Tải bản đầy đủ - 73 (trang)
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 73trang

Nhận xét:

Trong 146 người tham gia nghiên cứu là “thành viên gia đình” có tới 60

người (41,1%) là vợ/ bạn tình đang sống chung cùng nam TCMT nhiễm HIV.

Có 40 người (27,4%) người tham gia nghiên cứu là bố/ mẹ trong đó có 35

người là mẹ và 5 người là bố của nam TCMT nhiễm HIV. Điều này cũng giải

thích cho việc mẫu nghiên cứu có tỷ lệ cao là nữ giới.

Kết quả nghiên cứu cũng có đến 25 người (17,1%) là anh/ chị/ em ruột

của nam TCMT nhiễm HIV, nhóm này cũng được đánh giá là có nhiều sự hỗ

trợ quan trọng.

Bảng 1: Đặc điểm chung của người tham gia nghiên cứu (N = 146)

Đặc điểm



n



Tuổi

< 30

30 – 39

40 – 49

≥ 50



19

52

24

51



% hoặc ± SD

44,6 ± 14,7

Median = 40,9

Range: 18 – 83,4

13%

35,6%

16,4%

35%



Giới

Nữ

Nam

Trình độ học vấn

Dưới tiểu học/Tiểu học

Trung học cơ sở

Trung học phổ thông trở lên

Hôn nhân

Kết hôn/sống cùng bạn tình

Ly dị/ly thân/góa

Độc thân

Nghề nghiệp

Ổn định (nhà nước, văn phòng,…)



108

38



74%

26%



16

54

76



11%

37%

52%



112

22

12



76,7%

15,1%

8,2%



9



6,2%



Ít ổn định (nông dân, tự do,…)

Thất nghiệp

Thu nhập gia đình trung bình/tháng

(triệu VNĐ)



130

7

142



< 10

10 – 15

>15

Nhận thức tiếp cận dịch vụ y tế của bản

thân (0 – 100)



106

30

6



89%

4,8%

7,1 ± 4,1

Median = 6

Range: 0,3 – 25

74,7%

21,1%

4,2%

35,7 ± 22,1

Range: 0 – 91,7



Nhận xét:

Trong tổng 146 thành viên gia đình nam TCMT nhiễm HIV tham gia

nghiên cứu, độ tuổi chủ yếu từ 30 – 39 tuổi và trên 50 tuổi. Người tham gia là

nữ nhiều hơn nam giới (74% so với 26%).

Trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên chiếm đa số với 52%,

tuy nhiên vẫn có tới 11% người tham gia nghiên cứu có học vấn tương đương

tiểu học hoặc không đi học. Đa số đã lập gia đình hoặc chưa kết hôn nhưng

đang sống cùng bạn tình (76,7%).

Bằng cách gộp các loại hình nghề nghiệp thành ba nhóm chính như sau:

ngành nghề ổn định (nhân viên nhà nước, thư ký văn phòng, kinh doanh),

ngành nghề ít ổn định (làm nông, nhân viên phục vụ, sinh viên có việc làm

thêm, nghề tự do, các nghề mang tính mùa vụ khác), thất nghiệp (sinh viên

phụ thuộc gia đình, thất nghiệp). Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người

tham gia nghiên cứu có nghề nghiệp ổn định là rất ít (chỉ có 6,2%), chủ yếu

làm nghề tự do và ít ổn định.

Thu nhập bình quân cả gia đình hiện tại của những người tham gia

nghiên cứu khoảng 7,1 triệu/ tháng, trong đó có 50% số người tham gia

nghiên cứu có thu nhập cả gia đình/ tháng là thấp hơn 6 triệu.

Nhận xét:



Biểu đồ 2 cho thấy có khoảng 14,4 % số những người tham gia nghiên

cứu nhiễm HIV, và có 8,9% người chưa từng xét nghiệm HIV.

3.2. Mục tiêu 1: Thực trạng sức khỏe tâm thần thành viên gia đình nam

TCMT nhiễm HIV

3.2.1.Sức khỏe tâm thần thành viên gia đình nam TCMT nhiễm HIV

Bảng 2: Phân loại mức độ trầm cảm, lo âu, stress của thành viên gia

đình dựa trên thang điểm DASS-21

Mean

Median

Min – Max

Mức độ (%)

Bình thường

Nhẹ

Vừa

Nặng

Rất nặng

Nhận xét:



Trầm cảm

2,8

2

0 – 18



Lo âu

2,9

2

0 – 18



Stress

4,3

3

0 – 19



79,5

7,5

8,2

2,7

2,1



70,5

8,9

9,6

6,2

4,8



80,8

7,5

5,5

4,1

2,1



Bảng 2 trình bày đặc điểm trầm cảm, lo âu, stress của mẫu nghiên cứu

được đánh giá theo thang DASS-21, điểm tối đa của mỗi cấu phần là 21 điểm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung vị trầm cảm, lo âu, stress của những

người tham gia nghiên cứu lần lượt là 2; 2 và 3.

Tỷ lệ những người không có biểu hiện của trầm cảm, lo âu, stress vẫn

chiếm đa số. Tuy nhiên, có tới 4,8% mẫu nghiên cứu có biểu hiện trầm cảm

nặng và rất nặng, đặc biệt 11% mẫu nghiên cứu có biểu hiện lo âu mức nặng

và rất nặng.



Nhận xét:



Trong số 146 người tham gia nghiên cứu, có 57 người gặp ít nhất 1

trong 3 biểu hiện trên (chiếm 39%).

Trong những người có biểu hiện trầm cảm, lo âu, tress, có 54,4% chỉ

gặp một biểu hiện (trầm cảm, hoặc lo âu, hoặc stress), có 14% người gặp 2

biểu hiện kết hợp. Đặc biệt, có tới 31,6% trong số những người có biểu hiện

gặp cả 3 biểu hiện kết hợp.



Nhận xét:

Biểu đồ 4 mô tả đặc điểm trầm cảm, lo âu, stress theo hai nhóm giới

tính của thành viên gia đình nam TCMT nhiễm HIV.

Nữ giới có tình trạng báo cáo các biểu hiện trầm cảm, lo âu, stress đều

cao hơn ở nam giới, với các điểm trầm cảm cao nhất là ở nữ giới với 18 điểm,

nam giới là 10 điểm; tương tự điểm lo âu cao nhất ở nữ với 18 điểm, nam là 9

điểm; stress ở nữ có giá trị cao nhất là 19, trong khi nam có giá trị là 9 điểm.



Bên cạnh đó sự phân bố số điểm cũng có sự khác nhau, 25% nữ giới có điểm

trầm cảm trên 5, trong đó ở nam giới thì chỉ có 1 trường hợp.

Bảng 3: Tình trạng trầm cảm – lo âu – stress phân theo đặc điểm

thành viên gia đình

Thu nhập/tháng



Học vấn



N

Trầm cảma

Median



Tình trạng nhiễm HIV

Không/



không biết






≥ THPT



< 6 triệu



≥ 6 triệu



70



76



60



82



21



125



2,5



1



2,5



1



3



1



p = 0,12



p = 0,015



p = 0,06



a



Lo âu

Median



3



1



2



p = 0,045



2



3



p = 0,72



2

p = 0,024



a



Stress

Median



3



3



3



p = 0,25

p = 0,51

Mann-Whitney test; THPT: trung học phổ thông



3



3



3

p = 0,59



a



Nhận xét:

Sử dụng test phi tham số tìm sự khác biệt điểm trung vị trầm cảm, lo

âu, stress giữa các nhóm thành viên gia đình.

Sự khác biệt giữa trung vị hai nhóm cho thấy nhóm thành viên gia

đình nam TCMT nhiễm HIV có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông và

nhóm dương tính với HIV có phân bố nhiều vào mức điểm lo âu cao hơn

nhóm trình độ học vấn từ trên trung học phổ thông (có ý nghĩa thống kê với p

= 0,045 và p = 0,024).

Nhóm có thu nhập cả gia đình thấp hơn 6 triệu/ tháng có điểm trầm

cảm cao hơn nhóm có thu nhập gia đình từ 6 triệu trở lên (có ý nghĩa thống kê

với p = 0,015).

Ngoài ra, nghiên cứu cũng kiểm định một số biến khác như nhóm tuổi

người tham gia nghiên cứu, đặc điểm tham gia điều trị của nam TCMT nhiễm



HIV, thời gian lệ thuộc thường xuyên ma túy của nam TCMT nhiễm HIV, tuy

nhiên không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa.

3.3. Một số yếu tố liên quan sức khỏe tâm thần thành viên gia đình

3.3.1. Một số yếu tố trong khung lý thuyết được mô tả trong nghiên cứu

3.3.1.1. Gánh nặng chăm sóc



Nhận xét:

Khi xét trên thang điểm 100 thì điểm gánh nặng chăm sóc của mẫu

nghiên cứu dao động quanh mức trung bình là 47,8±15,2. Tuy nhiên khi xét

trên từng nhóm của gánh nặng chăm sóc thì thấy, điểm gánh nặng chăm sóc

thuộc nhóm gánh nặng tài chính có điểm trung bình cao nhất trong cả 3 nhóm

(trung bình 66,4 điểm; trung vị có giá trị 68,8). Tự đánh giá gánh nặng về sức

khỏe nhận giá trị trung vị là 41,7 điểm với khoảng điểm dao động từ 4,2-91,7.

Gánh nặng về cảm xúc là nhóm có điểm thấp nhất, các giá trị phân bố chuẩn

có trung bình là 41,2 điểm.

3.3.1.2. Mối quan hệ gia đình



Nhận xét:

Đặc điểm mối quan hệ gia đình được đưa về thang điểm 100 để đánh

giá, điểm trung bình chung của mối quan hệ gia đình do thành viên gia đình

tự báo cáo là 54,1 điểm (trung vị nhận giá trị 53,3 điểm; điểm dao động trong

khoảng 37,8 – 77,8 điểm).

Nhìn chung, mối quan hệ gia đình được đánh giá khá tích cực ở khu

vực sự gắn kết và các mối quan hệ xã hội của gia đình. Có 50% mẫu nghiên

cứu có điểm gắn kết từ 66,7 trở lên, trong khi đó 50% mẫu có điểm mâu thuẫn

lớn hơn 33,3 điểm. Mối quan hệ xã hội của gia đình cũng được đánh giá cao

(trung vị nhận giá trị 60 điểm).



3.3.1.3. Hỗ trợ xã hội

Nhận xét:



Nhìn chung đặc điểm hỗ trợ xã hội được báo cáo khá tích cực ở cả bốn

khu vực của sự hỗ trợ xã hội. Điểm trung bình chung (N = 137) là 71,4 điểm;

có 50% mẫu nghiên cứu báo cáo số điểm lớn hơn 73,7 điểm.

3.3.2. Mối liên quan giữa một số yếu tố và trầm cảm – lo âu - stress

Bảng 4: Tương quan tuyến tính giữa trầm cảm – lo âu – stress và

một số đặc điểm khác được nghiên cứu

Dep



Anx



Str



CB



FF



SS



PA



LDU



1



Dep

Anx

Str

CB

FF

SS



0,6**



1



0,74**



0,6**



1



0,57**



0,47**



0,55**



1



-0,29** -0,2*



-0,2*



-0,27*



-0,47** -0,23*



-0,46** -0,56** 0,32**



0,4**



PA

LDU

*



-0,07



0,28**



0,35**



-0,002 -0,12



1

1



0,49** -0,39** -0,4**



1



-0,06



0,2*



-0,03



-0,01



1



p<0,05; **p<0,001; Dep: Trầm cảm; Anx: Lo âu; Str: Stress; CB: Gánh



nặng chăm sóc; FF: Quan hệ gia đình; SS: Hỗ trợ xã hội; PA: Nhận thức khả năng

tiếp cận dịch vụ y tế; LDU: Số năm lệ thuộc ma túy của nam TCMT nhiễm HIV



Nhận xét:

Tính hệ số tương quan của pearson cho 2 biến có phân bố chuẩn (gánh

nặng chăm sóc – CB và nhận thức khả năng tiếp cận dịch vụ y tế - PA), các

biến còn lại tính hệ số tương quan của spearman cho tương quan giữa 2 biến

phân bố không chuẩn. Kết quả cho thấy trầm cảm, lo âu, stress có tương quan

thuận với nhau từng đôi một. Gánh nặng chăm sóc có mối tương quan thuận

chiều với cả ba dấu hiệu trầm cảm, lo âu, stress (các mối tương quan đều có ý



nghĩa thông kê với p<0,001). Ngược lại, mối quan hệ gia đình và hỗ trợ xã

hội có tương quan ngược chiều với điểm trầm cảm, lo âu, stress.

Bên cạnh đó, điểm mối quan hệ gia đình và hỗ trợ xã hội càng giảm đi

thì điểm trải nghiệm gánh nặng chăm sóc của thành viên gia đình càng tăng.

Ngược lại, nhận thức về khả năng tiếp cận dịch vụ y tế càng tăng thì điểm trải

nghiệm về gánh nặng chăm sóc càng giảm.

Bảng 5: Kết quả phân tích nhân tố xác định thang đo trong nghiên cứu

CB

CB1

CB2

CB3

FF

FF1

FF2

FF3

SS

SS1

SS2

SS3

SS4

MH

MH1

MH2

MH3



Gánh nặng chăm sóc

Kinh tế

Sức khỏe

Cảm xúc

Mối quan hệ gia đình

Sự gắn kết

Mâu thuẫn/xung đột

Quan hệ xã hội

Hỗ trợ xã hội

EMI

TAN

POS

AFF

Sức khỏe tâm thần

Trầm cảm

Lo âu

Stress



α

0,89

0,75

0,78

0,87

0,87

0,77

0,82

0,87

0,95

0,91

0,86

0,89

0,83

0,93

0,87

0,80

0,86



β



SE



0,62*

0,75*

0,72*



0,07

0,07

0,07



CFI

1,0



RMSEA SRMR

0,0

0,0



1,0



0,0



0,0



0,96



0,26



0,03



1,0



0,0



0,0



*



0,75 0,08

-0,63* 0,08

0,59* 0,08

*



0,87

0,69*

0,94*

0,91*

*



0,93

0,63*

0,79*



0,02

0,05

0,02

0,02

0,05

0,06

0,05



*



p<0,001; EMI: Hỗ trợ chia sẻ cảm xúc/thông tin; TAN: Hỗ trợ nhu cầu cụ thể trong



cuộc sống; POS: Hỗ trợ thông qua tương tác tích cực; AFF: Hỗ trợ thể hiện tình cảm



Nhận xét:

Bảng 5 trình bày kết quả phân tích nhân tố xác định (CFA –

Confirmatory Factor Analysis) [76], [77]; với 2 mục đích: (1) Kiểm tra dữ

liệu thực tế của nghiên cứu có khớp với mô hình lý thuyết (tức là biến rút gọn

có được giải thích bởi các biến cấu phần hay không); (2) Để kiểm tra mức độ

giải thích của các biến cấu phần đối với các biến rút gọn tương ứng.



Trước khi đưa vào CFA, tôi kiểm tra độ tin cậy/ nhất quán nội tại của

từng cấu phần thang đo khi sử dụng bộ số liệu thực tế của nghiên cứu.

Thang đo Gánh nặng chăm sóc sử dụng 3 cấu phần trong đó cấu phần

Gánh nặng kinh tế bao gồm 4 câu hỏi (cronbach α = 0,75), cấu phần Gánh

nặng sức khỏe bao gồm 6 câu hỏi (cronbach α = 0,78), cấu phần Gánh nặng

cảm xúc bao gồm 9 câu hỏi (cronbach α = 0,87). Các giá trị tin cậy nội tại của

3 cấu phần này cho thấy các câu hỏi có sự nhất quán tốt và có thể sử dụng để

đo lường với đối tượng thành viên gia đình nam TCMT nhiễm HIV trong

nghiên cứu [78], [79]. Thang đo Mối quan hệ gia đình bao gồm 3 cấu phần

trong đó mỗi cấu phần có 5 câu hỏi, các giá trị tin cậy nội tại đều lớn hơn 0,7

(Bảng 5). Thang đo Hỗ trợ xã hội sử dụng 4 cấu phần trong đó “Hỗ trợ chia sẻ

cảm xúc/ thông tin” gồm 8 câu hỏi, cấu phần “Hỗ trợ nhu cầu cụ thể trong

cuộc sống” gồm 4 câu hỏi, cấu phần “Hỗ trợ thông qua tương tác tích cực”

gồm 3 câu hỏi và cấu phần “Hỗ trợ thể hiện tình cảm” có 4 câu hỏi, các giá trị

tin cậy nội tại của mỗi cấu phần đều lớn hơn 0,8 (Bảng 5).

Sau khi kiểm tra độ nhất quán nội tại của từng cấu phần, các cấu phần

đều không có câu hỏi nào cần loại bỏ và tiếp tục sử dụng mô hình CFA đơn.

Trong phân tích của nghiên cứu này, tôi sử dụng 3 chỉ số mô hình chính để

đánh giá mô hình thích hợp, bao gồm: CFI (Comparative fit index) ≥ 0,95, có

nghĩa mô hình mô phỏng được ít nhất 95% sự biến thiên đồng thời của số liệu

các biến quan sát (là các cấu phần trên), điều này thể hiện ưu thế của một mô

hình so với các phân tích riêng lẻ; RMSEA (Root mean square error of

approximation) ≤ 0,06, chỉ ra mô hình lý thuyết và số liệu quan sát là rất phù

hợp; chỉ số SRMR (Standardized root mean square residual) ≤ 0.08, cũng là

chỉ số thể hiện sự phù hợp giữa mô hình lý thuyết và dữ liệu; ngoài ra cũng sử

dụng hệ số TLI (Tucker-Lewis index) ≥ 0,9 để đánh giá liên quan giữa vai trò

từng cấu phần (biến quan sát) với sự biến thiên dữ liệu biến rút gọn, chỉ số



này cao thể hiện các biến cấu phần nhỏ/ thứ yếu được giữ ảnh hưởng ở mức

thấp hơn các biến lớn/ quan trọng [80], [81], [82], [83], [84], [85]. Kết quả 3

mô hình đều cho thấy hai điểm sau:

- Các mô hình đều có khớp được với dữ liệu thực tế ở mức có ý nghĩa.

- Giá trị tuyệt đối các hệ số tải của mỗi cấu phần (biến quan sát) đối với biến

rút gọn từ 0,6 trở lên (trừ cấu phần Mối quan hệ xã hội của gia đình) và thể

hiện mức độ giải thích tốt cho biến rút gọn tương ứng [86].

Đặc biệt, biến đầu ra của nghiên cứu là trầm cảm, lo âu và stress đã

thể hiện sự phù hợp rất tốt để giải thích cho tình trạng sức khỏe tâm thần của

thành viên gia đình nam TCMT nhiễm HIV tham gia nghiên cứu này.



CB: Gánh nặng chăm sóc; FF: Mối quan hệ gia đình; SS: Hỗ trợ xã hội



Biểu đồ 8: Mô hình CFA nhiều biến rút gọn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(73 tr)

×