Tải bản đầy đủ - 16 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 16trang

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA VẬT CHẤT

1.1.



Một số quan niệm về vận động

Có thể khẳng định rằng, trong lịch sử triết học trước Mác, ở phương

Đông cũng như phương Tây, vấn đề về sự vận động của vật chất được xem

là trung tâm và được thảo luận hết sức rộng rãi. Các nhà triết học duy tâm

xem xét sự vận động của vật chất là phụ thuộc vào lực lượng siêu nhiên - cái

đầu tiên sinh ra thế giới vật chất. Trái lại các nhà triết học duy vật lại cho

rằng, thế giới vật chất tồn tại tự nó:tự vận động biến đổi, tự phát triển; nó là

nguyên nhân của chính nó và là nguyên nhân của mọi cái khác.

Chỉ đến triết học hiện đại, khái niệm vận động được giải thích theo

nghĩa hoàn chỉnh nhất, theo nghĩa rộng như là quan niệm về bất kỳ sự vận

động nói chung nào. Ăngghen viết rằng: “Vận động hiểu theo nghĩa chung

nhất bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong Thiên hà,

kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” [7;519]. Khi định nghĩa vận

động là sự biến đổi nói chung, thì vận động là “thuộc tính cố hữu của vật

chất”, “là phương thức tồn tại của vật chất” [7;89]. Điều này có nghĩa là vật

chất tồn tại bằng vận động. Trong vận động và thông qua vận động mà các

dạng vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình. Hiểu theo một nghĩa khác là

5



những biến đổi tồn tại một cách khách quan, nằm ngoài những lập luận của

chúng ta về những biến đổi đó.

Dựa trên những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ăngghen đã

chia vận động thành 5 hình thức cơ bản. Đó là: vận động cơ học, vận động

vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội.

Chính bằng sự phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ăngghen đã

đặt cơ sở cho sự phân loại các khoa học tương ứng với đối tượng nghiên cứu

của chúng và chỉ ra cơ sở của khuynh hướng phân ngành và hợp ngành của

các khoa học. Ngoài ra, tư tưởng về sự khác nhau về chất và thống nhất của

các hình thức vận động cơ bản còn là cơ sở để chống lại khuynh hướng sai

lầm trong nhận thức là quy hình thức vận động cao thành hình thức vận

động thấp và ngược lại.

Khi triết học Mác - Lênin khẳng định thế giới vật chất tồn tại trong sự

vận động vĩnh cửu của nó, thì điều đó không có nghĩa là phủ nhận hiện

tượng đứng im của thế giới vật chất. Trái lại triết học Mác - Lênin thừa nhận

rằng, quá trình vận động không ngừng của thế giới vật chất chẳng những

không ngoại trừ mà còn bao hàm trong nó hiện tượng đứng im. Đứng im,

theo quan điểm triết học Mác - Lênin, là một trạng thái đặc biệt của vận

động - trạng thái bất động của vật chất, nghĩa là những tính chất của vật chất

chưa có sự biến đổi về cơ bản. Đứng im chỉ là hiện tượng tương đối và tạm

thời.

1.2

1.2.1



Về tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” của Ph.Ăngghen

Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm

Hoàn cảnh ra đời: Cùng với tác phẩm “Chống Đuyrinh” (1878), tác

phẩm “Biện chứng của tự nhiên” ra đời khoảng từ năm 1873 - 1886, sau sự

thất bại của công xã Pari. Sau sự kiện này, tình hình thế giới có nhiều chuyển

biến cả về phương diện kinh tế, xã hội và khoa học. Nền công nghiệp tư bản

6



chủ nghĩa đã dẫn đến quá trình tập trung và tích tụ tư bản. Sự bộc lộ mâu

thuẫn vốn có bên trong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đặt ra

một yêu cầu cấp thiết là giải quyết mâu thuẫn. Biểu hiện về mặt xã hội là

cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân.

Hơn ai hết, Mác và Ăngghen là những người rất quan tâm đến từng

bước đi của phong trào đấu tranh giai cấp vô sản. Hai ông xác định nguyên

nhân có tính quyết định của sự thất bại này là thiếu một Đảng lãnh đạo Đảng công nhân, đồng nghĩa với việc thiếu một đường lối đúng đắn, một sự

lãnh đạo thống nhất. Năm 1873, Ăngghen bắt tay vào việc biên soạn cuốn

sách này. Tác phẩm đã khái quát theo quan điểm lịch sử cụ thể, trình bày

một cách đầy đủ, chứng minh một cách sâu sắc những thành tựu quan trọng

nhất của khoa học tự nhiên từ giữa thế kỉ XIX và phê phán những quan điểm

duy tâm và siêu hình trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Trong những năm

1875 - 1876, Ăngghen viết một cách có hệ thống cuốn sách này.

Mục đích: Ăngghen đã đưa ra luận điểm chủ yếu của cuốn “Biện

chứng của tự nhiên” đó là: Tư tưởng về mối tương quan giữa triết học và

khoa học tự nhiên, phân loại những hình thức vận động chủ yếu của vật chất

và tương ứng với nó là sự phân loại khoa học, phát hiện ra tác động của các

quy luật biện chứng và các phạm trù trong tự nhiên, chứng minh sự cần thiết

phải chứng minh lý luận về sự vận động của vật chất và phải có phương

pháp biện chứng duy vật cho khoa học tự nhiên. Những tư tưởng đầu tiên

đưa ra trong tác phẩm này đã chứng tỏ được vai trò to lớn của lý luận về sự

vận động và phương pháp biện chứng duy vật. Nhằm đối lặp lại quan điểm

duy tâm, bất khả tri I.Cantơ mới (Đức) và Hium (Anh) cũng đồng thời chống

lại những phần tử thuộc phái cơ hội chủ nghĩa. Trên cơ sở phê phán những

quan điểm sai lầm, Ph.Ăngghen đã khẳng định hơn nữa vai trò của lý luận

về sự vận động.

7



1.2.2 Vị trí vấn đề vận động của vật chất trong tác phẩm

Trong tác phẩm Ăngghen đã lần lượt đề cập đến những vấn đề như:

phạm trù vật chất và các hình thức vận động của nó, phép biện chứng duy

vật, mối tương quan thống nhất giữa triết học và khoa học tự nhiên, các quy

luật và phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật, cuối cùng là đề cập

đến những vấn đề triết học lịch sử như: phạm trù thực tiễn, vai trò của lao

động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người, đến sự hình thành ý

thức, tư duy và ngôn ngữ của con người.

Phải nói rằng, mặc dù về cơ bản chưa hoàn thành, nhưng xuyên suốt

cả tác phẩm là những nội dung bao quát về sự vận động của vật chất trong tự

nhiên, khẳng định rằng đây cũng là nội dung cốt lõi nhất vấn đề vận động

của vật chất trong triết học Mác - Lênin - một cống hiến tuyệt vời của

Ăngghen đối với khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội. Căn cứ vào

đó ông đã nghiên cứu những nguyên tắc phân loại các khoa học tự nhiên.

Trên cơ sở nghiên cứu về các hình thức vận động của thế giới vật

chất, coi đó là nội dung để phân định các khoa học tự nhiên, Ăngghen đặt ra

nhiệm vụ cho khoa học tự nhiên là vẽ lên một bức tranh về thế giới tự nhiên

với sự liên hệ qua lại giữa các bộ phận của nó, xoá bỏ đi những sự chia cắt

vẫn tồn tại giữa các ngành của khoa học tự nhiên. Từ đó, Ăngghen cũng đưa

ra những dự báo ở ranh giới giữa các ngành khoa học như vật lý học và hoá

học, hoá học và sinh vật học sẽ có những phát kiến to lớn. Việc xuất hiện

những khoa sinh - hoá học - sinh - lý học v.v… đã chứng minh tính chính

xác của dự báo thiên tài của Ăngghen. Ngày nay, sự phát triển của khoa học

tự nhiên đòi hỏi các ngành khoa học phải liên kết với nhau và đã xuất hiện

nhiều khoa học liên ngành.

Tóm lại, tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” được Ăngghen viết từ

năm 1873 - 1886. Tuy tác phẩm chưa hoàn thành, song nó vẫn có tính hệ

8



thống và thể hiện đầy đủ nội dung mang màu sắc triết học Mác. Tác phẩm ra

đời xuất phát từ cuộc đấu tranh chống trào lưu triết học đối lập và chứng

minh chỉ có lý luận về sự vận động của vật chất là phù hợp với quá trình

hình thành, biến đổi và phát triển của khoa học tự nhiên hiện đại. Đồng thời,

tác phẩm cũng dựa trên thành tựu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, để có

những khái quát mới về mặt triết học, bổ sung và phát triển lý luận về sự vận

động của vật chất, đồng thời vạch ra phương hướng cho khoa học tự nhiên

tiếp tục phát triển. Có thể khẳng định “Biện chứng của tự nhiên” là bức tranh

khái quát đến độ hoàn chỉnh các nguyên lý triết học Mác - đây là tư tưởng

thiên tài của Ăngghen.



CHƯƠNG 2

NỘI DUNG CĂN BẢN VỀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA VẬT CHẤT TRONG

TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA PH.ĂNGGHEN

2.1.



Vận động là tự thân, là thuộc tính cố hữu của vật chất

Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, vận động tồn tại cùng với sự tồn tại của vật chất và chỉ khi



nào vật chất mất đi thì vận động mới mất đi. Nếu vật chất là một cái gì đã có

sẵn đối với chúng ta, là một cái gì không thể sáng tạo, cũng không thể tiêu

diệt được, thì do đó có thể kết luận rằng bản thân sự vận động cũng không

thể sáng tạo hoặc tiêu diệt được. Như vậy, vật chất luôn luôn vận động: vật

chất chỉ có thể tồn tại bằng vận động, thông qua vận động mà các dạng vật

chất biểu hiện, bộc lộ sự tồn tại của mình, chỉ rõ mình là cái gì. Nhận thức

9



được sự vật là nhận thức trong quá trình vận động chứ không phải là trạng

thái tĩnh.

Vận động là một thuộc tính của vật chất, đó là đặc tính mà thiếu nó

khách thể không tồn tại được. Không thể nghĩ về tư duy thiếu sự vận động,

song cũng không thể nghĩ đến vận động mà thiếu vật chất, bởi vì thừa nhận

sự vận động phi vật chất sẽ dẫn đến chỗ thần bí. Sự vận động của vật chất là

nguồn gốc duy nhất của tính đa dạng vô cùng của các sự vật và quá trình.

Thứ hai, vật chất không mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng

khác, do đó vận động cũng không mất đi. Ăngghen nêu các hình thức vận

động từ dạng này sang dạng khác, từ vận động cơ học sang vận động sinh

học. Theo dõi và trình bày sự phát triển đó từng bước là mục đích của tác

phẩm “Biện chứng của tự nhiên”. Ở phần cuối cùng của bài tiểu luận “Quan

niệm cơ giới về giới tự nhiên” Ăngghen đã trình bày quá trình của hình thức

vận động từ thấp đến cao. Hình thức vận động cơ học sinh ra hình thức vận

động vật lý học, hình thức vận động vật lý học lại tạo ra hình thức vận động

hoá học và theo trật tự thì hình thức vận động hoá học, sẽ tạo ra hình thức

vận động sinh vật học.

Thứ ba, vật chất là tự thân vận động. Nguồn gốc của vận động là quá

trình giải quyết mâu thuẫn vận động. Giải thích rằng: vật chất có kết cấu, các

thành phần liên kết với nhau, ràng buộc với nhau, tạo thành quá trình vận

động. Tuy nhiên do có các yếu tố cấu thành bên trong sự vật, mà có những

hiện tượng thúc đẩy, phát triển cùng nhau, đồng thời cũng có những mặt đối

lập.

Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Ăngghen luôn chứng minh

được mọi hình thức vận động của vật chất đều liên quan đến nhau và

Ăngghen xem bản thân vận động là một mâu thuẫn và sự chuyển biến từ một

hình thức vận động này sang một hình thức vận động khác bao giờ cũng là

10



một bước nhảy vọt. Ăngghen còn khẳng định tính chất của vận động là

không thể hiểu được, chính bản thân nó thừa nhận một cách miễn cưỡng sự

tồn tại của mâu thuẫn đó; tức là thừa nhận rằng trong bản thân các sự vật và

các quá trình, có một mâu thuẫn giữa các lực lượng có thực. Nếu bản thân sự

di động một cách máy móc đơn giản chứa đựng mâu thuẫn, thì tất nhiên

những hình thức vận động cao hơn của vật chất và đặc biệt là sự sống hữu cơ

và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó phải chứa đựng mâu thuẫn như vậy.

Thứ tư, vận động là vận động của vật chất và vận động là tuyệt đối.

Như vậy là ý thức không phải là không vận động, mà ý thức chỉ là một sản

phẩm của thế giới vật chất, sự vận động của ý thức phụ thuộc vào sự vận

động của thế giới vật chất.

Tính chất không thể tiêu diệt được của vận động đã được Ăngghen

trình bày rõ ràng trong tác phẩm qua mệnh đề của Descartes, theo mệnh đề

này thì trong vũ trụ, số lượng vận động vẫn tồn tại không thay đổi. vật chất

gắn liền với vận động. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và tuyệt đối thì vận động

cũng là vĩnh viễn và tuyệt đối, không thể bị sáng tạo ra và cũng không thể bị

tiêu diệt. Chỉ có thông qua sự vận động, người ta mới biết được các trạng

thái của vật chất; thuộc tính của vật thể chỉ có thể xuất hiện ra trong vận

động. Một khi đã biết được những trạng thái vận động của vật chất thì chúng

ta biết được bản thân vật chất. Và do đó, nhận thức của chúng ta được hoàn

thiện.

2.2.



Vận động là cơ sở để phân loại khoa học

Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ăngghen vận dụng phép



biện chứng để giải thích những vấn đề cụ thể của khoa học tự nhiên và một

số bộ môn của khoa học tự nhiên. Trong những năm 70 của thế kỉ XIX,

Ăngghen dựa vào các hình thức vận động của vật chất phân ra làm bốn loại

khoa học: cơ học, vật lý học, hoá học và sinh vật học.

11



Ăngghen coi từng ngành khoa học là sự phản ánh từng hình thức vận

động, do đó mối liên hệ và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các ngành khoa học

là phản ánh mối liên hệ và sự chuyển hóa của các hình thức vận động của

vật chất. Quan điểm của Ăngghen về phân loại các khoa học tự nhiên đã

trở thành những nguyên tắc phân loại các khoa học tự nhiên đương thời

và có ý nghĩa đối với cả khoa học tự nhiên hiện đại.

Trên cơ sở nghiên cứu về các hình thức vận động của thế giới vật

chất, coi đó là nội dung để phân định các khoa học tự nhiên, Ăngghen đặt ra

nhiệm vụ cho khoa học tự nhiên là vẽ lên một bức tranh về thế giới tự nhiên

với sự liên hệ qua lại giữa các bộ phận của nó, xoá bỏ đi những sự chia cắt

vẫn tồn tại giữa các ngành của khoa học tự nhiên.

Trong toán học, Ăngghen chỉ ra: “Toán học là khoa học về các đại

lượng” [7;755]. Ăngghen cũng nêu ra những định đề trong toán học “chưa

được chứng minh và dĩ nhiên là cũng không thể chứng minh được về mặt

toán học” [7;755].

Trong cơ học: Ăngghen chú ý nhiều đến sự vận hành của các thiên

thể. Lúc đó xuất hiện giả thuyết về thiên văn học của Cantơ và La Plaxơ, coi

các thiên thể có một quá trình lịch sử.

Trong vật lý học: Ăngghen bàn về “thuyết bảo toàn và chuyển hoá

năng lượng”, đây chính là thực chất của sự chuyển hoá giữa các hình thức

vận động.

Trong hoá học: Ăngghen quan tâm đến thuyết nguyên tử, kết cấu

nguyên từ của vật chất và tính phân chia của vật chất ở đây, Ăngghen đã có

dự báo về tính chất phức tạp của nguyên tố. Ngày nay, khoa học tự nhiên đã

chứng thực tư tưởng đó của Ăngghen, người ta đã tìm thấy gần 400 hạt cơ

bản cấu tạo thành nguyên tử và khác nhau về chất.



12



Trong sinh vật học, Ăngghen bàn đến ba vấn đề: nguồn gốc sự sống,

thuyết tế bào và học thuyết Đácuyn. Ăngghen đặc biệt chú ý những kết luận

triết học rút ra từ học thuyết của Đácuyn, kết hợp với tất cả các phát hiện

khoa học tự nhiên, Ăngghen nhận định học thuyết của Đácuyn trên quan

điểm duy vật biện chứng. Ông đánh giá rất cao học thuyết này ở chỗ, nó

vạch rõ sự liên hệ phổ biến và sự phát triển trong giới tự nhiên hữu sinh.

Đồng thời, Ăngghen cũng kịch liệt phê phán những nhược điểm của thuyết

Đácuyn mà các học giả tư sản ra sức lợi dụng để chống lại quan điểm duy

vật biện chứng về tự nhiên.

Như vậy, tư tưởng chủ đạo xuyên qua toàn bộ sự phân loại các hình

thức vận động của Ăngghen là tư tưởng phát triển. Một khi vật chất chuyển

từ hình thức đơn giản đến hình thức phức tạp thì các hình thức vận động của

nó cũng chuyển từ hình thức tấp lên hình thức cao hơn. Sự chuyển hóa này

là một bước nhảy vọt, một bước ngoặt quyết định, điều này thể hiện rõ trong

bước chuyển tự nhiên từ vật chất vô sinh sang sự sống trên trái đất. Hình

thức vận động chủ yếu được Ăngghen dành nhiều thời gian để phân tích là

hình thức vận động sinh học: con đường hình thành sự sống và sự tiến hóa

của nó; sự hình thành con người và việc bước bào lịch sử của con người;

mối quan hệ giữa con người, xã hội và thiên nhiên.

2.3.



Ý nghĩa của quan điểm của Ph.Ăngghen về sự vận động của vật



chất

Khi viết tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Ăngghen có ý định tổng

kết, khái quát về mặt triết học trên lập trường biện chứng duy vật, toàn bộ

lịch sử cùng những thành tựu mới nhất là những vấn đề lý luận của khoa học

tự nhiên thời ông, từ đó phê phán các trào lưu triết học duy tâm, siêu hình

đang thống trị trong khoa học tự nhiên và qua đó chống lại việc các nhà triết

học tư sản đang lợi dụng khoa học tự nhiên để tấn công vào chủ nghĩa Mác.

13



Tác phẩm thực sự thành công khi Ăngghen chứng minh được rằng giới tự

nhiên vận động và phát triển một cách biện chứng; rằng, các quy luật biện

chứng là những quy luật thật sự của giới tự nhiên. Thông qua tác phẩm,

Ăngghen đã giải thích rõ vì sao ông không đề cập ngay cả mối liên hệ lẫn

nhau của các quy luật cơ bản của phép biện chứng. Ăngghen viết: “Ở đây,

chúng tôi không có ý định viết một cuốn sách phổ thông về phép biện

chứng, mà chúng tôi chỉ muốn chứng minh rằng những quy luật biện chứng

là những quy luật thật sự của sự phát triển của giới tự nhiên, tức là quy luật

đó cũng có giá trị đối với khoa học tự nhiên lý thuyết. Vì thế cho nên chúng

tôi không thể xem xét một cách chi tiết mối quan hệ bên trong giữa những

quy luật ấy với nhau” [7;511].

Tác phẩm đã khẳng định sự ảnh hưởng của những quan điểm về vận

động đến sự phân loại các ngành khoa học, đến sự phát triển của khoa học tự

nhiên và đến quá trình đấu tranh thay đổi của cái hiện tồn. Hơn nữa, quan

điểm về sự vận động của vật chất là cơ sở cho sự biến đổi của sự vật, hiện

tượng. Giới tự nhiên phải vận động thì mới xóa bỏ được cái cũ và chỉ với

vận động những sự vật, hiện tượng ấy mới phát sinh, biến đổi, tồn tại được

lâu dài. Trong lời tựa ở tập 1 “Bộ Tư Bản”, Mác nhấn mạnh về sự vận động

của vũ trụ khi bàn tới phép biện chứng rằng sự vận động là nội dung không

thể tách rời của phép biện chứng: “phép biện chứng không khuất phục trước

một cái gì, thực chất nó có tính phê phán cách mạng. Nghiên cứu sự vận

động là nghiên cứu nội dung căn bản của phép biện chứng. Nó phản ánh sự

thừa nhận cái hiện tồn, phản ánh cái hiện tồn đang thay đổi, khẳng định cái

hiện tồn đồng thời phủ định cái hiện tồn”.

KẾT LUẬN



14



“Biện chứng của tự nhiên” tác phẩm chưa hoàn thành của Ph.Ănghen

lần đầu tiên được xuất bản bằng tiếng Nga và tiếng Đức tại Liên Xô năm

1925, gồm những bài bút kí viết từ 1873 đến 1886, chủ yếu là từ 1873 đến

1882. Tư tưởng trung tâm của tác phẩm là tư tưởng về các hình thái vận

động của vật chất. Chính dựa trên tư tưởng này, Ănghen dự định xây dựng

một tác phẩm - về con đường phát triển biện chứng khách quan của tự nhiên

tiến đến sự phát triển kinh tế của xã hội loài người - tiếp nối bộ “Tư bản”

của Mác để cùng với “Tư bản” tạo nên một công trình hoàn chỉnh về học

thuyết macxit.

Trong tác phẩm, Ăngghen đã nghiên cứu sự vận động của vật chất qua

việc phân tích biện chứng trong giới tự nhiên. Bên cạnh đó, Ăngghen còn

đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng để phê phán các quan

điểm tư sản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên nhằm bảo vệ phát triển chủ

nghĩa duy vật biện chứng.

Xuất phát từ quan điểm vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất,

Ăngghen đã chỉ ra cơ sở của sự phân loại khoa học, rằng sự khác nhau giữa

các khoa học thực chất là sự khác nhau về các hình thái vận động của vật

chất. Như vậy Ăngghen đã dựa vào sự tương tác giữa các hính thái vận động

để lý giải sự phụ thuộc lẫn nhau của các khoa học, và cũng là nguyên tắc

chung để phân loại chúng.

Tác phẩm cũng mang một ý nghĩa hết sức to lớn đối với nhiệm vụ bảo

vệ và phát triển triết học Mác trước đây, định hướng cho quá trình phát triển

của đất nước ta hiện nay - đặc biệt là trong thời đại cách mạng khoa học

công nghệ hiện đại. Không quán triệt quan điểm vận động là thuộc tính cố

hữu của vật chất, vận động là tự thân thì không những không tin tưởng vào

sự vận động đi lên trong quá trình xoá đói giảm nghèo, từng bước công

nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước được. Mỗi ngày có hàng loạt những

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(16 tr)

×