Tải bản đầy đủ - 148 (trang)
3 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ VÀ NHNN

3 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ VÀ NHNN

Tải bản đầy đủ - 148trang

96



Luật các TCTD về tỷ lệ nguồn vốn cho vay đối với các doanh nghiệp liên

quan đến các cổ đông của ngân hàng, cấm hoặc hạn chế bằng một tỷ lệ vốn

nhất định các NHTM tham gia mua trái phiếu của các doanh nghiệp liên quan

đến các cổ đông của ngân hàng,…nhằm tạo môi trường pháp lý đầy đủ, thuận

lợi cho các NHTM hoạt động một cách có hiệu quả, cũng như hạn chế RRTD

phát sinh từ các doanh nghiệp trong mối quan hệ sở hữu chéo của các cổ đông

đối với các NHTM.

 Nghiên cứu thành lập và xây dựng quy chế hoạt động Ủy ban giám sát tài

chính, tiền tệ và chứng khoán nhằm hợp nhất các chức năng giám sát hoạt

động ngân hàng của NHNN, chức năng giám sát hoạt động của các công ty tài

chính của Bộ Tài chính, chức năng giám sát thị trường chứng khoán của Ủy

ban Chứng khoán Quốc gia, và có thể thực hiện luôn nhiệm vụ tư vấn về kinh

tế vĩ mô của Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia nhằm khắc phục tình trạng

thiếu sự phối hợp chặt chẽ, cung cấp thông tin chưa kịp thời của các cơ quan

này trong quá trình giám sát các thị trường tài chính, chứng khoán. Ủy ban

giám sát hợp nhất này có thể lựa chọn và ủy nhiệm cho một công ty kiểm toán

để thực hiện kiểm soát hoạt động ngân hàng, các công ty tài chính,...

 Hoàn thiện cơ chế chính sách về dự báo, điều hành và ch đạo kịp thời nhằm

định hướng nền kinh tế, phát triển bền vững thị trường tài chính, tiền tệ trước

những biến động khó lường của kinh tế thế giới.





Đối với NHNN:

 Nghiên cứu, xây dựng, ch nh sửa và hoàn thiện các văn bản pháp luật về ngoại

hối, phân loại nợ, bảo đảm an toàn,… nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát

triển hệ thống ngân hàng Việt Nam và phù hợp với thông lệ, các chuẩn mực

quốc tế. Trong đó, sớm sửa đổi, bổ sung QĐ 493 và QĐ 18 của Thống đốc

NHNN về phân loại nợ, chẳng hạn về vấn đề gia hạn nợ cần căn cứ vào thời

gian gia hạn và số lần gia hạn để phân loại nợ (hiện tại ch căn cứ vào số lần

gia hạn nợ) hoặc đưa ra lộ trình cụ thể bắt buộc các NHTM phải xây dựng hệ



97



thống xếp hạng tín dụng nội bộ đúng quy chuẩn và phải được NHNN thông

qua để tiến hành phân loại nợ theo Điều 7 QĐ 493 và QĐ 18;…Từ đó, việc

trích lập dự phòng rủi ro sẽ chính xác hơn vì phân loại nợ dựa trên cơ sở là

mức độ RRTD đã được ngân hàng đánh giá và xếp hạng.

 Hoàn hiện Cơ chế điều hành thị trường tiền tệ theo hướng hạn chế sử dụng các

công cụ hành chính, tập trung xây dựng các chính sách, quy định và điều tiết

thị trường bằng các quy luật khách quan. Cụ thể, quy định và điều hành linh

hoạt chính sách lãi suất và các công cụ khác nhằm hỗ trợ các NHTM hoạt

động an toàn, hiệu quả và đảm bảo khả năng thanh khoản; điều hành chính

sách tỷ giá theo tín hiệu thị trường, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập

khẩu và ổn định thị trường ngoại hối; thực hiện nhiệm vụ theo dõi, phân tích

và đánh giá cũng như dự báo diễn biến kinh tế, tài chính trong nước và thế giới

nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp trong điều hành thị trường tiền tệ, để đạt

được các mục tiêu do Chính phủ đã đề ra trong từng giai đoạn và thời kỳ kinh

tế, đồng thời đảm bảo cho các NHTM hoạt động đúng định hướng của NHNN

và nâng cao hiệu quả trong quản trị RRTD của hệ thống NHTM.

NHNN phối hợp với Chính phủ và các cơ quan nhà nước để xây dựng và điều

hành các chính sách, mô hình và các vấn đề phát sinh trong hoạt động thực tiễn của

hoạt động ngân hàng. Chẳng hạn về vấn đề nợ xấu của hệ thống NHTM hiện nay,

phải đưa ra được các giải pháp tối ưu và thực hiện thống nhất, đồng bộ của NHNN,

Chính phủ, các cơ quan liên quan và hệ thống NHTM. Thứ nhất, về thị trường mua

bán nợ Việt Nam còn rất sơ khai, hiện mới ch có Công ty mua bán nợ thuộc Bộ Tài

chính (DATC) chủ yếu tập trung xử lý các khoản nợ và tài sản tồn đọng để hỗ trợ

các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, các Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài

sản của các NHTM chủ yếu mua bán nợ nội bộ, việc mua bán nợ ở các ngân hàng

khác cũng rất khó khăn. Mới đây (tháng 6/2012) NHNN đã đề xuất thành lập Công

ty mua bán nợ quốc gia (AMC) với số vốn 100.000 tỷ đồng để mua lại nợ xấu của

hệ thống NHTM, đây là việc làm cần thiết nhưng phải thực hiện một số vấn đề về

khuôn khổ pháp lý, mô hình hoạt động (mua “đứt” nợ xấu rồi tự xử lý hay ch mua



98



các khoản nợ xấu có khả năng xử lý được, các khoản nợ không có khả năng thu hồi

thì dùng vốn dự phòng rủi ro các ngân hàng để xử lý), giá mua lại nợ xấu, nguồn

vốn hoạt động cho AMC từ ngân sách nhà nước, phát hành trái phiếu, ...Thứ hai, để

giải quyết nợ xấu không qua mua bán nợ, NHNN có thể nghiên cứu kinh nghiệm

một số nước phù hợp với Việt Nam; có thể quốc hữu hóa các ngân hàng yếu kém

hoặc bơm vốn để nắm cổ phần chi phối, sau khi các ngân hàng phục hồi nhà nước

thu hồi lại vốn thông qua tư nhân hóa (Mỹ); cho phép các ngân hàng yếu kém nhiều

nợ xấu tự sụp đỗ (Nhật);…Thứ ba, kết hợp nhiều giải pháp, cho phép các đối tác

nước ngoài mua cổ phần với tỷ lệ cao hơn để cải thiện chất lượng công tác quản trị,

mặt khác tái cấu trúc hệ thống (hợp nhất, sáp nhập) như hiện nay. Thứ tư, trong dài

hạn phải phát triển thị trường tài chính, trong đó triển khai các công cụ chứng khoán

phái sinh như CDS, MBS,…để các NHTM có thể bán các khoản nợ cho nhà đầu tư

lúc chúng chưa là nợ xấu, giúp ngân hàng phòng ngừa và hoán đổi RRTD và linh

hoạt hơn trong quản lý danh mục cho vay.

3.3.2 Tăng cƣờng công tác thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nƣớc đối

với hoạt động ngân hàng

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tại chỗ và giám sát từ xa mọi hoạt

động của hệ thống NHTM, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động

của các ngân hàng. Thanh tra tại chỗ sẽ nâng cao hiệu lực cho việc xử lý các vi

phạm về việc không tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định pháp luật cho dù xuất phát

từ nguyên nhân chủ quan hay khách quan. Giám sát từ xa thông qua các báo cáo

thống kê, nhằm phát hiện và cảnh báo kịp thời các sai phạm để các NHTM có biện

pháp thích hợp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong đó có RRTD. Đồng thời phải kiên

quyết xử lý các vi phạm đối với các NHTM theo đúng quy định pháp luật, tuyệt đối

không bao che, dung túng cho bất kỳ tổ chức hay cá nhân vi phạm nào.

Trong chiến lược dài hạn, nên sớm thành lập Cơ quan (Cục) Giám sát an toàn

hoạt động ngân hàng thuộc NHNN trên cơ sở bộ máy Thanh tra NHNN hiện nay, về

lâu dài nên tách hẳn Cục Giám sát an toàn ra khỏi NHNN và hoạt động độc lập



99



nhằm tách biệt giữa nhiệm vụ giám sát ngân hàng và quản lý tiền tệ (NHNN). Hoàn

thiện dự án Luật Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng theo Quyết định

112/2006/QĐ-TTg ngày 24/5/2006, nhằm tạo ra hành lang pháp lý phù hợp với các

chuẩn mực Basel, giúp các NHTM hoạt động an toàn và phát triển bền vững.

3.3.3 Củng cố và hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng của NHNN

Để cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời cho các NHTM trong hoạt

động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động tín dụng, NHNN cần củng cố và hoàn thiện

CIC. Trong đó, NHNN ban hành quy định bắt buộc các TCTD và các doanh nghiệp

có quan hệ tín dụng phải cung cấp thông tin tín dụng, báo cáo tài chính,…cho CIC

theo định kỳ và đột xuất; từ các thông tin thu thập được, CIC phải tiến hành kiểm

tra tính chính xác, đầy đủ của thông tin sau đó xử lý và lưu trữ thông tin; ngược lại

thông tin mà CIC cung cấp cho NHTM bên cạnh các ch tiêu định lượng như hiện

nay, cần phải cung cấp thêm các thông tin như tư cách người vay, TSBĐ, tình hình

bảo lãnh vay vốn, nhận xét và đánh giá khách hàng và nguyên nhân dẫn đến nợ quá

hạn, nợ xấu,…Đồng thời phải có quy định chế tài đối với các TCTD, các doanh

nghiệp cung cấp thông tin không đầy đủ, chính xác và kịp thời cũng như khen

thưởng các TCTD hoàn thành nghĩa vụ cung cấp thông tin. Định kỳ hàng quý, hàng

năm báo cáo toàn ngành về tình hình thực hiện quy định cung cấp thông tin, xử phạt

và khen thưởng đối với các TCTD.

3.3.4 Tiếp tục cơ cấu và sắp xếp lại hệ thống NHTM

Chính phủ và NHNN cần đẩy nhanh tiến độ cơ cấu và sắp xếp lại hệ thống

NHTM theo đề án đã phê duyệt (quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012) nhằm

giảm các ngân hàng yếu kém, tăng cường năng lực tài chính và quy mô hoạt động

cho các ngân hàng sau hợp nhất, sáp nhập; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và

công bằng cho thị trường tiền tệ; nâng cao năng lực quản trị ngân hàng đặc biệt là

quản trị rủi ro,…nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, thị trường tài chính.



100



KẾT LUẬN CHƢƠNG 3

Từ việc phân tích thực tế hoạt động tín dụng, RRTD và quản trị RRTD, tác giả

đã đề xuất nhiều giải pháp mang tính chiến lược, phù hợp với các chuẩn mực Basel

và thông lệ quốc tế trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Các giải pháp tập trung

xử lý những tồn tại của hoạt động tín dụng, quản trị RRTD, nâng cao khả năng

phòng ngừa RRTD và hiệu quả quản trị RRTD; đặc biệt là nhóm giải pháp xây

dựng và hoàn thiện môi trường quản trị RRTD, theo đó tác giả đã chuyển đổi mô

hình quản lý theo chiều ngang sang mô hình quản lý theo chiều dọc, theo mô hình

này hoạt động cấp tín dụng hầu như được quản lý tập trung tại Hội sở chính, các

PGD chủ yếu thực hiện chức năng bán hàng và tác nghiệp, các CN/SGD ngoài chức

năng bán hàng, tác nghiệp còn thực hiện chức năng phân tích tín dụng và quản trị

RRTD theo một hạn mức cho phép.

HĐQT và BTGĐ NHTMCP Phương Nam cần xem xét, nghiên cứu và vận

dụng các giải pháp và kết quả nghiên cứu vào thực tiễn hoạt động ngân hàng để

kiểm soát RRTD ở mức chấp nhận, đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả hoạt

động quản trị RRTD, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và gia tăng

giá trị cho các cổ đông. Bên cạnh đó, tác giả cũng có một số kiến nghị đối với các

cơ quan quản lý nhà nước như Chính phủ và NHNN, nhằm tạo ra hành lang pháp lý

và cơ chế chính sách, hỗ trợ cho các NHTM đạt hiệu quả cao trong hoạt động quản

trị RRTD.

Thông qua kết quả khảo sát thực tế về các vấn đề nghiên cứu tại NHTMCP

Phương Nam, tác giả tiến hành phân tích đánh giá các kết quả thu được cũng như

tiến hành bổ sung, ch nh sửa phần giải pháp cho hoàn thiện. Qua khảo sát thực tế,

tác giả nhận thấy các nhận định của các cán bộ quản lý và các nhân viên làm công

tác tín dụng cũng gần như đồng quan điểm với tác giả về các vần đề cần nghiên cứu

và phù hợp với thực tiễn hoạt động của NHTMCP Phương Nam.



101



KẾT LUẬN

Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đã và đang thực hiện các cam kết của

WTO cũng như hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội

để phát triển nhưng cũng đối mặt với vô vàn thử thách trong quá trình hoạt động,

các NHTM cũng không ngoại lệ. Từ đó hoạt động ngân hàng vốn đã phức tạp nay

càng tiềm ẩn những rủi ro khó kiểm soát, đặc biệt là RRTD.

Thực tiễn hoạt động tín dụng của NHTMCP Phương Nam trong thời gian qua

cho thấy, mặc dù đã có nhiểu thành công và đổi mới trong phương pháp quản trị

RRTD,…nhưng nhìn chung vẫn còn những hạn chế và tồn tại cần khắc phục. Từ

việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá hoạt động tín dụng của NHTMCP Phương

Nam giai đoạn 2007 – 2011, kết hợp với kiến thức đã lĩnh hội được trong quá trình

học tập và nghiên cứu tại Viện Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh cũng như kinh nghiệm thực tế trong gần 8 năm công tác tại

NHTMCP Phương Nam, tác giã đã đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

quản trị RRTD tại NHTMCP Phương Nam trên cơ sở các định hướng và mục tiêu

hoạt động trong những năm sắp tới, phù hợp với các chuẩn mực Basel, đặc biệt là

mô hình cấp tín dụng mới. Việc khảo sát thực tế về vấn đề nghiên cứu, giúp ngân

hàng triển khai các giải pháp trong thực tế một cách có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, khi

triển khai thực hiện chắc sẽ gặp phải nhiều khó khăn, trở ngại trong quá trình

chuyển đổi và xây dựng mô hình mới nhưng với tầm nhìn chiến lược của HĐQT, sự

lãnh đạo tài tình của BTGĐ, sự nhiệt huyết và năng động của đội ngủ cán bộ, nhân

viên NHTMCP Phương Nam, tác giả hoàn toàn có niềm tin về thành công của mô

hình mới và sự phát triển bền vững của NHTMCP Phương Nam trong tương lai.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực trong quá trình nghiên cứu nhưng do

hạn chế về mặt kiến thức cả về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, môi trường kinh

doanh thay đổi liên tục và nhanh chóng nên đề tài nghiên cứu không thể tránh khỏi

những thiếu sót và hạn chế, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy,

Cô, các Anh, Chị đồng nghiệp và quý bạn đọc.



102



TÀI LIỆU THAM KHẢO



Tiếng việt

1.



Chu Thị Hương Giang, 2009. Ứng dụng hiệp ước Basel II vào hệ thống quản

trị rủi ro tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ. Đại học

Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.



2.



Trần Huy Hoàng, 2010. Quản trị ngân hàng. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà

xuất bản Lao động Xã hội.



3.



Trần Hoàng Ngân và Nguyễn Thị Thùy Linh, 2007. Xây dựng chuẩn mực cho

hệ thống ngân hàng Việt Nam trong quá trình hội nhập. Tạp chí Phát triển

Kinh tế, số tháng 12/2007, trang 18-23.



4.



Nguyễn Đào Tố, 2008. Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng từ những

ứng dụng nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu (Tạp chí Ngân hàng số 5/2008).

. [Ngày truy cập: 23 tháng

05 năm 2012].



5.



Báo cáo thường niên của Ngân hàng TMCP Phương Nam năm 2007, 2008,

2009, 2010, 2011.



6.



Hạn chế nguy cơ rủi ro hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt

Nam. . [Ngày truy cập: 29 tháng 02 năm 2012].



7.



Quyết định 112/2006/QĐ-TTg, Đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam

đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, ngày 24 tháng 5 năm 2006.



8.



Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, Ban hành quy định về phân loại nợ, trích

lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng

của tổ chức tín dụng, ngày 22 tháng 4 năm 2005.



103



9.



Quyết định 18/2005/QĐ-NHNN, Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của

Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, ngày 25 tháng 4 năm 2007.



10. Quyết định 780/QĐ-NHNN, Về việc phân loại nợ đối với nợ được điều ch nh

kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, ngày 23 tháng 4 năm 2012.

11. Các thông tin truy cập trên các trang website: Ngân hàng Nhà nước,

Vneconomy, cafef, …



104



PHỤ LỤC 1

PHÂN LOẠI NỢ

Theo Điều 6, quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 (QĐ 493) và

quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 (QĐ 18) thì TCTD thực hiện phân

loại nợ thành 5 nhóm như sau:

 Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

 Các khoản nợ trong hạn và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả

gốc và lãi đúng hạn;

 Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả năng thu

hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời

hạn còn lại;

 Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định.

 Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

 Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày;

 Các khoản nợ điều ch nh kỳ hạn trả nợ lần đầu;

 Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định.

 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

 Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày;

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu;

 Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng

trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;

 Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định.

 Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:



105



 Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo

thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

 Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định.

 Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

 Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên

theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả

nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá

hạn hoặc đã quá hạn;

 Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;

 Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định.

Quyết định này cũng nêu rõ thời gian thử thách để TCTD có thể phân loại lại

các khoản nợ vào nhóm có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) là 6 tháng đối với khoản

nợ trung và dài hạn, 3 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày khách hàng

bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi của khoản nợ bị quá hạn hoặc khoản nợ được cơ

cấu thời hạn trả nợ, với điều kiện TCTD có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo)

để đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.

Đối với khách hàng có từ 2 khoản nợ trở lên tại TCTD mà có bất cứ một

khoản nợ nào bị phân loại vào nhóm có rủi ro cao hơn các khoản nợ khác, TCTD

phải phân loại lại các khoản nợ còn lại của khách hàng vào nhóm có rủi ro cao nhất

đó. Trường hợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại



106



TCTD tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ

của khoản nợ vay hợp vốn do TCTD làm đầu mối phân loại, TCTD tham gia cho

vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợp vốn) của

khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do TCTD đầu mối phân loại hoặc do TCTD

tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo nhóm nợ nào có rủi ro cao hơn. Ngoài

ra, TCTD có thể phân loại lại các khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các

trường hợp: các khoản nợ của khách hàng bị các TCTD khác phân loại vào nhóm

nợ có rủi ro cao hơn; khả năng tài chính hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suy

giảm liên tục; có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực

kinh doanh của khách hàng; …

Mặt khác, theo Điều 7 QĐ 493 và QĐ 18, TCTD có đủ khả năng và điều kiện

thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính thì xây dựng chính sách phân

loại nợ căn cứ trên Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được NHNN chấp thuận

bằng văn bản như sau.

 Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả

năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.

 Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng

thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả

năng trả nợ.

 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có

khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được TCTD

đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.

 Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn

thất cao.

 Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Các khoản nợ được TCTD đánh giá là



không còn khả năng thu hồi, mất vốn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ VÀ NHNN

Tải bản đầy đủ ngay(148 tr)

×