Tải bản đầy đủ - 73 (trang)
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 73trang

Thành phố Hà Nội được chọn làm địa điểm nghiên cứu vì là địa bàn

có nhiều người TMCT nhiễm HIV cao thứ hai cả nước (chỉ sau Thành phố Hồ

Chí Minh) [31].

- Thời gian nghiên cứu

Thời gian thu thập số liệu từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2016; thời

gian xử lý phân tích và viết luận văn từ tháng 1/2017 đến tháng 5/2017.

2.2. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng, thiết kế mô tả cắt ngang

2.3. Cỡ mẫu và đối tượng tham gia nghiên cứu

- Cỡ mẫu

Nghiên cứu sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ trong

quần thể, cụ thể như sau:



n = Z2(1-α/2) . = 1,962. = 129

o n là cỡ mẫu cho nghiên cứu

o p = 0,479 là tỷ lệ có biểu hiện dấu hiệu vấn đề sức khỏe tâm thần ở

thành viên gia đình người TCMT nhiễm HIV ở một nghiên cứu

năm 2013 tại Trung Quốc [12].

o ε là sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể (chọn

0,18)

o Z(1-α/2) là giá trị tra được ở bảng Z, với α= 0,05 thì Z(1-α/2)=1,96

Vậy cỡ mẫu tối thiểu là 129 người, cộng thêm 10% đề phòng từ chối

tham gia nghiên cứu, vậy cỡ mẫu cần thiết là 142 người. Thực tế, nghiên cứu

đã tuyển chọn được 146 người tham gia.

- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

• Định nghĩa “thành viên gia đình” trong nghiên cứu là một trong số những

người sau đây:



+ Người sống chung cùng nhà (có hoặc không cùng huyết thống) có hỗ trợ

trực tiếp và thường xuyên (về vật chất, tinh thần và chăm sóc trực tiếp) với

nam TCMT nhiễm HIV

+ Người có quan hệ huyết thống không sống cùng, nhưng có hỗ trợ trực tiếp

và thường xuyên cho người nam TCMT nhiễm HIV

+ Người không có quan hệ huyết thống nhưng được nam TCMT nhiễm HIV

tự đánh giá là có hỗ trợ trực tiếp và thường xuyên.

• Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu:

+ Người trên 18 tuổi

+ Được nam TCMT xác định là “thành viên gia đình” theo các tiêu chí trên

+ Có tên trong danh sách của Bảng nhận diện gia đình (xem dưới đây) của

đối tượng nam TCMT nhiễm HIV

+ Có khả năng hiểu và ký vào bản thỏa thuận tham gia nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào nhóm nam giới TCMT nhiễm HIV mà

chưa mở rộng sang nhóm nữ giới một phần là do trong số nhiễm mới HIV

chiếm đa số vẫn là nam giới và tại nhiều báo cáo cũng cho thấy vai trò lây

truyền HIV từ nam giới TCMT sang các nhóm ít nguy cơ hơn (vợ/ bạn tình

không nhiễm HIV) trong cộng đồng vẫn cần được chú ý đến [7], [31].

- Quy trình chọn mẫu

+ Tuyển chọn nam TCMT nhiễm HIV dựa theo phương pháp “hòn tuyết lăn”

– đối tượng giới thiệu đối tượng. Việc sàng lọc đối tượng nam TCMT được

tiến hành ở cộng đồng hoặc ở tại cơ sở nghiên cứu đặt tại Trường Đại học

Y Hà Nội

+ Sau bước sàng lọc đủ tiêu chuẩn và ký thỏa thuận tham gia nghiên cứu:

o Nam TCMT trả lời phỏng vấn (một nghiên cứu khác) trong đó có việc liệt

kê các “thành viên gia đình” trong Bảng nhận diện gia đình. Bảng nhận

diện này yêu cầu nam TCMT liệt kê: Tất cả những người sống chung có



hoặc không cùng huyết thống, tất cả con ruột dù có sống chung hay không,

tất cả vợ/ bạn tình dù có sống chung hay không, và những người không

sống chung hoặc không phải có quan hệ huyết thống nhưng có hỗ trợ trực

tiếp và thường xuyên.

o Mỗi nam TCMT sau khi kết thúc phỏng vấn được phát một thẻ mời gia

đình để mời một “thành viên gia đình” trong Bảng nhận diện gia đình vào

tham gia nghiên cứu.

Tiếp đón

Kiểm tra coupon IDU



PV sàng lọc IDU

-



XN sàng lọc HIV



- XN sàng lọc sử dụng chất



Đủ tiêu chuẩn



Không đủ tiêu chuẩn



Tiến hành phỏng vấn



Dừng tuyển chọn



Mời gia đình



Tiếp đón người nhà



Phát coupon cho IDU



Phỏng vấn



Sơ đồ 2: Quy trình chọn mẫu và thu thập thông tin

2.4. Biến số và chỉ số trong nghiên cứu

Nội dung

Đặc điểm

chung của

đối tượng

nghiên cứu



Biến số

Tuổi

Giới

Quan hệ với nam TCMT

Trình độ học vấn

Tình trạng hôn nhân

Nghề nghiệp

Thu nhập



Chỉ số

Trung bình, % nhóm tuổi

% theo giới tính khi sinh

% theo mối quan hệ

% theo cấp độ học vấn

% tình trạng hôn nhân

% theo nhóm nghề

Thu nhập trung

bình/tháng cả gia đình 12

tháng qua



Công cụ

Phần A

của Bộ

câu hỏi

phỏng

vấn



Mô tả đặc

điểm trầm

cảm – lo âu

– stress của

thành viên

gia đình

nam TCMT

nhiễm HIV



Mô tả yếu

tố liên

quan trầm

cảm – lo âu

– stress của

thành viên

gia đình



Nhiễm HIV

% tình trạng nhiễm HIV

Nhận thức về khả năng tiếp cận dịch vụ y tế

Nhận thức tiếp cận dịch Điểm trung bình của nhận

vụ theo thang 0 – 100 thức tiếp cận dịch vụ

Trải nghiệm về sự kỳ thị của thành viên gia đình

Trải nghiệm về sự kỳ thị Điểm trung bình trải

theo thang 0 – 9

nghiệm về sự kỳ thị

Sức khỏe tâm thần

Điểm trung bình trầm

cảm, lo âu, stress

Tương quan tuyến tính

Sức khỏe tâm thần theo

theo cặp của 3 thành tố

thang DASS-21

% theo mức độ trầm cảm,

lo âu, stress

% có/không cả 3 thành tố

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Sử dụng mô hình SEM

Đặc điểm nhân khẩu học

xác định yếu tố liên quan

Tình trạng nhiễm HIV

đến sức khỏe tâm thần

Gánh nặng chăm sóc

Điểm trung bình gánh

Gánh nặng chăm sóc

nặng chăm sóc chung của

theo thang điểm 0 – 100

mẫu và của từng miền

Mối quan hệ gia đình

Điểm trung bình quan hệ

Mối quan hệ gia đình

gia đình chung của mẫu

theo thang điểm 0 – 100

và của từng miền

Hỗ trợ xã hội

Điểm trung bình hỗ trợ xã

Hỗ trợ xã hội theo thang

hội chung của mẫu và của

điểm 0 – 100

từng miền

Đặc điểm nam TCMT nhiễm HIV

Thời gian lệ thuộc chất Sử dụng mô hình SEM

Tình trạng điều trị (điều xác định yếu tố liên quan

trị ARV và/ hoặc MMT) đến sức khỏe tâm thần



2.5. Công cụ thu thập thông tin

1.3.3. Công cụ thu thập thông tin



Phần G

Phần F



Phần B



Phần A



Phần C



Phần D



Phần E



Phần H



Thông tin được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối

tượng trong 45-60 phút với công cụ là bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (phụ lục).

1.3.4. Các thang đo sử dụng trong nghiên cứu

- Trầm cảm – lo âu – stress (Depression Anxiety Stress Scale – 21)

• Nghiên cứu sử dụng Thang đo Trầm cảm – Lo âu – Stress 21 (DASS-21)

được phát triển bởi Lovibond năm 1995 [24], nhiều nghiên cứu trên thế

giới đã chứng minh giá trị độ tin cậy nội tại của thang đo này [72], [73].

Thang đo đã được đánh giá tính giá trị, độ tin cậy và khẳng định có thể áp

dụng tại Việt Nam [25].

• Các câu hỏi tập trung mô tả triệu chứng/cảm xúc của người trả lời gặp phải

trong vòng một tuần trước thời điểm phỏng vấn.

• Thang đo bao gồm 21 câu hỏi thuộc ba cấu phần: (D) Trầm cảm, (A) Lo âu

và (S) Stress; mỗi nhóm gồm 7 câu hỏi. Mỗi câu hỏi có 4 phương án lựa

chọn tương ứng với 4 mức độ điểm từ “0 – Không đúng chút nào” cho đến

“3 – Hoàn toàn đúng”.

• Với mỗi một nhóm (D), (A) và (S) đều được phân chia thành 5 mức độ từ

Rất nhẹ, Nhẹ, Vừa, Nặng và Rất nặng như sau:

Trầm cảm

Lo âu

Stress

Bình thường/rất nhẹ

0–4

0–3

0–7

Nhẹ

5–6

4–5

8–9

Vừa

7 – 10

6–7

10 – 12

Nặng

11 – 13

8–9

13 – 16

Rất nặng

≥ 14

≥ 10

≥ 17

- Gánh nặng chăm sóc (Caregiver Burden Scale)

• Nghiên cứu sử dụng Bộ câu hỏi sàng lọc Gánh nặng chăm sóc được phát

triển từ Thang đo Gánh nặng chăm sóc [62]. Câu hỏi liên quan tới những

thay đổi thành viên gia đình phải đối mặt trong cuộc sống.

• Công cụ bao gồm 19 câu hỏi, chia thành 3 cấu phần: (1) Gánh nặng tài

chính, (2) Gánh nặng sức khỏe, (3) Gánh nặng cảm xúc. Mỗi câu có 5

phương án tương ứng 5 mức độ điểm từ “1 – Hoàn toàn không đồng ý”

đến “5 – Hoàn toàn đồng ý”.



• Gánh nặng chăm sóc được đánh giá bằng tổng điểm của cả ba cấu phần,

điểm càng cao càng thể hiện mức độ của gánh nặng.

- Mối quan hệ gia đình (Family Function Scale)

• Mối quan hệ gia đình sử dụng Thang đo quan hệ gia đình [74].

• Công cụ bao gồm 15 câu hỏi, chia đều trong 3 cấu phần: (1) Sự gắn kết,

(2) Sự mâu thuẫn, (3) Mối quan hệ xã hội của gia đình. Mỗi câu có 4

phương án tương ứng 4 mức độ điểm từ “1 – Không đúng chút nào” đến

“4 – Rất đúng”.

• Mối quan hệ gia đình được đánh giá bằng tổng điểm cấu phần “Sự gắn

kết” và “Mối quan hệ xã hội”, sau đó trừ đi điểm cấu phần “Sự mâu

thuẫn”. Điểm càng cao thể hiện mối quan hệ trong gia đình càng tích cực.

- Hỗ trợ xã hội (Medical Outcome Study Social Support Survey)

• Hỗ trợ xã hội được đo lường bằng sử dụng Thang đo hỗ trợ xã hội đo

lường trong các nghiên cứu y học [75].

• Bộ câu hỏi bao gồm 19 câu hỏi, chia thành 4 cấu phần: (1) Hỗ trợ chia sẻ

cảm xúc hoặc thông tin; (2) Hỗ trợ nhu cầu cụ thể trong cuộc sống; (3) Hỗ

trợ thông qua tương tác tích cực; (4) Hỗ trợ thể hiện tình cảm. Mỗi câu có

5 phương án tương ứng 5 mức độ điểm từ “1 – Luôn luôn” đến “5 –

Không bao giờ”.

• Khi sử dụng để phân tích số liệu, chuyển mức độ điểm theo chiều hướng

càng cao càng tích cực. Mức độ hộ trợ xã hội được đánh giá bằng tổng

điểm của 4 cấu phần và so với thang 100 điểm, điểm càng cao càng thể

hiện sự hỗ trợ xã hội tích cực.

2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu









Xử lý số liệu

Số liệu được làm sạch ngay sau mỗi phiếu thu thập.

Thông tin sau khi thu thập được nhập bằng phần mềm Epi info 7.

Phân tích số liệu trên phần mềm Stata 14 và Mplus version 7.4

Sử dụng trung bình, độ lệch chuẩn, trung vị để mô tả biến định lượng; tỷ lệ



phần trăm để mô tả biến định tính.

• Thuật toán và test thống kê:



+ Sử dụng t test hoặc Mann-Whitney test để tìm sự khác biệt trung bình giữa

hai nhóm.

+ Phân tích tương quan tuyến tính xác định mối tương quan giữa các cặp

biến định lượng trong nghiên cứu.

+ Phân tích mô hình phương trình cấu trúc (Structural Equation Model –

SEM) bằng phần mềm Mplus 7.31 [76], phân tích dựa trên mô hình lý

thuyết ban đầu và số liệu thực tế để kiểm tra tính liên quan của một số biến

dự báo đối với trầm cảm, lo âu và stress của thành viên gia đình nam

TCMT nhiễm HIV. Kỹ thuật và các bước phân tích sẽ trình bày kỹ hơn ở

phần Kết quả nghiên cứu và Bàn luận.

- Số liệu sau khi phân tích được trình bày bằng phần mềm Excel, Word.

2.7. Sai số và cách khắc phục

2.7.1. Các sai số có thể gặp trong nghiên cứu

- Sai số chọn mẫu:

• Nam TCMT xác định dựa trên phương pháp chọn mẫu “hòn tuyết lăn” đối

tượng giới thiệu đối tượng, các hạt giống được lựa chọn từ các phòng

khám HIV/MMT và từ các nhóm cộng đồng, việc này hạn chế tuyển chọn

được các đối tượng từ các nhóm khác như TCMT trẻ tuổi. Bên cạnh đó,

việc tuyển chọn đối tượng tiếp theo của các hạt giống được thực hiện với

mức độ khác nhau, có thể khó lấy được nhóm khó tiếp cận.

• Lựa chọn đối tượng nghiên cứu dựa trên sự đánh giá chủ quan của nam

TCMT về người hỗ trợ chính, từ đó phát phiếu mời thành viên gia đình

vào nghiên cứu, trong nhiều trường hợp chỉ mời được thành viên gia đình

có mối quan hệ tốt và các hỗ trợ tinh thần với người bệnh mà bỏ sót những

người có những hỗ trợ khác.

- Sai số nhớ lại:

Nghiên cứu sử dụng các thang đo yêu cầu nhớ những khoảng thời gian

trong quá khứ có thể khiến đối tượng nghiên cứu nhớ nhầm về sự việc.

- Sai số thu thập thông tin:



Đối tượng khai báo sai thông tin, đôi khi xảy ra cường điệu hóa trải

nghiệm và những gánh nặng trong cuộc sống với mong muốn nhận được

nhiều sự quan tâm hơn.

2.7.2. Cách khắc phục sai số

- Tập huấn điều tra viên trong 3 ngày về cách thức sử dụng Bộ câu hỏi và kỹ

năng thu thập được thông tin một cách chính xác.

- Giải thích rõ ràng, tỉ mỉ cho các nam TCMT nhiễm HIV về khái niệm gia

đình được sử dụng trong nghiên cứu để có thể mời được người có nhiều hỗ

trợ nhất cho nam TCMT nhiễm HIV trong chăm sóc và điều trị HIV

và/hoặc ma túy.

2.8. Đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của

trường Đại học Y Hà Nội xem xét và phê duyệt (QĐ 144/HĐĐĐĐHYHN)

ngày 18/7/2014.

- Việc tham gia của đối tượng nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện, trước khi

tham gia đối tượng được phát một giấy mời trong đó có giới thiệu mục

đích và ý nghĩa của nghiên cứu, các đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

sẽ ký vào bản thỏa thuận trước khi trả lời phỏng vấn và được mời sang

phòng riêng tại nhà A5 – Đại học Y Hà Nội để phỏng vấn.

- Thông tin của đối tượng hoàn toàn được bảo mật, chỉ sử dụng Mã nghiên

cứu trong các phiếu điều tra. Các thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục

đích nghiên cứu.

- Sau khi hoàn thành phỏng vấn, nghiên cứu có khoản thù lao 150.000 VNĐ

cho đối tượng vì đã sắp xếp thời gian tham gia nghiên cứu.

CHƯƠNG 3.



KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU



3.1. Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu

3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu của thành viên gia đình nam TCMT nhiễm HIV



Nhận xét:

Trong 146 người tham gia nghiên cứu là “thành viên gia đình” có tới 60

người (41,1%) là vợ/ bạn tình đang sống chung cùng nam TCMT nhiễm HIV.

Có 40 người (27,4%) người tham gia nghiên cứu là bố/ mẹ trong đó có 35

người là mẹ và 5 người là bố của nam TCMT nhiễm HIV. Điều này cũng giải

thích cho việc mẫu nghiên cứu có tỷ lệ cao là nữ giới.

Kết quả nghiên cứu cũng có đến 25 người (17,1%) là anh/ chị/ em ruột

của nam TCMT nhiễm HIV, nhóm này cũng được đánh giá là có nhiều sự hỗ

trợ quan trọng.

Bảng 1: Đặc điểm chung của người tham gia nghiên cứu (N = 146)

Đặc điểm



n



Tuổi

< 30

30 – 39

40 – 49

≥ 50



19

52

24

51



% hoặc ± SD

44,6 ± 14,7

Median = 40,9

Range: 18 – 83,4

13%

35,6%

16,4%

35%



Giới

Nữ

Nam

Trình độ học vấn

Dưới tiểu học/Tiểu học

Trung học cơ sở

Trung học phổ thông trở lên

Hôn nhân

Kết hôn/sống cùng bạn tình

Ly dị/ly thân/góa

Độc thân

Nghề nghiệp

Ổn định (nhà nước, văn phòng,…)



108

38



74%

26%



16

54

76



11%

37%

52%



112

22

12



76,7%

15,1%

8,2%



9



6,2%



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(73 tr)

×