Tải bản đầy đủ - 148 (trang)
2 HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNGCỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

2 HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNGCỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 148trang

21



và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ kỹ thuật phòng chống

RRTD, xử lý RRTD và giải quyết hậu quả do RRTD gây ra một cách nghiêm túc.

Kiểm tra, kiểm soát để bảo đảm việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng

chống RRTD đã hoạch định. Qua đó phát hiện các RRTD tiềm ẩn, các sai sót khi

thực hiện giao dịch.Trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp điều ch nh, bổ sung nhằm

hoàn thiện hệ thống quản trị RRTD.

1.2.1.3 Sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, khi rủi ro xảy ra đều kéo theo nó

những ảnh hưởng khó lường và hậu quả không dễ dàng khắc phục. Do vậy, quản trị

rủi ro là hoạt động trọng tâm của các NHTM, bởi kiểm soát rủi ro chặt chẽ đồng

nghĩa với việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động. Mặt khác, nếu không chấp

nhận rủi ro thì không thể tạo ra các cơ hội đầu tư, kinh doanh mới. Do đó, quản trị

rủi ro là một nhu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình tồn tại, phát triển của các NHTM.

Trong hoạt động tín dụng cũng vậy, ngân hàng biết rằng cấp tín dụng là rủi ro,

vậy tại sao ngân hàng lại cấp tín dụng để rồi phải quản trị rủi ro? Bởi vì rủi ro là sự

không chắc chắn, rủi ro vừa tiềm ẩn thiệt hại vừa tiềm ẩn lợi nhuận, rủi ro có mối

quan hệ đồng biến với lợi nhuận. Ngân hàng cấp tín dụng là kỳ vọng tìm kiếm lợi

nhuận nhưng rủi ro là khả năng khách hàng không trả được nợ vay. Vì vậy, cần phải

quản trị RRTD để hạn chế tối đa thiệt hại, đồng nghĩa là tối đa hóa lợi nhuận và tối

đa hóa giá trị cho cổ đông.

1.2.2 Hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng

1.2.2.1 Khái niệm

Hiệu quả quản trị là mức độ đạt được trong quá trình điều hành và thực hiện

các chính sách, chiến lược và mô hình quản trị đã đề ra. Các nhà quản trị định kỳ

đánh giá toàn diện công tác quản trị để biết được hiệu quả đạt được như thế nào;

xem xét quy trình quản trị có bị vướng mắc, trở ngại ở khâu nào; các công cụ,

phương pháp quản trị có phù hợp hay cần phải sửa đổi, bổ sung;…



22



Hiệu quả quản trị RRTD là mức độ đạt được trong quá trình điều hành và thực

hiện các chính sách, chiến lược và mô hình quản trị RRTD đã đề ra. Quản trị RRTD

ch mang lại hiệu quả nếu cơ chế quản trị rủi ro được xây dựng trên nền tảng khoa

học được kiểm chứng bằng thực nghiệm.

Hiệu quả quản trị nói chung và hiệu quả quản trị RRTD nói riêng ảnh hưởng

rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Một NHTM có công tác

quản trị RRTD không hiệu quả hoặc không đạt hiệu quả tối đa sẽ tác động trực tiếp

đến hoạt động tín dụng, việc kiểm soát RRTD không tốt sẽ dẫn đến nợ xấu gia tăng

đồng nghĩa với việc dự phòng rủi ro tăng lên, hiệu quả hoạt động tín dụng giảm sút,

từ đó hoạt động kinh doanh của ngân hàng không đạt được kết quả mong muốn.

1.2.2.2 Ý nghĩa nâng cao hiệu quả quản trị RRTD

Hoạt động tín dụng giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh doanh

ngân hàng và tạo ra phần lớn lợi nhuận cho các NHTM. Tuy nhiên, hoạt động tín

dụng cũng tiềm ẩn rủi ro cao, do đó các NHTM luôn cố gắng xây dựng mô hình

quản trị RRTD hiệu quả nhằm phòng ngừa và hạn chế RRTD. Có nhiều biện pháp

để nâng cao hiệu quả quản trị RRTD nhưng kết quả mong muốn cuối cùng của các

nhà quản trị là nâng cao chất lượng tín dụng, đem đến nhiều lợi ích cho các NHTM,

các doanh nghiệp và toàn bộ xã hội. Xét về phía NHTM và nền kinh tế, nâng cao

hiệu quả quản trị RRTD đem lại nhiều ý nghĩa quan trọng sau:

 Đối với các NHTM: Việc nâng cao hiệu quả quản trị RRTD góp phần đảm bảo

và làm gia tăng lợi nhuận; có khả năng thu hồi nợ đầy đủ và đúng hạn, tăng

vòng quay vốn tín dụng, tạo thêm nguồn vốn, từ đó mở rộng khả năng cung

cấp tín dụng cũng như các dịch vụ ngân hàng khác; tăng khả năng sinh lợi của

các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí

nghiệp vụ, chi phí quản lý và các chi phí thiệt hại khác do không thu hồi được

vốn đã cho vay; giúp các NHTM thu hút nhiều khách hàng hơn bằng các hình

thức và chất lượng của sản phẩm, dịch vụ, qua đó tạo ra một hình ảnh tốt về



23



biểu tượng và uy tín ngân hàng, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của

các NHTM trên thị trường.

 Đối với nền kinh tế: Việc nâng cao hiệu quả quản trị RRTD giúp hệ thống

ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả, góp phần cải thiện khả năng phòng

chống của hệ thống tài chính từ những tác động tiêu cực của thị trường tài

chính thế giới. Giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn, phát

triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo ra nhiều của cải cho xã hội. Từ đó tạo

ra nhiều công ăn việc làm, làm giảm thất nghiệp, nâng cao phúc lợi xã hội, cải

thiện khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế.

1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả quản trị RRTD

Hoạt động quản trị RRTD của ngân hàng có thể đạt hiệu quả tối đa nhưng

cũng có thể hiệu quả đạt được không cao. Có nhiều nguyên do dẫn đến điều này

trong đó có các nhân tố sau đây:

 Hệ thống pháp lý: Rủi ro pháp lý là loại rủi ro rất khó để kiểm soát, sự thay

đổi liên tục các văn bản pháp luật trong khoảng thời gian ngắn khiến các ngân

hàng không kịp ứng phó; hoặc sự chồng chéo, không nhất quán giữa các văn

bản pháp luật nên khi vận dụng vào thực tiễn bị vướng mắc và bất cập. Chẳng

hạn, việc xử lý TSBĐ (Bất động sản) tại các ngân hàng hiện nay đang gặp

vướng mắc, một phần do trình độ và khả năng của cán bộ ngân hàng nhưng

phần lớn do thủ tục pháp lý phức tạp, cơ chế pháp lý chưa phù hợp; Nghị định

163 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm cho phép ngân hàng có quyền bán

TSBĐ (Bất động sản) nhưng Bộ Luật dân sự lại quy định người đứng tên trong

hợp đồng mua bán phải là chủ bất động sản hay người đại diện hợp pháp của

chủ bất động sản; do đó nếu chủ bất động sản không đồng ý thì không thể thực

hiện thủ tục sang tên cho bất động sản đó; do vậy để có quyền bán bất động

sản hợp pháp thì ngân hàng phải khởi kiện, nhưng thực tế quá trình tố tụng tại

Tòa án và giải quyết tại Thi hành án trải qua nhiều năm, đến khi xử lý xong



24



chưa chắc đã thu hồi đủ vốn và lãi. Chính hệ thống pháp lý không đồng bộ làm

cho hoạt động quản trị RRTD của các NHTM không đạt được hiệu quả tối đa.

 Sự phát triển của thị trường tài chính: Mức độ phát triển của thị trường tài

chính mà đặc biệt là thị trường vốn cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản trị

RRTD. Ở Việt Nam, các công cụ chứng khoán phái sinh trên thị trường chứng

khoán và thị trường tiền tệ chưa đa dạng, mới ch có Hợp đồng kỳ hạn

(Forward), Hợp đồng tương lai (Futures), Hợp đồng quyền chọn (Options),

hợp đồng hoán đổi (Swap) về hàng hóa và tiền tệ, chưa có các loại như: Hợp

đồng hoán đổi RRTD (Credit Default Swap – CDS), Chứng khoán đảm bảo

bằng thế chấp (Mortgage Backed Securities – MBS), …Đây là các loại công

cụ chứng khoán phái sinh rất hữu hiệu trong việc chuyển RRTD sang nhà đầu

tư, hạn chế RRTD cho các ngân hàng.

 Nguồn nhân lực: Đây là nhân tố rất quan trọng và quyết định các nhân tố khác

trong hoạt động quản trị RRTD. Nguồn nhân lực mà đặc biệt là HĐQT và

BTGĐ có trình độ học vấn và chuyên môn cao sẽ đưa ra các định hướng,

chiến lược và mục tiêu hoạt động hiện đại, tiên tiến và phù hợp với xu hướng

phát triển của thế giới, nhân viên được đào tạo bài bản và đúng chuyên ngành

sẽ hấp thụ và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của ngân hàng. Hiện

nay ở một số NHTM, Lãnh đạo quản trị ngân hàng theo cảm tính, không

chuyên nghiệp, mang tính kinh nghiệm, chưa chú trọng công tác quản trị rủi

ro,… NVTD thiếu khả năng, kỹ năng dự báo kinh tế, thị trường, phân tích tình

hình tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp. Chế độ đãi ngộ không hợp lý

nên số lượng cán bộ nhân viên giỏi chuyển sang ngân hàng khác.

 Công nghệ: Yếu tố công nghệ cũng không kém phần quan trọng trong việc

nâng cao hiệu quả quản trị RRTD, nó là một công cụ hỗ trợ hữu hiệu trong

quản trị RRTD. Một ngân hàng có công nghệ yếu kém, lạc hậu sẽ ảnh hưởng

lớn và làm trì trệ mọi hoạt động. Cụ thể, hệ thống máy tính và các trang thiết

bị cũ, lỗi thời; các chương trình máy tính, phần mềm ứng dụng, phần mềm bảo



25



vệ, bảo mật về dữ liệu và thông tin không được đảm bảo, cải tiến và cập nhật

theo yêu cầu thực tiển; phương thức quản trị công nghệ không phù hợp;…sẽ

gây ra nhiều khó khăn và trở ngại trong hoạt động quản trị RRTD.

 Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng về danh mục cho vay, lãi suất, định

giá TSBĐ,… nếu không được xây dựng một cách khoa học, phù hợp với thực

tiễn sẽ tác động không nhỏ đến hiệu quả quản trị RRTD. Chẳng hạn, lãi suất

cho vay không được xác định dựa trên chi phí vốn, mức độ rủi ro và mức lợi

nhuận hợp lý của ngân hàng nghĩa là các ngân hàng không định giá khoản vay

trên cơ sở đảm bảo lãi cho vay đủ bù đắp chi phí biên của vốn, chi phí quản lý

khoản vay, phần bù rủi ro và lợi nhuận hợp lý. Việc định giá khoản vay được

thực hiện một cách cảm tính hoặc cứng nhắc dựa vào mức lãi suất chung cho

tất cả khách hàng, việc lượng hóa độ rủi ro của khách hàng, dự án gặp khó

khăn khi ngân hàng không có phần mềm và đầy đủ thông tin để thực hiện, các

thông số của thị trường dùng trong đo lường (hệ số bêta, xếp hạng tín dụng,…)

chưa có cơ quan chuyên nghiệp để xác định.

 Phương thức quản trị RRTD: Phương thức quản trị RRTD bao gồm phương

pháp, công cụ và mô hình quản trị RRTD mà các nhà quản trị sử dụng để nhận

diện, phân tích, đo lường và đánh giá RRTD nhằm kiểm soát và hạn chế

RRTD ở mức chấp nhận được. Vì vậy, nếu ngân hàng sử dụng phương thức

quản trị RRTD không phù hợp thì việc kiểm soát RRTD sẽ không hiệu quả.

Hiện nay đã có nhiều NHTM chú trọng hơn đến quản trị rủi ro và thực hiện

mô hình quản trị RRTD theo chuẩn mực Basel nhưng vẫn còn nhiều NHTM

chưa xây dựng được mô hình thích hợp để lượng hóa RRTD. Một số NHTM

đang áp dụng chương trình chấm điểm tín dụng hoặc hệ thống xếp hạng tín

dụng nội bộ để đo lường RRTD nhưng mỗi ngân hàng tự xây dựng và không

theo một quy chuẩn chung phù hợp với thông lệ quốc tế.

 Hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin khách hàng: Chương trình quản lý dữ liệu

và nguồn cung cấp thông tin khách hàng cũng là yếu tố quan trọng và có tính



26



nền tảng trong hoạt động quản trị RRTD. Các NHTM hiện nay cố gắng đầu tư

các chương trình quản lý cơ sở dữ liệu nhưng nhìn chung vẫn chưa hoàn thiện,

nguồn cung cấp thông tin chưa chính xác và còn nghèo nàn, thông tin đầu vào

cần thiết phục vụ việc ra quyết định của ngân hàng chưa được thu thập, lưu trữ

và xử lý hiệu quả, thông tin khách hàng lấy từ các nguồn phi chính thức. Từ

đó việc phân tích tín dụng và đo lường rủi ro thiếu chính xác dẫn đến hiệu quả

quản trị RRTD của các NHTM hiện nay không cao.

 Các nhân tố khác: Môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh; chính sách trả

lương theo quy mô hoạt động, lợi nhuận,…của ngân hàng mà không tính đến

mức độ rủi ro khiến nhân viên chú trọng đến tăng trưởng, dẫn đến nguy cơ rủi

ro cao; hay tâm lý lạm dụng tài sản thế chấp nhất là trong điều kiện kinh tế

tăng trưởng nóng mà không chú trọng đến dòng tiền được sản sinh ra từ

phương án, dự án sản xuất kinh doanh,…là các nhân tố ảnh hưởng không nhỏ

đến hiệu quả quản trị RRTD.

1.2.2.4 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả quản trị RRTD

Hiệu quả quản trị RRTD thể hiện mức độ hoàn thành công tác quản trị RRTD

của NHTM thông qua các ch tiêu về kết quả như: tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, Tỷ

lệ khả năng bù đắp RRTD,…Duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu hợp lý, trong

giới hạn cho phép nghĩa là RRTD được kiểm soát, hoạt động quản trị RRTD đạt

hiệu quả cao. Ngoài ra, các tiêu chí về nguyên nhân như: trình độ nguồn nhân lực,

trình độ công nghệ (cả về máy móc thiết bị, cơ sở dữ liệu và phương thức quản trị

điều hành), chính sách và chiến lược hoạt động,…cũng cần phải được xem xét khi

đánh giá hiệu quả quản trị RRTD. Một ngân hàng có trình độ nguồn nhân lực cao,

chuyên nghiệp và năng động; trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại và phù hợp với

các chuẩn mực quốc tế,… sẽ giúp ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng đồng

nghĩa với việc nâng cao hiệu quả quản trị RRTD.

 Tỷ lệ nợ quá hạn:

Phƣơng trình 1.1: Tỷ lệ nợ quá hạn (Trần Huy Hoàng, 2010, trang 177).



27



Dư nợ quá hạn



Tỷ lệ nợ quá hạn =



x 100%



Tổng dư nợ cho vay

Tỷ lệ trên ch đề cập đến những khoản nợ đã quá hạn, mà không đề cập đến

những món vay có một kỳ hạn bị quá hạn (lúc này, toàn bộ dư nợ từ kỳ hạn đó

trở về sau sẽ bị chuyển nợ quá hạn). Như vậy, chính xác hơn, ta có:

Tỷ lệ dư nợ quá hạn =



Tổng dư nợ có nợ quá hạn



x 100%



Tổng dư nợ cho vay



 Tỷ lệ nợ xấu:

Phƣơng trình 1.2: Tỷ lệ nợ xấu

Dư nợ xấu



Tỷ lệ nợ xấu =



x 100%



Tổng dư nợ cho vay

Theo khuyến cáo của NHNN, tỷ lệ nợ quá hạn <= 5%, tỷ lệ nợ xấu <= 3%.

 Hệ số RRTD:

Phƣơng trình 1.3: Hệ số RRTD (Trần Huy Hoàng, 2010, trang 179).

Hệ số RRTD =



Tổng dư nợ cho vay



x 100%



Tổng tài sản có

Hệ số này cho thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tổng tài sản có, tỷ

trọng này càng lớn thì lợi nhuận sẽ càng lớn nhưng đồng thời RRTD càng cao,

hiệu quả hoạt động quản trị RRTD càng thấp.

 Tỷ lệ xóa nợ:

Phƣơng trình 1.4: Tỷ lệ xóa nợ (Trần Huy Hoàng, 2010, trang 180).

Tỷ lệ xóa nợ =



Các khoản xóa nợ ròng

Tổng dư nợ cho vay



 Tỷ lệ khả năng bù đắp RRTD:



x 100%



28



Phƣơng trình 1.5: Tỷ lệ khả năng bù đắp RRTD (Trần Huy Hoàng, 2010,

trang 180).

Dự phòng RRTD được trích lập

Tỷ lệ khả năng bù đắp RRTD =



Nợ quá hạn khó đòi



x 100%



1.2.3 Đo lƣờng rủi ro tín dụng

Là việc xây dựng mô hình thích hợp để định lượng mức độ rủi ro của khách

hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một

khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro. Sau đây là các mô hình được áp

dụng tương đối phổ biến:

1.2.3.1 Mô hình định tính về RRTD - Mô hình chất lƣợng 6C

MÔ HÌNH CHẤT

LƢỢNG 6C



Tƣ cách

ngƣời vay

(Character)



Năng lực

ngƣời vay

(Capacity)



Thu nhập

của ngƣời

vay (Cash)



Bảo đảm

tiền vay

(Collateral)



Các điều

kiện

(Conditions)



Kiểm soát

(Control)



Sơ đồ 1.2: Mô hình chất lƣợng 6C

 Tư cách người vay (Character): NVTD phải làm rỏ mục đích xin vay của

khách hàng, mục đích vay có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của

ngân hàng và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng không. Đồng thời

xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ, khách hàng mới cần

phải thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: Trung tâm thông tin tín

dụng của NHNN (CIC), ngân hàng khác, các cơ quan thông tin đại chúng,…

 Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào quy định pháp luật của

quốc gia, đòi hỏi người đi vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực

hành vi dân sự.



29



 Thu nhập của người vay (Cash): Phải xác định được nguồn trả nợ của người

vay như dòng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền từ thanh lý tài sản,

hoặc tiền từ phát hành chứng khoán,…

 Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và

là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.

 Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tuỳ theo chính

sách tín dụng theo từng thời kỳ.

 Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của pháp

luật có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay

hay không. Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của

ngân hàng hay không.

1.2.3.2 Các mô hình lƣợng hóa rủi ro tín dụng

 Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s

RRTD trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái

phiếu và khoản cho vay. Việc xếp hạng này được thực hiện bởi một số dịch vụ xếp

hạng tư nhân trong đó có Moody‟s và Standard & Poor‟s là những dịch vụ tốt nhất.

Đối với Moody‟s xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor‟s thì

cao nhất là AAA. Việc xếp hạng giảm dần từ Aa (Moody‟s) và AA (Standard &

Poor‟s) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao. Trong đó,

chứng khoán (khoản cho vay) trong 4 loại đầu thì ngân hàng nên đầu tư (cho vay),

còn các chứng khoán (khoản cho vay) bên dưới xếp hạng thấp hơn thì ngân hàng

không đầu tư (không cho vay). Nhưng thực tế vì phải xem xét mối quan hệ tỷ lệ

thuận giữa rủi ro và lợi nhuận nên những chứng khoán (khoản cho vay) tuy được

xếp hạng thấp (rủi ro không hoàn vốn cao) nhưng lại có lợi nhuận cao nên đôi lúc

ngân hàng chấp nhận đầu tư vào các loại chứng khoán (khoản cho vay) này.

Bảng 1.1: Mô hình xếp hạng của công ty Moody’s và Standard & Poor’s

(Trần Huy Hoàng, 2010, trang 172).



30



Công ty xếp hạng

Standard & Poor’s

AAA

AA

A

BBB

BB

B

CCC

CC

C



Moody’s

Aaa

Aa

A

Baa

Ba

B

Caa

Ca

C



Tình trạng

Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất

Chất lượng cao

Chất lượng trên trung bình

Chất lượng trung bình

Chất lượng trung bình, mang yếu tố đầu cơ

Chất lượng dưới trung bình

Chất lượng kém

Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ

Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu



 Mô hình điểm số Z (Z score – Credit scoring model)

Việc tìm ra một công cụ để phát hiện dấu hiệu báo trước sự phá sản của khách

hàng vay luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu về rủi ro. Có nhiều

công cụ đã được phát triển, trong đó ch số Z là công cụ được công nhận và sử dụng

rộng rãi. Ch số Z được phát minh bởi Giáo sư Edward I.Altman, trường kinh doanh

Leonard N.Stern, thuộc Đại học NewYork, dựa vào nghiên cứu khá công phu trên

số lượng nhiều công ty khác nhau tại Mỹ và được phát triển độc lập bởi Giáo sư

Richard Taffler và những nhà nghiên cứu khác. Đến nay, hầu hết các nước vẫn còn

sử dụng vì nó có độ tin cậy khá cao.

Ch số Z bao gồm 5 ch số: X1 = Vốn lưu động/Tổng tài sản (Working

Capitals/Total Assets), X2 = Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản (Retain Earnings/Total

Assets), X3 = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế/Tổng tài sản (EBIT/Total Assets), X4

= Giá trị thị trường của Vốn chủ sở hữu/Giá trị sổ sách của tổng nợ (Market Value

of Total Equity/Book Values of Total Liabilities, X5 = Doanh thu/Tổng tài sản

(Sales/Total Assets).

Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người đi

vay và phụ thuộc vào: trị số các ch số tài chính của người vay, tầm quan trọng của

các ch số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người đi vay trong quá khứ.

Trị số Z càng cao thì xác suất vỡ nợ của người vay càng thấp. Ngược lại, khi trị số Z



31



thấp hoặc một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ

cao. Từ dó, Altman xây dựng mô hình điểm trong các trường hợp cụ thể sau:

Bảng 1.2: Mô hình điểm số Z

Doanh nghiệp đã Doanh nghiệp chưa

Doanh nghiệp

cổ phần hóa,

cổ phần hóa, ngành ngành thương mại,

ngành sản xuất:

sản xuất:

dịch vụ và khác:

Z = 1,2X1 +

Z‟ = 0,717X1 +

Z‟‟ = 6,56X1 +

1,4X2 + 3,3X3 +

0,847X2 + 3,107X3 3,26X2 + 6,72X3 +

0,64X4 + 0,999X5 + 0,42X4 + 0,998 X5

1,05X4



Z>2,99



Z‟>2,9



Z‟‟>2,6



1,81


1,23< Z‟< 2,9



1,2


Z<1,81



Z‟<1,23



Z‟‟<1,2



Tình trạng



Doanh nghiệp nằm

trong vùng an toàn,

chưa có nguy cơ

phá sản

Doanh nghiệp nằm

trong vùng cảnh

báo, có thể có nguy

cơ phá sản

Doanh nghiệp nằm

trong vùng nguy

hiểm, nguy cơ phá

sản cao



Những hạn chế của mô hình Altman: được xây dụng dựa trên một mẫu tương

đối nhỏ; ch dựa trên các công ty Mỹ. Các mô hình ch số Z phù hợp với Mỹ hoặc

đối với một số ngành cụ thể, nó không phù hợp tại các nước, các ngành khác nhau.

 Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng

Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình điểm

tín dụng tiêu dùng gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ

thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, tài khoản cá nhân, thời gian công

tác. Bảng dưới đây là các hạng mục, mức điểm được sử dụng tại các ngân hàng Mỹ:

Bảng 1.3: Hạng mục và mức điểm của mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng

(Trần Huy Hoàng, 2010, trang 174).

STT

Các hạng mục xác định chất lƣợng tín dụng

1

Nghề nghiệp của ngƣời vay:

- Chuyên gia hay phụ trách kinh doanh



Điểm

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNGCỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(148 tr)

×