng số dương và thâm

hụt biểu thị bằng số âm) so với GDP; Mức độ phát triển – đo lường bằng GDP bình

quân trên đầu người; Nhân khẩu học – đo lường bằng tỷ lệ dân số ngoài độ tuổi lao

động trên dân số trong độ tuổi lao động; Tự do hóa tài chính được đo lường bằng

chỉ số về mức độ kiểm soát dòng vốn đến cán cân tài khoản vãng lai (biến phụ

thuộc) được đo lường bằng tỷ lệ của cán cân tài khoản vãng lai so với GDP. Kết

quả ước lượng cho thấy rằng chính sách tài khóa có tác động đến cán cân tài khoản

vãng lai. Bất cứ một sự giảm trong cán cân ngân sách có liên quan đến sự giảm

trong cán cân tài khoản vãng lai nhưng không theo tỷ lệ một – một. Tuy nhiên mức

độ ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến cán cân tài khoản vãng lai thay đổi tùy

theo mức độ nợ của Chính phủ. Đối với các quốc gia được khảo sát có tỷ lệ nợ dưới

50% so với GDP, thì cán cân ngân sách có ảnh hưởng một cách rõ ràng đến cán cân

tài khoản vãng lai. Ngược lại ở những nước có tỷ lệ nợ của Chính phủ trên 50% so



29



với GDP thì chính sách tài khóa không có tác động gì đáng kể đến thâm hụt hay

thặng dư của tài khoản vãng lai.

Berrnhein (1988) nghiên cứu về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến cán

cân tài khoản vãng lai của 6 nước gồm Mỹ, Canada, Anh, Tây Đức, Mexico và

Nhật. Số liệu năm thu thập từ 1960 – 1984 được phân tích bằng mô hình hồi quy

với phương pháp bình phương bé nhất với các biến gồm: thặng dư tài khoản vãng

lai, thặng dư ngân sách, tăng trưởng kinh kế. Phân tích số liệu theo chuỗi thời gian,

kết quả cho thấy rằng cứ thâm hụt ngân sách tăng 1 USD có liên quan đến 0,3 USD

giảm đi trong thặng dư tài khoản vãng lai ở các nước nghiên cứu ngoại trừ nước

Nhật. Riêng ở Mexico mức độ ảnh hưởng này lớn hơn khoảng 0,85 USD giảm đi

trong thăng dư tài khoản vãng lai khi thâm hụt ngân sách tăng 1 USD. Theo tác giả

sở dĩ có kết quả như thế do xu hướng tiêu dùng biên ở các nước nghèo như Mixico

thường cao hơn so với các người phát triển. Tuy nhiên mối quan hệ này không rõ

ràng và không chắc chắn đối với Nhật có lẽ là do Chính phủ Nhật duy trì chính sách

can thiệp sâu vào thương mại quốc tế thông qua kiểm soát chặt chẽ xuất nhập khẩu

và dòng chảy của vốn.

Olga Vyshnyak (2002) nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và

cán cân tài khoản vãng của Ukraine với dữ liệu thu thập theo quý từ 1995 – 1999,

sử dụng mô hình hồi quy với kỹ thuật ước lượng VAR có các nhân tố: cán cân ngân

sách được đo lường bằng tỷ lệ % so với GDP, cán cân tài khoản vãng lai được đo

lường bằng tỷ lệ % so với GDP và một số biến giả. Bằng cách sử dụng kiểm định

Augmented Dickey-Fuller, tác giả tiến hành kiểm định lần lượt tính dừng và mối

tương quan của hai biến cán cân ngân sách và cán cân tài khoản vãng lai. Sau đó tác

giả kiểm định mối tương tác giữa hai nhân tố trên bằng kiểm định ngẫu nhiên

Granger. Kết quả nhận được cho thấy là có có mối quan hệ lệ thuộc nhau trong dài

hạn giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai với bộ dữ liệu

của Ukraine, đặc biệt là thâm hụt ngân sách chính phủ trong quá khứ cũng có ảnh

hưởng đến tình trạng của cán cân tài khoản vãng lai.



30



Nozar Hashemzadeh và Ernie Wade, Đại Học Radford, Mỹ (2002) đã nghiên

cứu hiện tượng thâm hụt kép với số liệu thu thập từ 12 quốc gia thuộc khu vực

Trung Đông và Bắc Phi như Bahrain, Ai Cập, Iran, Jordan, Kuwait, Morocco,

Oman, Nigeria, Syria, Tunisia, Thổ Nhĩ Kỳ và Yemen từ năm 1980 đến năm 2000.

Bằng mô hình véctơ tự hồi quy với hai biến nội sinh là thâm hụt tài khoản vãng lai

và thâm hụt ngân sách, độ trễ là 2, thông qua các bước kiểm định ngẫu nhiên

Granger , tác giả nhận thấy có mối liên hệ và ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách với

thâm hụt tài khoản vãng lai. Tuy nhiên sự ảnh hưởng này thay đổi ở từng nước khác

nhau. Đối với trường hợp của Kuwait và Thổ Nhĩ Kỳ, sự tác động của thâm hụt

ngân sách đến thâm hụt tài khoản vãng lai rất rõ. Còn đối với các nước như Ai Cập,

Iran, Morocco, Syria, Nigeria, Tunisia và Bahrain, không có bất cứ sự liên hệ nào

giữa ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến thâm hụt tài khoản vãng lai. Còn đối

với các nước như Jordan, Oman, Syria và Yemen, sự ảnh hưởng giữa thâm hụt

ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lại ở trạng thái đảo ngược. Đặc biệt là ở

trường hợp của Yemen, thâm hụt ngân sách chịu tác động của thâm hụt tài khoản

vãng lai và với độ trễ ít nhất là một kỳ.

Ahmad Zubaidi Baharumshah và Evan Lau thuộc Đại Học Putre, Malaysia

(2003) đã nghiên cứu và khảo sát mối quan hệ giữa chính sách tài khóa với tài

khoản vãng lai. Tác giả đã khảo sát và phân tích số liệu năm từ 1980 - 2001 của

chín quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Châu Á gồm: Malaysia, Singapore, Thái

Lan, Indonesia, Nam Triều Tiên, Myanmar, Nepal, Sri Lanka va Philippine. Thông

qua mô hình tự hồi quy vectơ (Vector Auto-Regression), tác giả xem xét ảnh hưởng

của các biến độc lập gồm thâm hụt ngân sách, tỷ giá hối đoái danh nghĩa so với

đồng USD và lãi suất ngắn hạn đến biến phụ thuộc là thâm hụt của tài khoản vãng

lai như thế nào. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, ở các quốc gia này trong thời

gian số liệu được tập hợp từ 1980 – 2001, tài khoản vãng lai của chín nước được

khảo sát trên có biến động theo sự sự biến động của nhân tố thâm hụt ngân sách, tỷ

giá hối đoái danh nghĩa và lãi suất ngắn hạn, trong đó nhân tố lãi suất và thâm hụt

ngân sách có ảnh hưởng lới đến cán cân tài khoản vãng lai. Kết quả phân tích còn



31



cho thấy rằng thâm hụt ngân sách và cán cân tài khoản vãng lai có mối quan hệ qua

lại lẫn nhau theo hai cơ chế: cơ chế thứ nhất là thâm hụt ngân sách tác động trực

tiếp đến cán cân tài khoản vãng lai và cơ chế thứ hai thâm hụt ngân sách có tác

động gián tiếp đến cán cân tài khoản vãng lai thông qua ảnh hưởng của nó đến lãi

suất. Thâm hụt ngân sách có ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất. Khi lãi suất thay đổi

sẽ có tác động đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và đến lượt nó tỷ giá đối đoái sẽ

tác động đến diễn biến của cán cân tài khoản vãng lai. Kết quả nghiên cứu của

Ahmad Zubaidi Baharumshah và Evan Lau thuộc Đại Học Putre, Malaysia về cơ

chế tác động của thâm hụt ngân sách đến tài khoản vãng lai có thể được biểu diễn

theo sơ đồ sau:



LÃI SUẤT

NGẮN HẠN



THÂM HỤT

NGÂN SÁCH



TỶ GIÁ

HỐI ĐOÁI



THÂM HỤT TÀI

KHOẢN VÃNG LAI



→ : Tác động gián tiếp



↔ : Tác động trực tiếp



Ali Salman Saleh, Đại Học Monash, Malaysia (2006) nghiên cứu thực

nghiệm về mối quan liên kết giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng

lai của Lebanon, một quốc gia có thâm hụt ngân sách liên tục trong 3 thập kỷ qua,

với dữ liệu thu thập từ năm 1975 đến năm 2003. Kết quả phân tích với mô hình tự

hồi quy vectơ cho thấy rằng thâm hụt ngân sách có ảnh hưởng đáng kể đến thâm

hụt tài khoản vãng lai trong dài hạn, cứ 1% tăng lên trong thâm hụt ngân sách dẫn

đến 0,8172% tăng lên trong thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai.



32



Ashok Parikh và Bill Rao (2006) nghiên cứu về hiện tượng được gọi là

“thâm hụt kép” của nền kinh tế Ấn Độ, xem xét sự tác động của thâm hụt ngân sách

đến diễn biến cán cân tài khoản vãng lai thông qua hồi quy tuyến tính. Tác giả xây

dựng mô hình hồi quy tuyến tính với quan điểm các nhân tố thâm hụt cán cân tài

khoản vãng lai, thâm hụt ngân sách, đầu tư khu vực tư nhân và tỷ giá thực có mối

quan hệ tương tác với nhau, mô hình cụ thể:

CAD= f (FDP, INVGDP, LREER)

Trong đó:

-



CAD: thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai được đo lường bằng

tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP, giá trị dương thể

hiện thâm hụt, giá trị âm thể hiện thặng dư



-



FDP: thâm hụt ngân sách đo lường bằng tỷ lệ thâm hụt ngân

sách so với GDP; giá trị dương thể hiện thâm hụt, giá trị âm thể

hiện thặng dư



-



INVGDP: đầu tư khu vực tư nhân đo lường bằng tỷ lệ đầu tư so

với GDP



-



LREER: tỷ giá thực đo lường bằng logarit của tỷ giá thực tính

bằng bình quân có trọng số của tỷ giá của đồng rupi với 36 ngoại

tệ khác nhau có tham gia trao đổi thương mại với Ấn Độ.



Số liệu được thu thập là số liệu năm của Ấn Độ từ 1970 đến 2000.

Kết quả phân tích cho thấy thâm hụt tài khoản vãng lai có ảnh hưởng đáng

kể đến thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai trong cả ngắn hạn và dài hạn

Christiane Nickel and Isabel Vansteenkiste (2008) đã nghiên cứu các nhân tố

tác động đến cán cân tài khoản vãng lai thông qua mô hình hồi quy với số liệu được

thu thập của 22 quốc gia công nghiệp từ năm 1981 – 2005 như: Anh, Úc, Bỉ, Đan

Mạch, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Canada, Nhật, Phần

Lan …. Biến phụ thuộc là cán cân tài khoản vãng lai được đo lường bằng tỷ lệ % so

với GDP, các biến độc lập lần lượt là chính sách tài khóa được đo lường bằng tỷ lệ

% nợ của Chính phủ so với GDP; tỷ lệ % của đầu tư so với GDP, sự thay đổi của tỷ



33



giá hối đoái thực. Kết quả phân tích từ mô hình hồi quy cho thấy rằng sự tác động

của chính sách tài khóa đến cán cân tài khoản vãng lai ở các quốc gia này phụ thuộc

vào tỷ lệ nợ của chính phủ so với GDP. Đối với các quốc gia có tỷ lệ nợ của Chính

phủ so với GDP thấp dưới 44% so với GDP, thì chính sách tài khóa có tác động rõ

ràng và có ảnh hưởng lớn đến cán cân tài khoản vãng lai. Bất cứ một sự gia tăng

nào trong thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến sự thâm hụt trong tài khoản vãng lai. Đối

với các quốc gia có tỷ lệ nợ của Chính phủ so với GDP ớ mức từ 44% đến 90% với

GDP, thì chính sách tài khóa có tác động đến cán cân tài khoản vãng lai tuy không

lớn và rõ ràng (kết quả ước lượng cho thấy hệ số tương quan giữa chính sách tài

khóa và cán cân tài khoản vãng lai ở các quốc gia có tỷ lệ của Chính phủ so với

GDP từ 44% đến 90% có giá trị chỉ bằng một nữa hệ số tương quan được ước

lượng của các quốc gia có tỷ lệ của Chính phủ so với GDP dưới 44%). Trong khi

đó đối với các quốc gia có tỷ lệ nợ của Chính phủ so với GDP ớ mức trên 90% với

GDP, thì chính sách tài khóa không có tác động gì đến cán cân tài khoản vãng lai.

Bất cứ một sự gia tăng thâm hụt ngân sách không dẫn đến sự tăng thêm trong thâm

hụt cán cân tài khoản vãng lai. Kết quả tương tự khi tác giả mở rộng khảo sát cùng

mô hình này cho 11 quốc gia có sử dụng đồng tiền chung Châu Âu. Ảnh hưởng của

chính sách tài khóa đến cán cân tài khoản vãng lai hoàn toàn rõ ràng đối với các

quốc gia có tỷ lệ nợ của Chính phủ so với GDP ớ mức từ 56% đến 80% với GDP.

S.M.Ali Abbas, Jacques Bouhga-Hagbe, Antonio J. Fatás, Paolo Mauro và

Ricardo C.Velloso (2010) sử dụng mô hình hồi quy phân tích hiện tượng thâm hụt

cán cân tài khoản vãng lai có liên quan như thế nào với những thay đổi của chính

sách tài khóa và ngược lại chính sách tài khóa có tác động như thế nào đến việc cải

thiện hay làm xấu đi tình trạng cán cân tài khoản vãng lai của một quốc gia. Số liệu

được thu thập là số liệu năm từ năm 1980 đến năm 2007 của 176 quốc gia trong đó

có 46 quốc gia thuộc nhóm nước xuất khẩu dầu và 140 quốc gia còn lại thuộc nhóm

các quốc gia không có xuất khẩu dầu. Tác giả thiết lập mô hình hồi quy với biến

phụ thuộc là thâm hụt tài khoản vãng lai tính theo tỷ lệ % so với GDP, các biến độc

lập gồm chính sách tài khóa được đo lường bằng tỷ lệ cán cân ngân sách so với



34



GDP hoặc được đo lường bằng logarit chi tiêu thực của chính phủ; tiết kiệm ròng

khu vực tư nhân đo lường bằng tỷ lệ của tiết kiệm ròng khu vực tư nhân so với

GDP; nhân tố tăng trưởng được đo lường bằng thu nhập bình quân/đầu người. Kết

quả mô hình cho thấy rằng hệ số tương quan giữa chính sách tài khóa và cán cân tài

khoản vãng lai bằng 0,38, hệ số này giảm còn 0,28 nếu loại trừ các nước xuất khẩu

dầu. Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến cán cân tài khoản vãng lai ở các quốc

gia có nền kinh tế mới nổi hay đang phát triển lớn hơn so với các nước có nền kinh

tế phát triển. Điều này có thể được giải thích là do nhu cầu chi tiêu công cho việc

nhập khẩu các thiết bị từ nước ngoài phục vụ cho nhu cầu đầu tư làm gia tăng kim

ngạch nhập khẩu ở các quốc gia có nền kinh tế mới nổi hay đang phát triển. Mở

rộng chính sách tài khóa (đo lường bằng gia tăng chi tiêu Chính phủ) làm xấu đi

tình trạng cân bằng cán cân tài khoản vãng lai. Cứ 1% tăng chi tiêu Chính phủ so

với GDP làm tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai 0,26% so với GDP.

Kết luận chương 2

Thực tiễn đã có rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách tài khóa,

cụ thể là thâm hụt ngân sách đến tình trạng thâm hụt của cán cân tài khoản vãng lai

ở nhiều quốc gia nhiều nền kinh tế khác nhau. Và mối tác động có thể chia thành

các khuynh hướng nhu sau:

-



Chính sách tài khóa biểu hiện bằng cán cân ngân sách không có có

ảnh hưởng gì đến tình trạng thâm hụt hay thặng dư của cán cân tài

khoản vãng lai. Bất cứ một sự gia tăng hay cải thiện trong thâm hụt

ngân sách không dẫn đến sự tăng thêm hay giảm hoặc ngược lại trong

thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai. Hiện tượng này thường xuất hiện

ở các nước có nền kinh tế lớn đã phát triển, có tỷ lệ nợ của Chính phủ

so với GDP trên 80%.



-



Thâm hụt ngân sách có ảnh hưởng đến thâm hụt cán cân tài khoản

vãng lai theo hướng tác động cùng chiều. Bất cứ một sự tăng tỷ lệ

thâm hụt cán cân ngân sách sẽ làm xấu hơn tình trạng thâm hụt cán



35



cân tài khoản vãng lai và ngược lại. Khi có sự cải thiện trong thâm

hụt ngân sách thì thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai cũng sẽ giảm đi.

Hiện tượng này xuất hiện phổ biến ở các nước có nền kinh tế mở nhỏ

đang phát triển hoặc ở các nước phát triển nhưng có có tỷ lệ nợ của

Chính phủ so với GDP ớ mức dưới 80%. Tuy nhiên mức độ ảnh

hưởng của chính sách tài khóa đến thâm hụt tài khoản vãng lai là khác

nhau ở các nước, và theo thời gian khác nhau. Mức độ ảnh hưởng này

tùy thuộc vào các quyết định tài chính của chính phủ trong dài hạn,

tùy thuộc vào mức độ kiểm soát dòng vốn luân chuyển của Chính

phủ.

-



Riêng trường hợp thực nghiệm đối với nền kinh tế của Yemen,

Jordan, Oman do Syria Nozar Hashemzadeh và Ernie Wade, Đại

Học Radford, Mỹ nghiên cứu vào năm 2002 thì kết quả hoàn toàn

khác. Đối với các nước Jordan, Oman, Syria sự ảnh hưởng giữa

thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở trạng thái đảo

ngược. Tức là bất cứ một sự gia tăng nào trong thâm hụt ngân sách

sẽ cải thiện tình trạng thâm hụt của cán cân tài khoản vãng lai và

ngược lại. Đặc biệt là ở trường hợp của Yemen, thâm hụt ngân sách

lại chịu tác động của thâm hụt tài khoản vãng lai và với độ trễ ít nhất

là một kỳ.



CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG

CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA, TÀI KHOẢN VÃNG LAI

CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1990 - 2010



36



Nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn từ 1990 – 2010 có nhiều biến động,

đặc biệt là các biến vĩ mô của nền kinh tế như lạm phát, tốc độ tăng GDP, thâm hụt

cán cân ngân sách, thâm hụt tài khoản vãng lai. Để có thể đánh giá được rõ ràng

mức độ biến động của ngân sách Nhà nước, trạng thái cân bằng của tài khoản vãng

lai của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2010, cần hiểu rõ thực trạng nền kinh tế Việt

Nam

3.1. Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 - 2010

Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện đường lối Đổi mới với ba chiến lược

chính: (i) chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế vận

hành theo cơ chế thị trường; (ii) phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó

khu vực dân doanh đóng vai trò ngày càng quan trọng; (iii) chủ động hội nhập kinh

tế khu vực và thế giới một cách hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn của

Việt Nam.

Sau hơn hai mươi năm kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, công cuộc đổi mới

của Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, nền kinh tế Việt Nam luôn duy

trì được tốc độ tăng trưởng khá cao liên tục trong nhiều năm. Việc trở thành thành

viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam

hội nhập sâu, rộng hơn vào kinh tế thế giới, có thêm nhiều cơ hội tranh thủ các

nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Chính phủ chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, nhấn mạnh quan hệ

hàng hóa - tiền tệ, tập trung vào các biện pháp quản lý kinh tế, thành lập hàng loạt

các tổ chức tài chính, ngân hàng, hình thành các thị trường cơ bản như thị trường

tiền tệ, thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thị trường đất đai… Cải cách hành

chính được thúc đẩy nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi trường

thuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực cho

tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra một thể chế năng động, đáp ứng nhu cầu phát

triển của đất nước trong giai đoạn mới.



37



Những cải cách kinh tế mạnh mẽ đó đã mang lại cho Việt Nam những thành

quả bước đầu rất đáng phấn khởi. Việt Nam đã tạo ra được một môi trường kinh tế

thị trường có tính cạnh tranh và năng động. Các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở

nên thông thoáng hơn, thu hút được ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu và phát triển thêm một số

lĩnh vực hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày càng lớn như du lịch, xuất khẩu

lao động, kiều hối...

Trong hơn 20 năm đổi mới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có được

những thành tựu đáng kể, GDP của Việt Nam đã tăng liên tục từ mức 7,79 tỷ USD

(năm 1990) lên 92,5 tỷ USD (năm 2010). Từ năm 1986 đến năm 1990, tốc độ tăng

GDP bình quân đạt 4,4% /năm. Từ năm 1991, nền kinh tế Việt Nam khắc phục

được tình trạng trì trệ, suy thoái, bắt đầu có những khởi sắc với tốc độ tăng trưởng

tương đối cao, liên tục và toàn diện. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

chủ yếu vẫn là về số lượng, theo chiều rộng, trong đó, chủ yếu do số lượng vốn đầu

tư, trong khi chất lượng tăng trưởng vẫn thấp (yếu tố tăng số lượng đã chiếm tới

57,5% trong tốc độ tăng trưởng, yếu tố tăng số lượng lao động chiếm khoảng 20%

còn các yếu tố còn lại chỉ đóng góp khoảng 22,5%)

Cùng với việc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu kinh tế trong nước của

Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể. Từ năm 1990 đến 2010, tỷ trọng của khu vực

nông-lâm nghiệp thủy sản đã giảm từ 38,7% xuống dưới 20% GDP, nhường chỗ

cho sự tăng lên về tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng từ 22,7% lên

41,1%, còn khu vực dịch vụ được duy trì ở mức gần như không thay đổi: 38,6%

năm 1990 và 38,3% năm 2010. Trong từng nhóm ngành, cơ cấu cũng có sự thay đổi

tích cực. Trong cơ cấu công nghiệp, tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến tăng,

chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Cơ cấu của khu vực dịch vụ thay

đổi theo hướng tăng nhanh tỷ trọng của các ngành dịch vụ có chất lượng cao như tài

chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch…

Bảng 3.1: Tăng trưởng GPD và cơ cấu kinh tế 2005 – 2010



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: NHỮNG BẰNG CHỨNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TÀI KHOẢN VÃNG LAI

Tải bản đầy đủ ngay(105 tr)

×