Tải bản đầy đủ - 76 (trang)
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 76trang

hấp thu (CEC) khá cao, đạt 46,55 meq/100 g, tuy nhiên vẫn thấp hơn khá nhiều so

với một số loại bentonite khác (xem phụ lục 9), hàm lượng kim loại nặng thấp;

trong đó, Cd tổng số đạt 0,82 ppm và Pb tổng số đạt 13,25 ppm. Bentonite Cổ Định

có thành phần cấp hạt sét chiếm đa số, với 74 % là cấp hạt sét, chỉ có 17,4 % là cấp

hạt limon và 8,6 % là cấp hạt cát. Thành phần cấp hạt như vậy cũng tương tự với

bentonite khai thác ở các nơi khác trong và ngoài nước.



Bảng 11. Các tính chất lý hóa học chủ yếu của bentonite.

TT



Chỉ tiêu



Giá trị



1



Độ ẩm



12,60



2



pHKCl



6,2



Đơn vị tính

%



Thành phần cơ giới

Cấp hạt cát (2 - 0,02 mm)



8,60



%



17,40



%



Cấp hạt sét (< 0,002 mm)



74,00



%



4



Dung tích cation trao đổi (CEC)



46,55



meq/100g



5



Hàm lượng cadmi tổng số (Cdts)



0,82



ppm



6



Hàm lượng chì tổng số (Pbts)



13,25



ppm



3



Cấp hạt limon (0,02 - 0,002

mm)



Chu Văn Lam và Phạm Văn Hòe (1999) [dẫn theo 11] đã phân tích 4 mẫu

bentonite vùng Cổ Định bằng phương pháp nhiễu xạ Rơnghen (XRD) và phương

pháp nhiệt vi sai (DTA), kết quả cho thấy thành phần khoáng vật của bentonite Cổ

Định gồm chủ yếu là montmorillonite (35 - 44 % theo XRD và 38 - 42 % theo

DTA), hydromica chiếm tỷ lệ 8 - 15 % theo XRD và 10 - 13 % theo DTA, chlorite

chiếm tỷ lệ 10 - 20 % theo XRD và 12 - 17 % theo DTA, kaolinite chiếm tỷ lệ 10 14 % theo XRD và 8 % theo DTA, thạch anh chiếm tỷ lệ 7 - 15 % (XRD), felspartz

chiếm tỷ lệ 5 - 8 % (XRD), hydrogertite chiếm tỷ lệ 7 - 10 % theo XRD và 5 - 8 %

theo DTA, còn lại là các khoáng vật khác như Ca, amphibol…. Đối chiếu với số liệu

thu được từ phân tích nhiệt vi sai tại Viện Thổ nhưỡng nông hóa, các kết quả trên

~ 46 ~



không sai khác, trừ trường hợp montmorillonite có kết quả chênh với Viện Thổ

nhưỡng nông hóa khoảng 10 % (kết quả của Viện Thổ nhưỡng nông hóa là 52 %).

Ngoài ra, Viện Thổ nhưỡng nông hóa cũng phân tích thành phần hóa học của

bentonite Cổ Định. Kết quả phân tích cho phép rút ra kết luận là khác biệt lớn giữa

bentonite Cổ Định với các loại bentonite khác là hàm lượng Na 2O và K2O trong

bentonite Cổ Định thấp hơn rất nhiều loại bentonite khác, nhất là bentonite

Wyoming (Mỹ), trong khi tỷ lệ Fe2O3 và MgO lại cao hơn đáng kể. Kết quả phân

tích này được trình bày trong phần phụ lục.



3.1.3. Các tính chất cơ bản của than bùn.

Kết quả phân tích một số tính chất cơ bản của mẫu than bùn được trình bày

trong bảng 12 cho thấy than bùn ở vùng Hà Tây (cũ) có phản ứng chua đến rất chua,

pHKCl đạt 3,75. Đây là khác biệt lớn nhất của than bùn nước ta so với than bùn các

nước khác, đặc biệt là các nước vùng ôn đới, nơi than bùn thường có phản ứng kiềm

đến kiềm nhẹ. Than bùn Mỹ Đức có hàm lượng chất hữu cơ (OC) khá, đạt 15,13 %,

tuy nhiên chỉ số này thấp hơn so với một số mẫu than bùn khác, nhất là khi so sánh

với than bùn vùng rừng U Minh (xem phụ lục 11). Dung tích trao đổi cation (CEC)

của than bùn ở Mỹ Đức đạt mức khá, 31,8 meq/100 g, tuy nhiên vẫn vào loại thấp

so với các nơi khác. Hàm lượng kim loại nặng tổng số tương đối thấp, hàm lượng

Cd tổng số trong than bùn Mỹ Đức là 0,74 ppm, hàm lượng chì tổng số là 45,7 ppm;

đây là những giá trị ở mức trung bình so với các mẫu than bùn khác. Sau khi được

phơi khô tự nhiên và ủ, phân bùn biến tính, thể hiện ở chỉ số pH tăng cao hơn

(pHH2O sau khi phơi khô đạt giá trị 6,1).

Bảng 12. Tính chất cơ bản của than bùn Mỹ Đức (Hà Nội)

TT



Chỉ tiêu



Giá trị



Đơn vị tính



1



Độ ẩm



31,20



%



2



pHKCl



3,75



3



Chất hữu cơ (OC)



15,13



~ 47 ~



%



4



Dung tích cation trao đổi (CEC)



31,80



meq/100g



5



Hàm lượng cadmi tổng số (Cdts)



0,74



ppm



6



Hàm lượng chì tổng số (Pbts)



45,7



ppm



3.2. SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ TÍNH CHẤT LÝ, HÓA HỌC CỦA VẬT

LIỆU SAU XỬ LÝ VÀ CỦA ĐẤT SAU KHI ĐƯỢC BỔ SUNG BENTONITE VÀ

THAN BÙN.

3.2.1. Sự thay đổi của một số tính chất của vật liệu sau khi xử lý

Sau khi xử lý vật liệu hấp phụ bằng các phương pháp đã nêu ở chương 2,

chúng tôi tiếp tục phân tích lại các tính chất hóa học cơ bản của vật liệu có liên quan

mật thiết đến khả năng hấp phụ của chúng, đó là các chỉ tiêu: độ ẩm, pH KCl, và

CEC. Mục đích của việc phân tích lại các tính chất này là nhằm đánh giá khả năng

tăng hiệu quả hấp phụ của vật liệu thông qua sự thay đổi các tính chất hóa học trên

sau các biện pháp xử lý đã nêu.

Kết quả phân tích cho thấy các chỉ tiêu hóa học nêu trên đều có thay đổi theo

hướng tăng lên. Cụ thể, pHKCl của than bùn sau khi xử lý tăng 0,3 đơn vị; từ 3,7 lên

4,0; CEC của than bùn cũng tăng khoảng 25 %; từ 31,80 lên đến 44,04 meq/ 100 g.

Đối với bentonite có khác biệt đôi chút; pH KCl của bentonite giảm từ 6,2 xuống còn

5,7 nhưng CEC lại tăng gần 50 % từ 46,55 lên 63,78 meq/100 g.

Kết quả cũng cho thấy độ ẩm (sức chứa ẩm) của than bùn giảm đi rõ rệt sau khi

xử lý, từ khoảng 30 % xuống chỉ còn 9 %. Trong khi đó, độ ẩm của bentonite hầu

như không thay đổi (12,60 so với 10,64 %).

Bảng 13. Kết quả phân tích độ ẩm, pH và CEC của vật liệu sau xử lý

STT



Vật liệu



Than bùn



Bentonite



Chỉ tiêu

1



pHKCl



4,0



5,7



2



CEC (meq/100 g)



44,04



63,78



3



Độ ẩm (%)



9,18



10,64



~ 48 ~



Nhìn chung, các kết quả này đều cho thấy sự cải thiện đáng kể khả năng hấp phụ

kim loại nặng của vật liệu vì khi CEC và pH tăng thì khả năng cố định kim loại

nặng của vật liệu cũng tăng theo (xem chương 1).

3.1.2. Thay đổi tính chất đất sau khi bổ sung vật liệu hấp phụ

Việc gây ô nhiễm đất bằng hai dung dịch muối nitrate chì và cadmi kéo theo

sự thay đổi đáng kể hai tính chất lý hóa học cơ bản, quyết định khả năng cố định

kim loại nặng của đất là pHKCl và dung tích trao đổi cation (CEC đất).

Cụ thể, kết quả phân tích cho thấy pHKCl của mẫu đối chứng (đất sau khi gây

ô nhiễm và không bổ sung vật liệu hấp phụ) đạt 6,05 với mức gây ô nhiễm Cd thấp

nhất (4 ppm, mẫu DC-Cd1), 6,12 với mức gây ô nhiễm Cd 10 ppm (mẫu DC-Cd2)

và 6,03 với mức gây ô nhiễm Cd cao nhất (20 ppm, mẫu DC-Cd3), tăng khoảng 0,7

đến 0,8 đơn vị so với đất tự nhiên (pH KCl = 5,3). Các chỉ số tương tự với các mẫu

gây ô nhiễm Pb lần lượt là 6,18 (với mức gây ô nhiễm 140 ppm Pb, mẫu DC-Pb1);

6,19 với mức gây ô nhiễm 240 ppm Pb (mẫu DC-Pb2) và 6,12 với mức gây ô nhiễm

600 ppm Pb (mẫu DC-Pb3); cao hơn pHKCl của đất tự nhiên khoảng 0,8 đến 0,9 đơn

vị. CEC của các mẫu đối chứng đạt khoảng 12,50 meq/100g đất, tăng khoảng 50 %

so với đất tự nhiên. Cụ thể, khi gây ô nhiễm Cd ở mức thấp nhất (mẫu DC-Cd1),

CEC đạt 12,82 meq/100 g đất, ở mức thứ hai (mẫu DC-Cd2), CEC đạt 12,36

meq/100 g đất, ở mức cao nhất (mẫu DC-Cd3), CEC đạt 12,54 meq/100 g đất, gây ô

nhiễm chì ở mức thấp nhất (mẫu CD-Pb1), CEC đạt 12,48 meq/100 g đất, ở mức

thứ hai (mẫu DC-Pb2), CEC đạt 12,55 meq/100 g đất và ở mức cao nhất (mẫu DCPb3), CEC đạt 12,39 meq/100 g đất; trong khi CEC của đất tự nhiên là 8,89

meq/100 g đất.

Ngoài ra, một điểm đáng lưu ý là lượng Pb và Cd tổng số của mẫu đối chứng

có sự khác biệt so với tổng của lượng Pb và Cd được bổ sung vào đất và lượng Pb

và Cd tổng số sẵn có trong đất.

Cụ thể, lượng Pb tổng số có trong đất là 7,77 ppm, lượng bổ sung lần lượt là

140, 240 và 600 ppm, nhưng lượng Pb tổng số của mẫu đối chứng thu được lần lượt

chỉ còn 130,81; 211,66 và 599,04 ppm, tức là lượng Pb bị hao hụt so với tính toán

~ 49 ~



lần lượt là 16,96; 29,11 và 8,73 ppm. Tương tự, lượng Cd bị hao hụt lần lượt là

0,431 (= 4,1 – 3,669), tương đương 10,51 %; 1,465 (10,1 – 8,235), tương đương

14,51 % và 5,507 (20,1 – 14,593) ppm, tương đương 26,1 %.

Có thể giải thích hiện tượng này do sự rửa trôi hoặc bay hơi dung dịch Pb và

Cd sau khi được bổ sung vào đất do điều kiện tự nhiên.

Tuy nhiên, khi bổ sung bentonite và than bùn vào đất đã gây ô nhiễm, pH và

CEC đất không tiếp tục thay đổi mà gần như giữ nguyên giá trị. Nguyên nhân có thể

là do lượng bentonite và than bùn bổ sung vào còn thấp. Số liệu trình bày trong

bảng 15 cũng cho thấy kể cả khi tăng thêm lượng Cd và Pb vào đất, pH đất vẫn chỉ

giữ ở mức xung quanh giá trị 6,2 và CEC dao động xung quanh khoảng 11 - 14

meq/100g đất so với pH của các mẫu đối chứng (đã nêu ở trên) dao động trong

khoảng 6 đến 6,2 và CEC dao động trong khoảng 12,3 - 12,8 meq/100 g đất.

Cụ thể, ở mức ô nhiễm Cd thấp nhất, khi bổ sung 5 tấn bentonite /ha (mẫu

BENT1-Cd1), pH đạt 6,03 và CEC đạt 12,86 meq/100 g đất; khi bổ sung 10 tấn

bentonite /ha (mẫu BENT2-Cd1), pH đạt 6 và CEC đạt 12,91 meq/100 g đất; khi bổ

sung 15 tấn bentonite /ha (mẫu BENT3-Cd1), pH đạt 6,02 và CEC đạt 12,81

meq/100 g đất. Ở mức ô nhiễm Cd thứ hai, khi bổ sung 5 tấn bentonite /ha (mẫu

BENT1-Cd2), pH đạt 5,96 và CEC đạt 13,03 meq/100 g đất; khi bổ sung 10 tấn

bentonite /ha (mẫu BENT2-Cd2), pH đạt 5,91 và CEC đạt 13,30 meq/100 g đất; khi

bổ sung 15 tấn bentonite /ha (mẫu BENT3-Cd3), pH đạt 5,9 và CEC đạt 13,79

meq/100 g đất. Ở mức ô nhiễm Cd cao nhất, khi bổ sung 5 tấn bentonite /ha (mẫu

BENT1-Cd3), pH đạt 5,92 và CEC đạt 12,74 meq/100 g đất; khi bổ sung 10 tấn

bentonite /ha (mẫu BENT2-Cd3), pH đạt 5,86 và CEC đạt 13,11 meq/100 g đất; khi

bổ sung 15 tấn bentonite /ha (mẫu BENT3-Cd3), pH đạt 5,8 và CEC đạt 13,14

meq/100 g đất. Ở mức ô nhiễm Pb thấp nhất, khi bổ sung 5 tấn bentonite /ha (mẫu

BENT1-Pb1), pH đạt 6,03 và CEC đạt 12,86 meq/100 g đất; khi bổ sung 10 tấn

bentonite /ha (mẫu BENT2-Pb1), pH đạt 6 và CEC đạt 12,91 meq/100 g đất; khi bổ

sung 15 tấn bentonite /ha (mẫu BENT3-Pb1), pH đạt 6,02 và CEC đạt 12,81

meq/100 g đất. Ở mức ô nhiễm Pb thứ hai, khi bổ sung 5 tấn bentonite /ha (mẫu

~ 50 ~



BENT1-Pb2), pH đạt 5,96 và CEC đạt 13,03 meq/100 g đất; khi bổ sung 10 tấn

bentonite /ha (mẫu BENT2-Pb2), pH đạt 5,91 và CEC đạt 13,30 meq/100 g đất; khi

bổ sung 15 tấn bentonite /ha (mẫu BENT3-Pb3), pH đạt 5,9 và CEC đạt 13,79

meq/100 g đất. Ở mức ô nhiễm Pb cao nhất, khi bổ sung 5 tấn bentonite /ha (mẫu

BENT1-Pb3), pH đạt 5,92 và CEC đạt 12,74 meq/100 g đất; khi bổ sung 10 tấn

bentonite /ha (mẫu BENT2-Pb3), pH đạt 5,86 và CEC đạt 13,11 meq/100 g đất; khi

bổ sung 15 tấn bentonite /ha (mẫu BENT3-Pb3), pH đạt 5,8 và CEC đạt 13,14

meq/100 g đất.

Ở mức ô nhiễm Cd thấp nhất, khi bổ sung 5 tấn than bùn /ha (mẫu TB1Cd1), pH đạt 5,99 và CEC đạt 12,60 meq/100 g đất; khi bổ sung 10 tấn than bùn /ha

(mẫu TB2-Cd1), pH đạt 5,92 và CEC đạt 12,87 meq/100 g đất; khi bổ sung 15 tấn

than bùn /ha (mẫu TB3-Cd1), pH đạt 5,9 và CEC đạt 13,21 meq/100 g đất. Ở mức ô

nhiễm Cd thứ hai, khi bổ sung 5 tấn than bùn /ha (mẫu TB1-Cd2), pH đạt 6,1 và

CEC đạt 12,52 meq/100 g đất; khi bổ sung 10 tấn than bùn /ha (mẫu TB2-Cd2), pH

đạt 5601 và CEC đạt 13,07 meq/100 g đất; khi bổ sung 15 tấn than bùn /ha (mẫu

TB3-Cd3), pH đạt 5,92 và CEC đạt 13,18 meq/100 g đất. Ở mức ô nhiễm Cd cao

nhất, khi bổ sung 5 tấn than bùn /ha (mẫu TB1-Cd3), pH đạt 6,08 và CEC đạt 12,63

meq/100 g đất; khi bổ sung 10 tấn than bùn /ha (mẫu TB2-Cd3), pH đạt 5,97 và

CEC đạt 12,92 meq/100 g đất; khi bổ sung 15 tấn than bùn /ha (mẫu TB3-Cd3), pH

đạt 5,92 và CEC đạt 13,53 meq/100 g đất. Ở mức ô nhiễm Pb thấp nhất, khi bổ sung

5 tấn than bùn /ha (mẫu TB1-Pb1), pH đạt 5,93 và CEC đạt 12,35 meq/100 g đất;

khi bổ sung 10 tấn than bùn /ha (mẫu TB2-Pb1), pH đạt 6,04 và CEC đạt 12,51

meq/100 g đất; khi bổ sung 15 tấn than bùn /ha (mẫu TB3-Pb1), pH đạt 6,0 và CEC

đạt 11,98 meq/100 g đất. Ở mức ô nhiễm Pb thứ hai, khi bổ sung 5 tấn than bùn /ha

(mẫu TB1-Pb2), pH đạt 5,95 và CEC đạt 12,64 meq/100 g đất; khi bổ sung 10 tấn

than bùn /ha (mẫu TB2-Pb2), pH đạt 6,13 và CEC đạt 13,11 meq/100 g đất; khi bổ

sung 15 tấn than bùn /ha (mẫu TB3-Pb3), pH đạt 6,02 và CEC đạt 12,02 meq/100 g

đất. Ở mức ô nhiễm Pb cao nhất, khi bổ sung 5 tấn than bùn /ha (mẫu TB1-Pb3), pH

đạt 5,87 và CEC đạt 12,23 meq/100 g đất; khi bổ sung 10 tấn than bùn /ha (mẫu



~ 51 ~



TB2-Pb3), pH đạt 5,97 và CEC đạt 12,85 meq/100 g đất; khi bổ sung 15 tấn than

bùn /ha (mẫu TB3-Pb3), pH đạt 5,98 và CEC đạt 13,87 meq/100 g đất.

Nguyên nhân của hiện tượng trên có thể lý giải là do sự bão hòa của các phản

ứng trao đổi giữa các hợp phần đất và các ion nói trên. Khi đất đã đạt đến mức độ

bão hòa trong các phản ứng hút thu/hóa hấp thụ và hấp phụ kim loại nặng, việc bổ

sung một lượng nhỏ bentonite và than bùn hầu như không có ý nghĩa cải thiện pH

và CEC của đất.

Mặc dù vậy, vẫn có thể nêu một số nhận xét:

- Khi bổ sung than bùn vào đất, pH tăng thấp hơn chút ít so với khi bổ sung

bentonite, đồng thời CEC lại tăng nhiều hơn.

- CEC đất có xu hướng tăng theo tỷ lệ thuận với lượng bentonite và than bùn

bón vào đất.

- Tăng lượng Pb và Cd gây ô nhiễm cho đất, pH của đất có xu hướng giảm.

Tuy nhiên, điều này không lý giải được hiện tượng gia tăng pH của đất ở mức tương

đối lớn khi bắt đầu gây ô nhiễm đất.

Các hình 2, 3, 4, và 5 dưới đây minh họa rõ hơn nhận xét trên:

pH



Hình 2. pH và CEC ở các CTDC, CT1, CT2 và CT 3 của bentonite với các

mức ô nhiễm cadmi.

Trong hình trên và các hình dưới, các điểm trên đường đồ thị theo hướng đi

của đồ thị tính từ phía trái sang phải lần lượt thể hiện các công thức từ DC đến CT3

với từng mức ô nhiễm.



Hình 3. pH và CEC ở các CTDC, CT1, CT2 và CT 3 của bentonite với các

mức ô nhiễm chì.



~ 52 ~



Hình 4. pH và CEC ở các CTDC, CT1, CT2 và CT 3 của than bùn với các

mức ô nhiễm cadmi.



Hình 5. pH và CEC ở các CTDC, CT1, CT2 và CT 3 của than bùn với các

mức ô nhiễm chì.



~ 53 ~



Bảng 14. Giá trị pH và CEC của mẫu thí nghiệm

Ký hiệu



pHKCl



mẫu



CEC (meq/100g đất)



Ô nhiễm Pb



Ô nhiễm Cd



Ô nhiễm Pb

1



2



Ô nhiễm Cd



1



2



3



1



2



3



3



1



2



3



DC



6,18



6,19



6,12



6,05



6,12



6,03



12,48



12,55



12,39



12,82



12,36



12,54



BENT1



6,02



6,12



5,94



6,03



5,96



5,92



11,71



12,91



12,73



12,86



13,03



12,74



BENT2



5,96



5,96



6,07



6,00



5,91



5,86



12,20



12,20



14,56



12,91



13,30



13,11



BENT3



6,14



6,12



6,00



6,02



5,9



5,80



12,77



12,75



13,20



13,81



13,79



13,14



TB1



5,93



5,95



5,87



5,99



6,10



6,08



12,35



12,64



12,23



12,60



12,52



12,63



TB2



6,04



6,13



5,97



5,92



6,01



5,97



12,51



13,11



12,85



12,87



13,07



12,92



TB3



6,00



6,02



5,98



5,90



5,92



5,98



11,98



12,02



13,87



13,21



13,18



12,53



Chú thích: Các cột đánh số 1, 2, 3: các mức gây ô nhiễm chì và cadmi như đã nêu trong phần phương pháp nghiên cứu.



~ 54 ~



3.3. HIỆU QUẢ CỐ ĐỊNH Pb2+ và Cd2+ CỦA BENTONITE TRONG ĐẤT

3.3.1. Hiệu quả cố định Pb2+ của bentonite trong đất

Kết quả phân tích hàm lượng Pb 2+ linh động trong mẫu thí nghiệm khả năng

hấp phụ Pb2+ linh động của đất được bổ sung bentonite được trình bày trong bảng

15 và minh họa ở các hình 6, 7, 8, 9, 10. Lượng Pb2+ linh động bị cố định và hiệu

quả cố định được tính theo công thức nêu trong phần phương pháp nghiên cứu. Từ

kết quả thu được, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Bản thân đất có khả năng cố định khoảng 46 - 48 % lượng Pb 2+ linh động.

Điều này có thể được lý giải bằng các phản ứng tạo kết tủa của ion chì với các gốc

như sunphate, chlore, hydratecarbonate…. Đồng thời, Pb 2+ cũng có ái lực hấp phụ

mạnh với các hợp phần đất như câc ô-xít Fe và Mn và có khả năng tạo chelate với

nhiều hợp phần hữu cơ của đất như các a-xít humic, fulvic (xem mục 1.1). Cũng

chính những phản ứng như vậy đã làm tăng pH và CEC đất lên đáng kể khi bổ sung

chì linh động vào đất. Tuy nhiên, vượt mức bão hòa Pb (có thể lấy mức chì được coi

là gây ô nhiễm đất là 70 ppm Pbts), khả năng gây thay đổi pH và CEC đất là rất

thấp. Cụ thể, ở mức gây ô nhiễm thấp nhất (Pb ts = 130,81 ppm), hiệu quả hấp phụ

của đất là 48,11 % (mẫu DC-Pb1), ở mức gây ô nhiễm thứ hai (Pb ts = 211,66 ppm),

hiệu quả hấp phụ của đất là 46,92 % (mẫu DC-Pb2) và ở mức gây ô nhiễm lớn nhất

(Pbts = 599,04 ppm), hiệu quả hấp phụ của đất là 47,08 % (mẫu DC-Pb3).

- Hiệu quả cố định của bentonite trong đất đạt được ở mức cao nhất khi mức

độ ô nhiễm chì thấp. Với mức ô nhiễm 1 (bổ sung 140 ppm Pb 2+), % tăng lượng cố

định đạt 7,96 % khi bổ sung bentonite ở mức thấp (5 T/ha – mẫu BENT1-Pb1), 6,11

% khi bổ sung bentonite ở mức trung bình (10 T/ha – mẫu BENT2-Pb1) và đạt 8,58

% khi bổ sung bentonite ở mức cao hơn (15 T/ha – mẫu BENT3-Pb1). Trong khi

đó, ở các mức ô nhiễm cao hơn, khả năng hấp phụ của bentonite giảm rõ rệt, chỉ đạt

1 - 2 % (xem phần dưới).

- Hiệu quả cố định của bentonite trong đất ở cùng mức ô nhiễm chì đạt được

cao nhất khi lượng bentonite bổ sung vào đất cao. Ở cả ba mức ô nhiễm chì, % tăng



~ 55 ~



lượng cố định đều đạt cao nhất ở mức bón bentonite cao nhất (15 T/ha). Ví dụ, ở

mức ô nhiễm 2 (bổ sung 240 ppm Pb 2+), % tăng lượng cố định đạt cao nhất ở mức

bón bentonite 15 T/ha, đạt 2,24 % (mẫu BENT3-Pb2), so với 1,64 % khi bón 10

T/ha bentonite (mẫu BENT2-Pb2) và 1,24 % khi bón 5 T/ha bentonite (mẫu

BENT1-Pb2). Tương tự như vậy, ở mức ô nhiễm 3 (bổ sung 600 ppm Pb 2+), % tăng

lượng cố định đạt cao nhất là 2,06 % ở mức bón 15 T/ha bentonite (mẫu BENT3Pb3), so với 1,48 % (mẫu BENT2-Pb3) và 0,31 % (mẫu BENT1-Pb3) ở các mức

thấp hơn.

- Hiệu quả cố định khi bón bentonite vào đất ở mức thấp, thường nằm trong

khoảng xấp xỉ 2 %, trừ trường hợp khi lượng gây ô nhiễm Pb ở mức thấp nhất. Có

thể liên hệ với sự biến đổi không lớn của các giá trị pH và CEC đất khi đất được bổ

sung bentonite để lý giải hiện tượng này vì pH và CEC là các yếu tố chính kiểm

soát tính linh động của Pb trong đất. Điều này cho thấy lượng bentonite đưa vào đất

ở mức dưới 15 tấn mang lại hiệu quả cố định kim loại nặng thấp.

- Khi xét mối tương quan giữa lượng bentonite bón vào đất và hiệu quả hấp

phụ của bentonite, ở mức ô nhiễm Pb thấp nhất (Pb ts = 310,81 ppm), ta có phương

trình hồi quy tuyến tính dạng:

Y = 0,477X + 2,08. (1)

Trong đó: X là lượng bentonite bón vào đất (tấn/ha)

Y là hiệu quả cố định Pb2+ của đất được bón bentonite (%)

Hệ số xác định của phương trình là R2 = 0,619.

Ở mức ô nhiễm thứ 2 (Pbts = 211,66 ppm), phương trình hồi quy tuyến tính

có dạng:

Y = 0,142X + 0,21. (2)

Hệ số xác định của phương trình là R2 = 0,942.

Ở mức ô nhiễm lớn nhất (Pb ts = 599,04 ppm), phương trình hồi quy tuyến

tính có dạng:

Y = 0,146X + 0,139. (3)

~ 56 ~



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(76 tr)

×