Tải bản đầy đủ - 98 (trang)
Hướng dẫn đánh giá KAP dinh dưỡng của FAO-2014 cũng đã đưa ra ngưỡng đề nghị cần can thiệp về giáo dục dinh dưỡng như sau [4]:

Hướng dẫn đánh giá KAP dinh dưỡng của FAO-2014 cũng đã đưa ra ngưỡng đề nghị cần can thiệp về giáo dục dinh dưỡng như sau [4]:

Tải bản đầy đủ - 98trang

54



học sinh thiếu kiến thức, bởi trong nghiên cứu này, tỷ lệ học sinh biết tác hại của

việc không ăn trước khi tới trường là rất cao (93,0%) và có tới 84,3% học sinh cho

rằng việc ăn sáng là có lợi ích tốt (Bảng 3.2). Ăn sáng tưởng chừng như là một công

việc đơn giản, dễ làm, tuy nhiên, tỷ lệ học sinh cảm thấy không khó để thực hiện

được việc đó trong nghiên cứu này lại chiếm tỷ lệ thấp (35,0%) (Bảng 3.3). Một số

lý do giải thích cho việc cảm thấy khó khăn để thực hiện việc ăn sáng mà học sinh

tự đưa ra đó là thiếu thời gian (thói quen hay thức khuya học bài và ngủ dậy muộn

vào sáng hôm sau; nhà xa nên phải dậy sớm đi học do đó không kịp ăn...), vấn đề về

kinh tế (nhịn ăn để tiết kiệm tiền). Điều này cũng phù hợp với kết quả trong nghiên

cứu KAP dinh dưỡng ở 350 sinh viên nữ từ 6 trường (Y, dược, khoa học sức khỏe,

mở rộng phát triển nông thôn, tâm lý, quản lý) thuộc đại học AHFAD, Sudan năm

2013 (50,6% sinh viên thấy khó có thời gian để lập kế hoạch ăn uống hợp lý [9].

Khác với bữa sáng, tỷ lệ học sinh có ăn bữa phụ giữa các bữa ăn chính tương

đối cao (78,3%), trong đó thực phẩm được tiêu thụ nhiều nhất trong bữa phụ là hoa

quả (72,5%) (Bảng 3.5). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01) về cách lựa

chọn thực phẩm trong bữa phụ của học sinh: học sinh nam thường tiêu thụ nhóm

thực phẩm xôi/bánh mỳ/bún/phở/miến và nước ngọt nhiều hơn nữ, trong khi đó học

sinh nữ thường tiêu thụ hoa quả nhiều hơn trong các bữa ăn phụ. Nghiên cứu cắt

ngang (2002) về kiến thức dinh dưỡng, thói quen ăn uống và thái độ đối với sức

khỏe của 540 sinh viên ngành y 19-24 tuổi ở Trung Quốc cũng cho kết quả tương

tự: sinh viên nữ có xu hướng ăn nhiều hoa quả hơn SV nam [6].

Cũng bởi vì cảm thấy khó để thực hiện việc ăn sáng nên mặc dù tỷ lệ cao

(77,3%) học sinh cho rằng ăn đủ 3 bữa chính và thêm bữa phụ là có lợi ích tốt

nhưng số học sinh thấy không khó để thực hiện việc này lại chiếm tỷ lệ thấp

(38,3%) (Bảng 3.5).

Tỷ lệ học sinh biết lý do nên ăn hạn chế đồ ngọt (bánh kẹo, nước ngọt) tương

đối cao (83,5%), trong đó không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và



55



nữ (Bảng 3.2). Nghiên cứu KAP dinh dưỡng trên đối tượng sinh viên tại Sudan năm

2013 cũng cho kết quả tương tự: tỷ lệ sinh viên biết về nguy cơ liên quan đến sử

dụng các loại nước ngọt là 83,7% [9].

Ăn uống đa dạng giúp cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cơ thể,

phòng chống thiếu hụt vi chất, đây cũng là nội dung đầu tiên trong 10 lời khuyên

dinh dưỡng hợp lý mà Bộ Y tế đã đưa ra khuyến cáo cộng đồng thực hiện. Tuy

nhiên, thái độ của học sinh liên quan đến nội dung này còn hạn chế. Kết quả bảng

3.3 cho thấy tỷ lệ học sinh cho rằng ăn đa dạng có lợi ích tốt chỉ chiếm 62,8%. Đặc

biệt vẫn còn 4,2% học sinh cho rằng ăn đa dạng là không tốt. Lý do học sinh đưa ra

chủ yếu xuất phát từ việc thiếu kiến thức liên quan đến ăn đa dạng thực phẩm như:

chỉ nên ăn đủ dinh dưỡng, không cần ăn nhiều, ăn nhiều cũng không hấp thu được;

ăn đa dạng có thể gây rối loạn tiêu hóa, có hại cho sức khỏe, gây béo hoặc ăn đa

dạng làm mất vị thức ăn ... Bên cạnh đó, tỷ lệ học sinh cảm thấy không khó để ăn

đa dạng cũng chiếm tỷ lệ thấp (26,5%). Một số lý do học sinh cảm thấy khó để ăn

đa dạng được đưa ra là: đi học cần tiết kiệm tiền, không có thời gian để làm đồ ăn,

khó chọn các loại thực phẩm, bị dị ứng hoặc có nhiều thực phẩm bản thân không

thích ăn ...



4.1.2. Kiến thức, thái độ về thiếu năng lượng trường diễn

Nhìn chung, học sinh có kiến thức và thái độ tương đối tốt với vấn đề thiếu

năng lượng trường diễn.

Về kiến thức, trên 80% học sinh biết về biểu hiện, nguyên nhân và biện pháp

phòng chống CED (lần lượt là 88,0%; 80,3%; 82,0%). Không có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê về kiến thức đối với CED giữa nam và nữ (Bảng 3.6).



56



Về thái độ, tỷ lệ học sinh không muốn mình bị CED tính chung cho cả 2 giới

là 95,8%, tỷ lệ này ở nam sinh và nữ sinh lần lượt là 96% và 95,6%. Đa số học sinh

cho rằng CED là vấn đề nghiêm trọng (79,3%), tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ đáng kể

học sinh đánh giá mức độ nghiêm trọng của vấn đề CED là bình thường hoặc không

nghiêm trọng (20,7%). Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về thái độ đối với CED giữa 2 giới (Bảng 3.7).

Mặc dù học sinh có kiến thức và thái độ tương đối tốt với vấn đề CED nhưng

tỷ lệ học sinh bị CED trong nghiên cứu này lại khá cao (37,5%) (Biểu đồ 3.1). Các

bàn luận sâu hơn về mối liên quan giữa kiến thức, thái độ về CED với tình trạng

CED của học sinh sẽ được đề cập kỹ hơn ở mục 4.2.3. Cũng bởi giới hạn trong

khuôn khổ đề tài luận văn thạc sỹ nên trong nội dung này, nghiên cứu chỉ dừng lại ở

mức phân tích tỷ lệ học sinh biết hoặc không biết về các nội dung biểu hiện, nguyên

nhân, biện pháp phòng chống CED, tuy nhiên nếu có thể phân tích sâu hơn, cụ thể

chi tiết hơn về các biểu hiện, nguyên nhân, biện pháp phòng chống CED mà học

sinh biết nhiều nhất hoặc ít nhất thì sẽ có bức tranh hoàn chỉnh hơn về vấn đề CED

của học sinh.

4.1.3. Kiến thức, thái độ, thực hành về thiếu vitamin A

Vitamin A có rất nhiều chức phận trong cơ thể: chức năng thị giác, miễn

dịch, khả năng biệt hóa tế bào và biểu hiện kiểu hình, quá trình phát triển và sinh

sản [43]. Trong khi đó, học sinh/sinh viên là đối tượng thường xuyên có các hoạt

động liên quan tới thị giác như: học, đọc sách báo, sử dụng internet ..., đồng thời là

lứa tuổi chuẩn bị bước vào cuộc sống gia đình, thực hiện chức năng sinh sản, do đó,

các em cần có những hiểu biết và thái độ tích cực đối với vấn đề thiếu vitamin A.

Trong nghiên cứu này, có thể thấy rằng kiến thức và thái độ về vấn đề thiếu

vitamin A của học sinh còn nhiều hạn chế. Kết quả bảng 3.8 cho thấy chỉ khoảng

60% học sinh biết về các biểu hiện, nguyên nhân thiếu vitamin A. 70,3% học sinh

biết về các biện pháp phòng chống thiếu vitamin A. Tỷ lệ học sinh có kiến thức về



57



các thực phẩm giàu vitamin A chỉ chiếm 71%. Các con số này đều ở dưới hoặc ngay

sát ngưỡng cần can thiệp giáo dục dinh dưỡng khẩn cấp (≤70%) của FAO-2014 [4].

Về thái độ, 74,8% học sinh đánh giá vấn đề thiếu vitamin A là nghiêm trọng,

chỉ 58% học sinh cho rằng bữa ăn giàu vitamin A là tốt cho sức khỏe. Chỉ khoảng

1/3 học sinh thấy không khó để chuẩn bị bữa ăn giàu vitamin A và cảm thấy tự tin

chuẩn bị bữa ăn giàu vitamin A (lần lượt là 32% và 37%). Tỷ lệ học sinh thích ăn

các thực phẩm giàu vitamin A chiếm 52,3% (Bảng 3.10). Những kết quả này cũng

nói lên sự cần thiết trong thực hiện các hành động can thiệp về giáo dục dinh dưỡng

để nâng cao kiến thức, thái độ của học sinh với vấn đề thiếu vitamin A.

Mặc dù vậy nhưng có một số kết quả đáng mừng trong nghiên cứu này đó là

tỷ lệ cao học sinh không muốn mình bị thiếu vitamin A (98,3%), trong đó học sinh

nữ không muốn bị thiếu vitamin A nhiều hơn học sinh nam, sự khác biệt này là có ý

nghĩa thống kê (p<0,01). Sự khác biệt này có thể do nữ giới là đối tượng thường chú

ý hơn tới các vấn đề về dinh dưỡng nói chung, vitamin A nói riêng, đây cũng là đối

tượng thường được quan tâm trong chương trình phòng chống thiếu vitamin A. Hơn

nữa, các em hiểu hậu quả của thiếu vitamin A ở bà mẹ lên sức khỏe của trẻ, do đó

bản thân không muốn mình bị thiếu vitamin A là điều dễ hiểu.

Bên cạnh đó, tỷ lệ học sinh có thực hành tiêu thụ ít nhất 1 thực phẩm giàu

vitamin A trong ngày hôm trước ở nghiên cứu này cũng rất cao, chiếm 95,5%, trong

đó ở nam giới là 96% và nữ giới là 95,3%, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống

kê (p>0,05) (Bảng 3.9). Con số này cho thấy sự xuất hiện của vitamin A trong khẩu

phần ăn của học sinh tương đối thường xuyên. So sánh với một số nghiên cứu sử

dụng phương pháp điều tra khẩu phần 24 giờ cũng thấy rằng lượng vitamin A trong

khẩu phần tương đối cao, đáp ứng đủ nhu cầu khuyến nghị [39],[40],[44],[45]. Tuy

nhiên, cũng cần có những phân tích sâu hơn để đánh giá thực hành liên quan đến

thiếu vitamin A của học sinh vì mức đáp ứng nhu cầu vitamin A trong khẩu phần

phụ thuộc vào nhiều yếu tố: thực phẩm nguồn động vật hay thực vật, chế độ ăn



58



nhiều chất béo hoặc sự hao hụt do quá trình chế biến thực phẩm ... bởi giới hạn

trong khuôn khổ của đề tài luận văn thạc sỹ nên nghiên cứu này chưa thực hiện

được.

4.1.4. Kiến thức, thái độ, thực hành về thiếu máu do thiếu sắt

Thiếu máu dinh dưỡng vẫn là một vấn đề dinh dưỡng quan trọng hàng đầu ở

nước ta. Tỷ lệ thiếu máu dao động nhiều theo địa phương nói lên tính phức tạp của

các căn nguyên đóng góp vào tình trạng thiếu máu [44].

Trong nghiên cứu này, trên 77% học sinh biết về các biểu hiện, nguyên nhân

và biện pháp phòng chống thiếu máu thiếu sắt (lần lượt là 93,3%; 77,7% và 80,3%),

trong đó có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001) giữa nam và nữ về kiến thức

liên quan đến biểu hiện của thiếu máu thiếu sắt (học sinh nữ biết về các biểu hiện

thiếu máu thiếu sắt nhiều hơn học sinh nam) (Bảng 3.11). Sự khác biệt này có thể

được giải thích bởi nữ giới thường quan tâm tới vấn đề này hơn do thiếu máu hay

gặp nhất ở phụ nữ có thai, phụ nữ tuổi sinh đẻ và trẻ em nhỏ [44].

Có 66,3% học sinh biết nguồn thực phẩm giàu sắt - dễ hấp thu, khác biệt có

ý nghĩa thống kê (p<0,001) theo giới (73,4% ở nữ so với 50,8% ở nam). Sự khác

biệt này có thể do nữ giới thường là người chuẩn bị bữa ăn trong gia đình, do đó

quan tâm và tìm hiểu đến vấn đề này nhiều hơn học sinh nam. Tỷ lệ nữ sinh biết

nguồn thực phẩm giàu sắt - dễ hấp thu trong nghiên cứu này thấp hơn khi so sánh

với nghiên cứu cắt ngang về kiến thức, thực hành dinh dưỡng trên 922 nữ học sinh

phổ thông trung học tại huyện Bình Lục, Hà Nam: hiểu biết về các nhóm thực phẩm

chứa nhiều sắt là khá tốt; 77,9% học sinh trả lời đúng là nhóm chất đạm như thịt, cá,

trứng, sữa, tôm, cua, gan. Tuy nhiên, sự khác biệt này có thể do 2 nghiên cứu khác

nhau về đối tượng, công cụ và phương pháp đánh giá [11].

Theo những nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra khẩu phần 24 giờ

trước đây, Việt Nam có lượng sắt trung bình khẩu phần đạt 50-70% nhu cầu khuyến



59



nghị [43]. Nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ thiếu máu đang giảm rõ rệt ở các vùng

có và cả vùng chưa có chương trình phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở cộng

đồng, tình hình này có liên quan đến chất lượng khẩu phần đặc biệt là nguồn thức

ăn động vật đã được cải thiện [44]. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ học sinh có ăn ít

nhất 1 thực phẩm giàu sắt - dễ hấp thu (thực phẩm nguồn gốc động vật) rất cao

(chiếm 96,8%) (Bảng 3.12). Điều này gợi ý có thể lượng sắt trong khẩu phần cũng

tương đối cao. Tuy nhiên, cũng cần có những phân tích sâu hơn để tìm hiểu nhóm

thực phẩm giàu sắt-dễ hấp thu nào mà đối tượng tiêu thụ nhiều nhất hoặc ít nhất bởi

hàm lượng sắt trong các thực phẩm khác nhau là khác nhau.

Trong thức ăn, sắt có ở dưới dạng Hem (nguồn động vật) và sắt không Hem

(nguồn thực vật), hấp thu sắt không Hem bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tăng cường

hoặc cản trở hấp thu [44]. Do đó để phòng chống thiếu máu thiếu sắt thì học sinh

cần có kiến thức liên quan đến thực phẩm tăng cường hoặc cản trở hấp thu sắt. Tuy

nhiên, trong nghiên cứu này, kiến thức về hấp thu sắt của học sinh còn rất hạn chế.

Tỷ lệ học sinh biết về các thực phẩm giúp tăng cường hấp thu sắt rất thấp (15%);

tương tự như vậy, chỉ có 5,8% học sinh biết về các đồ uống làm giảm hấp thu sắt

(Bảng 3.11). Những con số này đều ở dưới ngưỡng cần can thiệp giáo dục dinh

dưỡng của FAO-2014 nhiều lần (≤70%) [4].

Mặc dù hiểu biết về thực phẩm giúp tăng cường hấp thu sắt còn hạn chế

nhưng cũng rất đáng mừng khi kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cao (91,8%) học

sinh thường xuyên tiêu thụ các loại quả giàu vitamin C, là loại thực phẩm giúp tăng

cường hấp thu sắt, trong đó 69,2% học sinh tiêu thụ hàng ngày (Bảng 3.13). Đây là

thực hành tốt, do đó cần khuyến khích học sinh thực hiện.

Thói quen thường xuyên sử dụng trà/cafe, đặc biệt uống gần bữa ăn là thói

quen không tốt bởi trong trà/cafe có chứa chất gây cản trở hấp thu sắt. Tuy nhiên,

trong nghiên cứu này, tỷ lệ học sinh thường xuyên sử dụng trà/cafe tương đối nhiều

(chiếm 43,3%), hơn 1/3 trong số đó (39,3%) sử dụng hàng ngày. Đặc biệt, có tới



60



31,8% học sinh thực hành uống trà/cafe vào thời điểm gần bữa ăn (trong, ngay

trước hoặc ngay sau bữa ăn) (Bảng 3.14). Điều này có thể lý giải bởi kiến thức về

những đồ uống làm giảm hấp thu sắt của học sinh còn kém. Thói quen này của học

sinh cần thay đổi, đặc biệt với học sinh nam bởi kết quả nghiên cứu cho thấy nam

sinh có xu hướng tiêu thụ trà/cafe thường xuyên hơn nữ sinh, sự khác biệt này là có

ý nghĩa thống kê (p<0,001).

Về thái độ liên quan đến thiếu máu thiếu sắt, có thể thấy một nghịch lý rằng:

tỷ lệ cao học sinh không muốn mình bị thiếu máu thiếu sắt, đánh giá thiếu máu

thiếu sắt là vấn đề nghiêm trọng hoặc cho rằng việc chuẩn bị bữa ăn giàu sắt là tốt

cho sức khỏe (lần lượt là 98,5%; 89,5% và 72,3%). Nhưng ngược lại, chỉ hơn 1/3 số

học sinh tham gia vào nghiên cứu thích ăn các thực phẩm giàu sắt (36,0%), tỷ lệ học

sinh cảm thấy không khó hoặc tự tin để chuẩn bị bữa ăn giàu sắt lại chỉ chiếm tỷ lệ

thấp, lần lượt là 25,8% và 35,5% (Bảng 3.15). Một số lý do mà học sinh tự đưa ra

để giải thích cho việc cảm thấy khó hoặc không tự tin chuẩn bị bữa ăn giàu sắt là:

do hiểu biết về thực phẩm chứa sắt còn hạn chế, không có thời gian để chuẩn bị

thực phẩm, khó khăn về kinh tế, không trực tiếp là người chuẩn bị thực phẩm trong

gia đình hoặc bởi cảm thấy mình nấu không ngon ...

Đặc biệt, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) về thái độ giữa nam

và nữ: tỷ lệ nữ sinh cho rằng chuẩn bị bữa ăn giàu sắt là tốt cho sức khỏe cao hơn so

với nam sinh nhưng lại kém tự tin hơn trong việc chuẩn bị bữa ăn giàu sắt. Có thể

do thiếu máu thiếu sắt thường gặp ở nữ, do đó nữ giới thường quan tâm tới vấn đề

này hơn, nhận thức được mức độ nghiêm trọng của vấn đề và mức độ tốt nếu chuẩn

bị được bữa ăn giàu sắt. Tuy nhiên, nữ giới cũng là đối tượng thường xuyên chuẩn

bị bữa ăn trong gia đình hơn, do đó hiểu được những khó khăn trong công việc nên

có phần kém tự tin trong chuẩn bị bữa ăn giàu sắt hơn so với nam giới.

4.1.5. Kiến thức, thái độ, thực hành về hướng dẫn chế độ ăn hợp lý



61



Các lời khuyên dinh dưỡng hợp lý dựa vào thực phẩm (FBDG) đã được Hội

nghị quốc tế về dinh dưỡng họp tại Roma tháng 12/1992 khuyến nghị như một công

cụ giáo dục và thúc đẩy cải thiện khẩu phần ăn uống của mọi người dân nhằm

phòng ngừa các bệnh thiếu dinh dưỡng và các bệnh mạn tính có liên quan tới dinh

dưỡng. Thực chất của những lời khuyên dinh dưỡng hợp lý chính là bản hướng dẫn

về ăn uống hợp lý và lối sống lành mạnh, là công cụ quan trọng thực hiện đường lối

dinh dưỡng của mỗi quốc gia. Những lời khuyên dinh dưỡng hợp lý không mang

tính lý thuyết mà mang tính thực hành ứng dụng cao [46]. Tuy nhiên tại Việt Nam,

rất ít các đề tài nghiên cứu tìm hiểu về kiến thức, thái độ, thực hành liên quan đến

các lời khuyên dinh dưỡng hợp lý của người dân nói chung và đối tượng sinh viên

nói riêng.

Tháp dinh dưỡng là hình ảnh giúp cụ thể hóa những lời khuyên về việc chọn

lựa thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày. Trong nghiên cứu này, gần 96,0% học sinh

cho biết đã từng nhìn thấy hình ảnh tháp dinh dưỡng cân đối, trong số đó, 87,8%

học sinh trả lời được đúng tên gọi (Bảng 3.16). Khi được hỏi về tháp dinh dưỡng,

78,3% học sinh biết mục đích sử dụng, trong đó nữ sinh có kiến thức về nội dung

này tốt hơn nam sinh, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,01) (Bảng 3.17).

Hơn nữa, tỷ lệ học sinh nữ trả lời đã từng nhìn thấy hình ảnh tháp dinh dưỡng cũng

cao hơn học sinh nam có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Điều đó cho thấy, nữ giới quan

tâm tới vấn đề dinh dưỡng nhiều hơn nam giới.

Mặc dù đa số học sinh đều đã nhìn thấy và biết mục đích sử dụng của tháp

dinh dưỡng cân đối, nhưng khi được hỏi sâu hơn về các nội dung liên quan đến

hướng dẫn chế độ ăn hợp lý theo tháp dinh dưỡng thì chỉ 45,3% học sinh trả lời

đúng số nhóm/tầng thực phẩm trong tháp dinh dưỡng, 36,8% học sinh kể được đúng

tên của ít nhất 1 nhóm/tầng thực phẩm, 31,8% liệt kê được đúng 3 thực phẩm của ít

nhất 1 nhóm/tầng (Bảng 3.17). Kết quả này gợi ý rằng có thể tính ứng dụng của

tháp dinh dưỡng còn chưa cao, học sinh ít áp dụng vào thực tế nên khó nhớ được

các nội dung liên quan khi được hỏi.



62



Liên quan đến 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý đến năm 2020 do Bộ Y tế

ban hành, tỷ lệ học sinh không liệt kê được lời khuyên nào trong số 10 lời khuyên

về dinh dưỡng hợp lý chiếm tỷ lệ rất cao (85,7%) (Bảng 3.18). Nghiên cứu của Bùi

Thị Thúy Quyên (2011) trên sinh viên Y2 Trường Đại học Y Hà Nội cũng cho kết

quả: sinh viên chưa từng nghe đến 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý chiếm 83,8%,

trong số sinh viên đã từng nghe thì không có sinh viên nào kể được đúng đủ 10 lời

khuyên, 5,3% sinh viên liệt kê được <5 lời khuyên đúng và chỉ 1,1% sinh viên kể

được ≥ 5 lời khuyên đúng. Điều đó cho thấy, sinh viên có kiến thức rất hạn chế về

nội dung này [41].

Về thái độ liên quan đến các hướng dẫn dinh dưỡng hợp lý dựa vào thực

phẩm, trên 60% học sinh cho rằng việc thực hiện theo các hướng dẫn chế độ ăn hợp

lý của tháp dinh dưỡng là quan trọng. Tuy nhiên, số học sinh cảm thấy tự tin để thực

hiện theo các hướng dẫn đó chiếm tỷ lệ thấp (27,0%). Có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê (p<0,05) về mức độ tự tin giữa nam và nữ (nữ kém tự tin hơn nam) (Bảng

3.19).

Để có chế độ ăn hợp lý và khỏe mạnh, 2 trong số 10 lời khuyên dinh dưỡng

hợp lý khuyến cáo cộng đồng thực hiện là cần ăn đa dạng đủ 4 nhóm: chất bột, chất

đạm, chất béo, vitamin muối khoáng và ăn rau quả hàng ngày. Tuy nhiên, trong

nghiên cứu này số học sinh ăn đủ cả 5 nhóm thực phẩm (lương thực, rau, đạm, béo,

hoa quả) trong ngày hôm trước chiếm tỷ lệ không cao (chỉ chiếm 64,0%) (Bảng

3.20).

Các kết quả trên cho thấy, kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh liên

quan đến hướng dẫn chế độ ăn hợp lý còn rất hạn chế. Vì có ít nghiên cứu đề cập tới

vấn đề này tại Việt Nam nên khó có thể so sánh, nhưng kết quả trên phù hợp với

nghiên cứu hệ thống mới đây được thực hiện trên thế giới [47]. Nghiên cứu này cho

biết hướng dẫn chế độ ăn hợp lý dựa vào thực phẩm (FBDG) đã được thiết lập ở

nhiều nước. Nhiều phương pháp giảng dạy (Ví dụ: thuyết trình, minh họa) đã được



63



sử dụng để giáo dục các thành viên trong cộng đồng về FBDG với mục tiêu ăn đa

dạng và chế độ ăn cân bằng hợp lý. Tuy nhiên những chiến lược này đều không

mang lại kết quả trong thay đổi hành vi. Brown và cộng sự (2011) đã thực hiện một

nghiên cứu hệ thống để xác định kiến thức, hiểu biết và việc áp dụng FBDG của

người dân. Có 28 nghiên cứu đã được xem xét, trong đó 16 nghiên cứu đến từ

United States. Liên quan đến kiến thức, đối tượng biết về FBDG bởi họ đã từng

nhìn thấy hình ảnh FBDG ở trường học và các cơ sở y tế. Tuy nhiên, đối tượng

không thể giải thích/trình bày lại được các nội dung theo FBDG, đặc biệt, nếu

chúng là những ý tóm tắt như “Ăn đa dạng thực phẩm hàng ngày” hoặc “duy trì cân

nặng nên có”. Thêm vào đó, họ hạn chế trong khả năng giải thích khẩu phần và kích

cỡ của thực phẩm. Có một vài nghiên cứu tập trung đánh giá mức độ sử dụng

FBDG của người dân. Kết quả chỉ ra rằng các đối tượng cảm thấy rất bối rối để thực

hiện theo FBDG (ví dụ: hạn chế về thời gian, không thích mua nhiều loại thực phẩm

khác nhau hoặc vấn đề liên quan tới việc phối hợp những thực phẩm vào bữa ăn của

họ). Hơn nữa, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đối tượng thích cụ thể hóa bằng các

ví dụ thực hành và những thông điệp rõ ràng như làm như thế nào để sử dụng

FBDG. Brown và cộng sự (2011) đã kết luận rằng kiến thức về FBDG không trực

tiếp chuyển thành hiểu và sử dụng FBDG. Họ cũng đề nghị nên ưu tiên thiết kế

truyền thông và giáo dục dựa trên nhu cầu của người dân khi áp dụng FBDG [47].

Những kết quả tương tự cũng được báo cáo trong nghiên cứu của Keller và

Lang (2008) với mục tiêu xác định kiến thức và sử dụng của người dân về FBDG ở

Chile, Germany, New Zealand và South Africa. Ở những nước này, các chuyên gia

y tế nhận những tài liệu dưới dạng in để giáo dục cộng đồng về FBDG nhưng việc

áp dụng của họ vẫn khá hạn chế. Ví dụ, ở Chile, mặc dù hầu hết các chuyên gia y tế

đều được tập huấn, nhưng chỉ chuyên gia về dinh dưỡng mới có kiến thức về FBDG

tốt, đây là kết quả của một cuộc điều tra về kiến thức. Tương tự vậy, các nhân viên y

tế ở South Africa cũng nhận nhiệm vụ đào tạo, truyền thông về FBDG cho cộng

đồng của họ. Tuy nhiên, chỉ một vài nhân viên y tế có khả năng truyền thông về

FBDG một cách hiệu quả. Ở New Zealand, mặc dù có sự phân phối rộng rãi các tài



64



liệu điện tử hoặc tài liệu phát tay về FBDG cho cộng đồng, nhưng vẫn thấy rằng

hầu hết mọi người không biết về những tài liệu này, không sử dụng bởi nhiều thông

tin hỗn độn cùng với những thông điệp phức tạp hoặc họ tin rằng những thông tin

này đã bị lỗi thời. Keller và Lang (2008) đề nghị rằng truyền thông về FBDG cần

được thúc đẩy nhiều hơn thông qua phương tiện truyền thông (bao gồm mạng xã

hội), đào tạo nên thường xuyên hơn và mục tiêu hướng đến cả những nhân viên y tế

và không phải nhân viên y tế (ví dụ: giáo viên, các tổ chức xã hội), cần thực hiện

giám sát, đánh giá nhiều hơn về những rào cản và các yếu tố ảnh hưởng đến quá

trình sử dụng FBDG [47].

Như vậy, kết quả của nghiên cứu này thêm một lần nữa ủng hộ cho các

nghiên cứu trên thế giới, đồng thời cũng gợi ý rằng tại Việt Nam cần có nhiều

nghiên cứu hơn tìm hiểu về tình hình sử dụng FBDG và các yếu tố liên quan, những

chiến lược truyền thông về FBDG hiệu quả hơn, giúp nâng cao kiến thức, thái độ,

thực hành dinh dưỡng của người dân nói chung, học sinh/sinh viên nói riêng.

4.1.6. Kiến thức, thái độ, thực hành về thừa cân/béo phì

Tại Việt Nam, nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành thừa cân, béo phì

mới được thực hiện chủ yếu trên đối tượng học sinh tiểu học và trung học cơ sở, còn

trên đối tượng sinh viên/học sinh chuyên nghiệp vẫn còn hạn chế. Trong nghiên cứu

này, về kiến thức, kết quả bảng 3.24 cho thấy có 75,3% học sinh biết nguyên nhân

thừa cân/béo phì. Kết quả này cao hơn trong nghiên cứu can thiệp của tác giả Trần

Thị Xuân Ngọc trên đối tượng học sinh trung học cơ sở: tỷ lệ học sinh biết nguyên

nhân của béo phì trước khi can thiệp ở nhóm đối chứng và nhóm can thiệp lần lượt

là 73,7% và 71,1%. Tỷ lệ học sinh biết về hậu quả của thừa cân/béo phì (62,3%)

trong nghiên cứu này lại thấp hơn nghiên cứu của Trần Thị Xuân Ngọc (71,2% và

71,4%). Tuy nhiên do 2 nghiên cứu khác nhau về đối tượng, bộ câu hỏi và cách tiếp

cận đánh giá nên khó có thể đưa ra sự so sánh chính xác. Trong nghiên cứu của Trần

Thị Xuân Ngọc, bộ câu hỏi đưa ra sẵn các đáp án để học sinh lựa chọn, khác với

nghiên cứu này, các đáp án trả lời hoàn toàn do học sinh tự đưa ra [48].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hướng dẫn đánh giá KAP dinh dưỡng của FAO-2014 cũng đã đưa ra ngưỡng đề nghị cần can thiệp về giáo dục dinh dưỡng như sau [4]:

Tải bản đầy đủ ngay(98 tr)

×