Tải bản đầy đủ - 54 (trang)
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 54trang

23



thấp hơn những công ty lớn. Ngoài ra khi chính thức niêm yết lên thị trƣờng, những

công ty kiểu này lại trở nên nhạy cảm hơn nên chỉ cần một vài thông tin không tốt

hay do yếu tố thị trƣờng dễ dàng ảnh hƣởng đến những cổ phiếu này. Do đó, cùng là

tỷ suất sinh lợi bất thƣờng âm, nhƣng đối với nhóm cổ phiếu quy mô nhỏ nhất, mức

độ âm là lớn nhất.

Tác giả tiếp tục phân tích TSSL của các cổ phiếu IPO dựa vào nhóm ngành.

Bảng 3.2. Phân bổ theo nhóm ngành kinh doanh.



Nhóm ngành.



Dịch vụ lƣu trú và ăn uống.



Số

lƣợng.



Gross Proceeds

(Tỷ)

(Mean/ Median)



Age

(Mean/Median)



1



2,074.618



25/25



1



243,785



13/13



Khai khoáng.



4



1,600/1,390



22.5/19



Sản xuất.



13



1,210/418



19.5/17



1



363.4



9/9



5



731/680



11.6/11



1



1,300.201



12/12



Thƣơng mại (Bán sỉ và bán lẻ).



5



1,420/757



29.4/30



Tiện ích cộng đồng.



5



546/280



13.8/13



Vận tải và kho bãi.



3



1,770/2,020



28/32



Xây dựng và bất động sản.



11



2,600/1,420



12.5/13



Tổng



50



Dịch vụ chuyên môn - Khoa học

- Kỹ thuật.



Sản xuất Nông - Lâm - Ngƣ

nghiệp.

Tài chính và bảo hiểm.

Thực phẩm - Đồ uống - Thuốc

lá.



18/14



Bảng 3.2 cho thấy Mean và Median của Gross Proceeds và Mean và Median

của Age các công ty đƣợc phân loại theo ngành. Nhƣ chúng ta thấy trên bảng 3.2 có

sự khác biệt đáng kể giữ các nhóm ngành khi IPO. Nhìn một cách tổng thể các công



24



ty thƣờng tiến hành IPO tại độ tuổi 14. Tuy nhiên các công ty thuộc Sản xuất Nông

- Lâm - Ngƣ nghiệp tiến hành IPO sau khi thành lập đƣợc 9 năm. Ngƣợc lại, các

công ty thuộc lĩnh vực Vận tải và kho bãi tiến hành IPO sau 32 năm thành lập. Tiếp

đến là các công ty thuộc lĩnh vực Thƣơng mại ( bán sỉ và bán lẻ) 30 năm sau khi

thành lập mới tiến hành IPO.

Bảng 3.3. cho thấy TSSL trong giai đoạn 3 năm của các công ty IPO đƣợc

phân chia theo nhóm ngành.

Bảng 3.3. TSSL Phân bổ theo nhóm ngành kinh doanh

Ngành



Số lƣợng



Underpricing



CAR1,36mo



Dịch vụ lƣu trú và ăn uống.



1



82.25%



-138.19%



1



12.38%



1.74%



Khai khoáng.



4



73.99%



-36.62%



Sản xuất.



13



68.52%



-30.22%



1



20.72%



-50.31%



Tài chính và bảo hiểm.



5



88.71%



-46.88%



Thực phẩm - Đồ uống - Thuốc lá.



1



74.11%



-74.49%



Thƣơng mại (Bán sỉ và bán lẻ).



5



66.34%



-27.33%



Tiện ích cộng đồng.



5



62.65%



-41.39%



Vận tải và kho bãi.



3



70.25%



-55.48%



Xây dựng và bất động sản.



11



65.26%



-48.65%



Dịch vụ chuyên môn - Khoa học Kỹ thuật.



Sản xuất Nông - Lâm - Ngƣ

nghiệp.



Nhìn vào bảng trên ta thấy TSSL trong giai đoạn 3 năm của các công ty là

khác nhau khi phân chia theo ngành. Nhìn trên tổng thể thì các công ty dƣờng nhƣ

đều có TSSL âm trong dài hạn ngoại trừ công ty trong lĩnh vực Dịch vụ chuyên

môn - Khoa học - Kỹ thuật có TSSL dƣơng cụ thể là 1.74% điều đó đồng nghĩa các

công ty trong lĩnh vực này khi tiến hành IPO có hiệu quả trong dài hạn là tốt nhất so

với các ngành còn lại trong mẫu. Và các công ty trong lĩnh vực Dịch vụ lƣu trú và

ăn uống có TSSL trong dài hạn -138.19% điều đó có nghĩa nếu các nhà đầu tƣ nắm



25



giữ cổ phiếu của các công ty này đến 3 năm thì sẽ chịu khoản lỗ đáng kể.

Bảng 3.4. Phân bổ theo năm IPO.

Năm



Số lƣợng



Underpricing



CAR1,36mo



2005



9



73.92%



6.88%



2006



3



58.24%



-33.34%



2007



30



69.02%



-45.12%



2008



6



84.35%



-48.02%



2009



2



177.95%



-69.13%



Bảng 3.4 các công ty đƣợc phân chia theo năm tiến hành IPO, trong mẫu

nghiên cứu tác giả chia ra làm 5 năm từ 2005 đến 2009. Số lƣợng các công ty tiến

hành trong mỗi năm là khác nhau, năm có số lƣợng công ty IPO nhiều nhất là năm

2007 và năm có số lƣợng công ty IPO ít nhất là năm 2009. Nhìn vào bảng ta thấy

hiệu quả thấp trong dài hạn dƣờng nhƣ là đặc trƣng chung trong các năm chỉ ngoại

trừ năm 2005, trong năm này các công ty tiến hành IPO và các nhà đầu tƣ có nắm

giữ cổ phiếu đến 3 năm thì cổ phiếu đó vẫn mang lại khoản lời cho nhà đầu tƣ. Và

dƣờng nhƣ vấn đề underpricing trong ngắn hạn và hiệu quả thấp trong dài hạn là

hiện tƣợng chung đã đề cập đến bởi nhiều tác giả trong nhiều nghiên cứu trên thế

giới.

Tác giả tiếp tục phân loại các công ty trong mẫu theo Age ( Tính từ lúc công

ty thành lập đến lúc công ty phát hành ra công chúng lần đầu.)

Bảng 3.5. Phân bổ theo tuổi.

Tuổi



Số lƣợng



Underpricing



CAR1,30mo



1-3



4



39.87%



-12.57%



5-9



9



112.33%



-2.62%



10 - 19



20



79.19%



-60.79%



20 - 50



17



40.40%



-28.68%



Tổng



50



68.82%



-35.54%



Căn cứ vào mẫu nghiên cứu tác giả chia các công ty trong mẫu ra thành 4

nhóm tuổi khác nhau cụ thể nhƣ sau:



26



- Nhóm 1: 1 - 3 tuổi.

- Nhóm 2: 5 - 9 tuổi.

- Nhóm 3: 10 - 19 tuổi.

- Nhóm 4: 20 - 50 tuổi.

Nhìn vào bảng ta thấy các công ty trong giai đoạn khác nhau khi tiến hành

IPO nhận đƣợc TSSL khác nhau. Hình nhƣ Age có mối quan hệ mật thiết với hiệu

quả của các đợt IPO trong dài hạn. Phù hợp với khái niệm rằng rủi ro phát hành yêu

cầu một TSSL cao hơn và Age đại diện cho rủi ro. Hiệu quả trong dài hạn của các

đợt IPO đƣợc thể hiện rõ hơn trong bảng trên sử dụng Age nhƣ một thƣớc đo về

TSSL kỳ vọng và sự lạc quan của nhà đầu tƣ.

Trong nghiên cứu của Ritter 1991, ông cho rằng khi phân chia các công ty

theo ngành và tuổi thì có các công ty có tuổi quá già và có công ty có tuổi quá trẻ,

chính vì những điều này sẽ ảnh hƣởng đến kết quả IPO vì thế Ông loại trừ những

công ty có tuổi quá trẻ cũng nhƣ quá già cụ thể Ông cho rằng các công ty trong lĩnh

vực Tài chính (Financial) có tuổi quá già và các công ty thuộc lĩnh vực Dầu và Gas

là các công ty có tuổi quá trẻ. Và Ông cho rằng khi làm nhƣ vậy thì khi phân tích sẽ

cho kết quả chính xác hơn. Tuy nhiên khi phân tích trên thị trƣờng chứng khoán

Việt Nam tác giả lại thấy rằng các công ty khi tiến hành IPO thƣờng có độ tuổi

trung bình khoảng 14 và những công ty có độ tuổi già nhất là 44 và độ tuổi trẻ nhất

là 1 và nó lại không thuộc ngành Tài chính cũng nhƣ ngành Dầu và Gas. Chính vì

nguyên nhân đó khi nghiên cứu tác giả sẽ loại trừ những công ty có tuổi lớn nhất

thuộc ngành Thƣơng mại ( Bán sỉ và bán lẻ) và công ty có độ tuổi trẻ nhất thuộc

ngành Tiện ích cộng đồng.

Bảng 3.6. Phân bổ theo tuổi ngoại trừ các công ty trong lĩnh vực Bank, Oil

và Gas.

Tuổi

1-3

5-9

10 - 19

20 - 50

Tổng



Số lƣợng

3

9

20

16

48



Underpricing

50.83%

112.33%

79.19%

41.02%

70.91%



CAR1,30mo

-11.90%

-2.62%

-60.79%

-24.21%

-34.63%



27



Và cũng theo nghiên cứu của Ritter 1991 ông cho rằng các công ty có lịch sử

hoạt động lâu năm khi tiến hành IPO đem lại TSSL thấp hơn so với các công ty có

lịch sử hoạt động ít hơn. Nhƣng điều đó dƣờng nhƣ phù hợp với thị trƣờng chứng

khoán Việt Nam. Nhìn vào bảng 3.6 ta thấy các công ty trong độ tuổi 5 - 9 tuổi có

mức độ Underpricing cao nhất và có TSSL trong giai đoạn 3 năm -2.62% so với các

công ty ở các độ tuổi khác, dƣờng nhƣ khi các nhà đầu tƣ mua cổ phiếu của các

công ty trong độ tuổi này IPO thì khoản lỗ khi nắm giữ cổ phiếu đến 3 năm là thấp

nhất. Ngƣợc lại đối với các công ty có lịch sử hoạt động từ 10 - 19 năm khoản lỗ

của nhà đầu tƣ khi giữ cổ phiếu đến giai đoạn 36 thấp là lớn nhất.

3.2. KẾT QUẢ HỒI QUY.

Tác giả tiến hành chạy mô hình hồi quy bên dƣới:

Returni = b0 + b1*IRi + b2*Log(1+Agei) + b3*Marketi + b4*Voli +

b5*Oili + b6*Banki + εi.

Trong đó:

- Returni : Biến phụ thuộc là TSSL thô giai đoạn 36 tháng ( Raw 3 year total

return)

- IRi : TSSL hiệu chỉnh theo thị trƣờng sử dụng là chỉ số VNINDEX.

- Log(1+Age): Logarithm của 1 + thời gian từ năm thành lập đến năm IPO.

- Marketi : TSSL của thị trƣờng trong giai đoạn 36 tháng.

- Voli : Khối lƣợng phát hành của đợt IPO.

- Oili : Biến giả nhận giá trị là 0 và 1. Nhận giá trị là 1 khi các công ty phát

hành nằm trong ngành Tiện ích cộng đồng. Các công ty nằm trong lĩnh vực khác

nhận giá trị là 0.

- Banki : Biến giả nhận giá trị là 0 và 1. Nhận giá trị 1 khi các công ty phát

hành thuộc lĩnh vực Thƣơng mại ( Bán sỉ và bán lẻ) các lĩnh vực khác nhận giá

trị 0.

Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để chạy mô hình kết quả chi tiết đƣợc

trình bày trong phần phụ lục 2. Kết quả chạy mô hình nhƣ sau.



28

Bảng 3.7. Ƣớc lƣợng tham số.

Returni



P-Value



Constant



0.098



0.227



IR



-0.171



0.093(*)



Log(1+AGE)



-0.243



0.452



MARKET



0.286



0.126



VOL



-8.602E-9



0.077(*)



OIL



-0.012



0.978



BANK



0.010



0.975



R square



0.13



0.393



Bảng 3.8. Tóm tắt hệ số thống kê của biến.



Biến



Mean



Median



RETURN

IR

Log(1+AGE)

MARKET



-0.561457

-0.936285

1.183062

-0.46431



-0.722091

-0.878054

1.176091

-0.76037



Standard

Deviation

0.09194

0.141105

0.044255

0.078234



VOL



6.433459849



6.387704479



0.097962179



OIL

BANK



0.1

0.2



0

0



0.042857143

0.057142857



Bảng 3.9. Ma trận tƣơng quan của các biến độc lập.

Return



IR



Return



1



IR



0.149454 1



Log(1+Age) Market



Vol



Oil



Bank



Log(1+Age) -0.058352 -0.11597 1

Market



0.14469



-0.27148 0.1224732



Vol



-0.179654 0.2185



Oil



-0.011194 0.089667 -0.178503



-0.308485 -0.07721 1



Bank



-0.012505 0.008205 0.0874094



-0.202798 -0.1556



-0.21124



1

0.050055 1



0.666667 1



29



Từ bảng 3.7 ( Bảng ƣớc lƣợng tham số) ta có kết quả của mô hình nhƣ sau:

Return = 0.098 - 0.171*IR - 0.243*Log(1+Age) + 0.286*Market - 8.602E9*Vol - 0.012*Oil + 0.010*Bank

+ Hệ số hồi quy của biến IR (b1) = -0.171. Điều đó có nghĩa là khi IR tăng 1% thì

Return giảm 0,171% (các yếu tố khác không đổi). Với mức ý nghĩa 10%

+ Hệ số hồi quy của biến Log(1+Age) (b2) = -0.243. Điều đó có nghĩa là khi

Log(1+Age) tăng 1% thì Return giảm 0.243% với các yếu tố khác không đổi.

+ Hệ số hồi quy của biến Market (b3) = 0.286. Điều đó có ý nghĩa là khi Market

tăng 1% thì Return tăng 0.286% (các yếu tố khác không đổi).

+ Hệ số hồi quy của biến Vol (b4) = -8.602E-9 Điều đó có ý nghĩa là khi Vol tăng

1% thì Return giảm 8.602E-9% (các yếu tố khác không đổi). Với mức ý nghĩa 10%

+ Hệ số hồi quy của biến Oil (b5) = -0.012. Khi Oil tăng 1% thì Return giảm

0.012% ( các yếu tố khác không đổi).

+ Hệ số hồi quy của biến Bank (b5) = 0.010. Khi Bank tăng 1% thì Return tăng

0.010% ( các yếu tố khác không đổi).

Mô hình có R2 = 13%, mô hình có mức ý nghĩa thấp.

Tác giả sử dụng phƣơng pháp OLS để ƣớc lƣợng hệ số. Với phƣơng pháp

OLS thì có các giả thiết sau:

- Giả thiết 1: Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập là tuyến tính.

Các biến độc lập cho trƣớc và không ngẫu nhiên.

- Giả thiết 2: Sai số trong mô hình có giá trị trung bình bằng 0 và phƣơng sai

của sai số là không đổi.

- Giả thiết 3: Không có sự tƣơng quan giữa các biến độc lập trong mô hình.

- Giả thiết 4: Không có sự tƣơng quan giữa các sai số trong mô hình.

- Giả thiết 5: Không có sự tƣơng quan giữa biến độc lập và sai số trong mô

hình.

Khi sử dụng phƣơng pháp này tác giả kiểm định sự tự tƣơng quan của các biến cũng

nhƣ đa cộng tuyến. Nếu bộ số liệu vi phạm 1 trong 5 giả thiết thì ƣớc lƣợng OLS

không hiệu quả. Chính vì nguyên nhân đó tác giả tiến hành kiểm định các giả thiết.



30



Bởi vì sử dụng phần mềm là SPSS nên khi kiểm định sự tự tƣơng quan tác

giả sẽ nhìn vào Durbin-Watson trong khoảng (1,3) thì không có sự tự tƣơng quan

giữa các biến. Cụ thể mô hình có Durbin-Watson là 1.89 nằm trong khoảng (1,3)

nên mô hình này không có sự tự tƣơng quan giữ các biến.

Và để kiểm định đa cộng tuyến ta sẽ nhìn vào VIF nếu VIF < 10 thì không có

hiện tƣợng đa cộng tuyến, trong mô hình tham số VIF của các biến đều nhỏ hơn 10

nên không có hiện tƣợng đa cộng tuyến.

Kết quả chạy mô hình hổi quy chỉ có 2 biến tác động đến Return và có ý

nghiã thông kê: IR và Vol. Ta thấy IR tác động ngƣợc chiều đến Return điều đó có

nghĩa khi TSSL hiệu chỉnh theo thị trƣờng tăng/ giảm sẽ làm cho TSSL thô của cổ

phiếu các công ty IPO trong giai đoạn 3 năm giảm/ tăng. Kết quả này dƣờng nhƣ

phù hợp với nghiên cứu của Ritter 1991. Bên cạnh đó biến Vol trong mô hình có

mối quan hệ ngƣợc chiều với Return điều này phù hợp với nghiên cứu của Ritter.

Điều đó có nghĩa là các đợt IPO với quy mô càng lớn đem lại TSSL trong dài hạn

càng thấp.

Các biến còn lại nhƣ Age, Market, Oil và Bank khi chạy mô hình không có ý

nghĩa thống kê. Trong đó biến Age và biến Oil có mối quan hệ ngƣợc chiều với

Return điều đó có nghĩa rằng khi công ty có lịch sử hoạt động lâu đời tiến hành IPO

thì TSSL trong dài hạn của cổ phiếu không tốt bằng các cổ phiếu của công ty mới

thành lập mà tiến hành IPO. Điều này cũng đƣợc tác giả đề cập ở trên khi phân tích

các công ty tiến hành IPO phân loại theo tuổi (Age). Bank và Market có tác động

cùng chiều tới Return, điều đó cho thấy rằng TSSL của thị trƣờng có tác động tới

TSSL của các cổ phiếu IPO trong dài hạn bên cạnh đó những công ty có lịch sử hoạt

động càng lâu càng tốt cho hiệu quả IPO trong dài hạn. Nhƣng các nhân tố này lại

không có ý nghĩa thống kê khi chạy mô hình.

Khi so sánh với nghiên cứu của Ritter 1991 dƣờng nhƣ các tác động về dấu

thì tƣơng đồng với nghiên cứu gốc nhƣng trong nghiên cứu trên thị trƣờng Việt

Nam lại có các biến không có ý nghĩa thống kê nhƣ trong nghiên cứu gốc.



31



CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ IPO HIỆU QUẢ.

Nghiên cứu này nghiên cứu về việc định dƣới giá của các cổ phiếu IPO và

hiệu quả trong dài hạn của 50 cổ phiếu IPO trên thị trƣờng Việt Nam giai đoạn từ

2005 - 2009.

Hiệu quả trong dài hạn của các đợt IPO bao gồm TSSL trong 12 tháng, 24

tháng và 36 tháng. Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng TSSL trong 36 tháng để

làm cơ sở nghiên cứu. Nếu các nhà đầu tƣ nắm giữ cổ phiếu càng dài thì TSSL càng

thấp và còn bị âm. Vì vậy các nhà đầu tƣ nên có chiến lƣợc nắm giữ cổ phiếu phù

hợp nhằm mục đích đạt đƣợc TSSL tốt nhất.

Tác giả cũng chạy mô hình để tìm ra các nhân tố tác động đến hiệu quả thấp

trong dài hạn và kết quả tìm đƣợc là có 2 nhân tố tác động. Một là, khối lƣợng phát

hành (Vol) có mối quan hệ ngƣợc chiều với hiệu quả thấp trong dài hạn điều này có

nghĩa quy mô đợt phát hành càng lớn thì trong dài hạn TSSL càng thấp và kết quả

nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Ritter 1991. Hai là, IR có mối quan hệ

ngƣợc chiều với TSSL trong dài hạn. Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của

Ritter.

Hoạt động IPO tuy không còn mới mẻ ở Việt Nam, nhƣng lộ trình IPO của các

doanh nghiệp vẫn còn tồn tại rất nhiều điểm hạn chế. Để đẩy nhanh và nâng cao

hiệu quả IPO trong thời gian tới cần phải xử lý đồng bộ nhiều vấn đề, đặc biệt là

nâng cao nhận thức, đổi mới tƣ duy của doanh nghiệp, chuẩn bị và nghiên cứu kế

hoạch thật kỹ trƣớc khi tiến hành IPO, có nhƣ vậy mới mong đem lại kết quả khả

quan.

Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm tác giả đề xuất một số gợi ý giải pháp.

- Xác định giá khởi điểm và khối lượng phát hành hợp lý:

Các yếu tố về giá khởi điểm và khối lƣợng phát hành cũng ảnh hƣởng rất lớn tới kết

quả IPO. Đối với nhà phát hành, giá khởi điểm phải phản ánh đƣợc hiện trạng và

triển vọng của doanh nghiệp trong tƣơng lai. Sau IPO, doanh nghiệp tăng đƣợc

năng lực tài chính, góp phần cải thiện vấn đề quản trị nội bộ doanh nghiệp, cũng

nhƣ không bị sức ép từ phía nhà đầu tƣ do sự kỳ vọng thái quá, đôi khi vƣợt quá

tiềm năng kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với nhà đầu tƣ, tiền bỏ ra mua cổ



32



phiếu của doanh nghiệp, không chỉ phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp mà còn

phụ thuộc không nhỏ vào những thông tin “đồn thổi”. Nhƣng với chi phí bỏ ra ngày

hôm nay, nhà đầu tƣ lại kỳ vọng trong tƣơng lai, giá cổ phiếu sẽ tăng do doanh

nghiệp làm ăn phát đạt, thu nhập không chỉ có từ cổ tức, mà còn thu nhập từ giá trị

gia tăng do chính doanh nghiệp tạo ra. Giá khởi điểm thấp sẽ tăng khả năng đăng ký

và làm giảm rủi ro cho những nhà bảo lãnh phát hành. Tuy nhiên, giá khởi điểm

thấp cũng có thể sẽ không phản ánh đƣợc sự quan tâm thực sự của nhà đầu tƣ khi

đăng ký và dẫn tới nhiều khả năng các nhà đầu tƣ sẵn sàng bỏ cọc nếu giá trúng

thầu của họ cao so với giá bình quân. Trong trƣờng hợp giá khởi điểm cao, thƣờng

hàm ý rằng DN đƣợc đánh giá cao. Song mức giá này cũng không thể quá cao vì có

thể làm cho việc phát hành trở nên kém hấp dẫn. Cơ sở để đƣa ra mức giá khởi

điểm là dựa vào định giá trị cổ phần. Định giá chứng khoán là khâu khó khăn nhất

và phức tạp nhất khi tiến hành phát hành chứng khoán ra công chúng. Nếu định giá

chứng khoán quá cao thì sẽ khó khăn trong việc bán chứng khoán, còn nếu định giá

chứng khoán quá thấp thì sẽ làm thiệt hại cho tổ chức phát hành. Vì thế, việc định

giá chứng khoán một cách hợp lý sao cho ngƣời mua và ngƣời bán đều chấp nhận

đƣợc là hết sức quan trọng.

Khối lƣợng phát hành (nhiều hay ít) cũng ảnh hƣởng đến giá trúng thầu. Điều

này cho thấy dƣờng nhƣ quy luật cung-cầu chi phối giá cả và xu thế thị trƣờng.

Khối lƣợng phát hành nói lên mức cung của đợt IPO, khối lƣợng này phải phù hợp

với khối lƣợng vốn dự kiến huy động và tính đến hiệu quả của việc sử dụng số vốn

huy động đƣợc sau đợt IPO. Việc chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng nếu

thỏa mãn đƣợc hai vấn đề giá và khối lƣợng nêu trên, thì đƣợc coi là đợt IPO hiệu

quả.

Ngoài các yếu tố định lƣợng đƣợc phân tích trong mô hình thực nghiệm trên,

còn một số yếu tố khác rất quan trọng ảnh hƣởng tới kết quả IPO mà doanh nghiệp

nên chú ý nhƣ:

- Lựa chọn thời điểm phát hành

Việc lựa chọn thời điểm phát hành đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, việc

dự báo tình hình để lựa chọn thời điểm là công việc không đơn giản vì khi cung



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(54 tr)

×