Tải bản đầy đủ - 73 (trang)
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 73trang

Trên cơ sở đó, nhiều nghiên cứu xác định thành viên gia đình/ người

chăm sóc người nhiễm HIV thông qua thông tin về hộ khẩu (sống cùng nhà)

hoặc thông qua sự lựa chọn/ đánh giá của chính người nhiễm HIV dựa trên

mức độ hỗ trợ cho mình [17].

- Các vấn đề sức khỏe tâm thần đề cập trong nghiên cứu

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), sức khỏe tâm thần được định nghĩa

là một trạng thái của sức khỏe trong đó cá nhân nhận thức được khả năng của

chính mình, có thể đương đầu với những căng thẳng thông thường trong cuộc

sống, làm việc hiệu quả và có khả năng đóng góp cho cộng đồng [19]. Chiều

tích cực của sức khỏe tâm thần được nhấn mạnh trong định nghĩa về sức khỏe

của WHO, như là một phần không thể thiếu của sức khỏe: “Sức khỏe là một

trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ đơn

thuần là tình trạng có bệnh hay thương tật” [19].

+ Stress, phân loại và các biểu hiện

Stress là đáp ứng/ phản ứng của cơ thể đối với các sự kiện hoặc những

yếu tố căng thẳng trong cuộc sống. Những yếu tố căng thẳng (stressor) có thể

xuất phát từ môi trường sống như công việc, gia đình,… hoặc có thể do thay

đổi từ bên trong cơ thể như giai đoạn dậy thì, mang thai [20].

Theo phân loại, stress bao gồm stress sinh lý và stress bệnh lý. Khi

đáp ứng các yếu tố căng thẳng, cá nhân đã tạo lập được mô hình thích hợp để

thích ứng hoặc chống lại yếu tố căng thẳng, đây là các stress sinh lý. Stress

bệnh lý gồm hai loại: cấp tính và mạn tính. Stress cấp tính là khi các yếu tố

căng thẳng quá mạnh và đột ngột, vượt quá khả năng đáp ứng của cá nhân.

Mặt khác, các yếu tố căng thẳng tác động liên tục, kéo dài, làm đứt gãy sự

chống đỡ của cá nhân có khả năng hình thành các stress mạn tính [20].

Biểu hiện của các stress bệnh lý (nhấn mạnh các stress mạn tính) dẫn

đến những thay đổi về mặt cơ thể (rối loạn hệ thần kinh thực vật như kích

thích hệ thần kinh giao cảm – vã mồ hôi, khô miệng,… hoặc các vấn đề tim



mạch, tăng huyết áp,…), những thay đổi về hành vi (rối loạn hành vi) hoặc

những thay đổi cảm xúc (rối loạn cảm xúc như lo âu, trầm cảm) [2], [20].

+ Trầm cảm

Trầm cảm là một trạng thái được đặc trưng bởi nỗi buồn, sự mất hứng

thú hoặc hài lòng, cảm giác giảm thấp giá trị bản thân, mất ngủ hoặc chán ăn,

mệt mỏi, kém tập trung [21]. Khi các biểu hiện này kéo dài trong một khoảng

thời gian trong hai tuần hoặc lâu hơn, gây trở ngại tới các hoạt động thông

thường như học tập, chăm sóc gia đình,…thì đó có thể là một dạng rối loạn

trầm cảm và cần được thăm khám tại các phòng khám chuyên khoa [21], [22].

Trầm cảm có thể kéo dài liên tục hoặc theo từng giai đoạn, làm suy yếu

khả năng hoạt động, làm việc và đương đầu với cuộc sống của cá nhân, ở mức

độ nghiêm trọng nhất trầm cảm có thể dẫn đến tự tử [21]. Ở mức độ nhẹ và

mới, cá nhân có thể vượt qua trầm cảm bằng các trị liệu tâm lý một cách hiệu

quả như nói chuyện thầy thuốc – người bệnh, mức độ này phần lớn chưa cần

sử dụng thuốc [21].

Vì vậy mà các phương pháp phát hiện sớm dấu hiệu/ biểu hiện cũng

như quan tâm thích đáng tới hậu quả của trầm cảm có vai trò đặc biệt quan

trọng.

+ Lo âu

Lo âu là trạng thái có thể khá phổ biến trong cuộc sống hằng ngày, tuy

nhiên khi cảm giác lo âu hoặc đau buồn tràn ngập cuộc sống vượt quá khả

năng kiểm soát để duy trì các hoạt động thường ngày thì một rối loạn lo âu có

thể được hình thành [23]. Rối loạn lo âu là một vấn đề sức khỏe tâm thần phổ

biến ở Mỹ với khoảng 18% người lớn ở quốc gia này có rối loạn lo âu [23].

Rối loạn lo âu có nhiều nhóm khác nhau tuy nhiên đều đặc trưng bởi:

dai dẳng, lo lắng hoặc sợ hãi quá mức đối với các tình huống không phải là đe

dọa; có một hoặc nhiều triệu chứng trong các triệu chứng cảm xúc (lo âu, sợ

hãi, căng thẳng, hoảng hốt, bồn chồn) hoặc triệu chứng thực thể (khó thở hoặc



hồi hộp đánh trống ngực, đau bụng, vã mồ hôi, run hoặc co giật, nhức đầu,

mệt mỏi, mất ngủ, có thể tiêu chảy) [23].

Các rối loạn lo âu có thể kết hợp và làm trầm trọng thêm các rối loạn

khác đặc biệt là trầm cảm và rối loạn sử dụng chất gây nghiện [23]. Cần phân

biệt rõ ràng rằng rối loạn lo âu và rối loạn trầm cảm không giống nhau, mỗi

loại có nguyên nhân và các triệu chứng cảm xúc, hành vi riêng biệt; tuy nhiên

trầm cảm có thể hình thành trên nền của một rối loạn lo âu trước đó, chưa có

bằng chứng nhân quả giữa hai rối loạn này nhưng có nhiều bằng chứng đã

chứng minh một người thường gặp hai rối loạn này đi kèm với nhau [3].

Thang đo trầm cảm – lo âu – stress (DASS – Depression Anxiety Stress

Scale) được phát triển bởi Lovibond năm 1995 [24]. Thang đo có 42 câu hỏi

chia thành 3 nhóm (trầm cảm, lo âu, stress) với mỗi câu có 4 phương án lựa

chọn tương ứng với mức độ điểm từ “0 – Không đúng chút nào” đến “3 –

Hoàn toàn đúng”. Sử dụng tổng điểm để chia mỗi nhóm thành 5 mức độ từ

bình thường đến rất nặng. Thang đo cũng có bản rút gọn bao gồm 21 câu

(DASS-21), với 7 câu mỗi nhóm, cách tính điểm tương tự và điểm có thể

được so theo mức độ của thang DASS-21 hoặc tổng điểm nhân đôi để so theo

mức độ của thang DASS. Thang đo DASS-21 đã được đánh giá tính giá trị,

độ tin cậy và khẳng định có thể áp dụng tại Việt Nam [25].

1.2. Dịch tễ học nhiễm HIV và mối liên quan với tiêm chích ma túy

1.2.1. Dịch tễ học nhiễm HIV ở thế giới và Việt Nam

Tính đến cuối năm 2015 có khoảng 36,7 triệu người đang sống chung

với HIV (dao động trong khoảng từ 34,0 – 39,8 triệu người), trong đó chỉ có

khoảng 60% biết tình trạng nhiễm HIV của họ. Trong năm 2015, số trường

hợp nhiễm mới HIV giảm 35% so với năm 2000, nhưng vẫn ở mức cao 2,1

triệu người, CI 95% 1,8 – 2,4. Cũng trong năm 2015, khoảng 1,1 triệu người

đã tử vong do các nguyên nhân liên quan đến HIV/AIDS [5].



Khu vực Châu Á Thái Bình Dương có khoảng 5,1 triệu người đang

sống chung với HIV, với số trường hợp nhiễm mới HIV trong năm 2015 là

295,1 nghìn người (dao động từ khoảng 236 – 375,7 nghìn), số trường hợp tử

vong do các nguyên nhân liên quan đến bệnh AIDS khoảng 180 nghìn người.

Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong khu vực này là Ấn Độ với 2,1 triệu người

sống chung với HIV [4].

Việt Nam phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên tháng 12/1990 tại Thành

phố Hồ Chí Minh, tính đến nay sau 25 năm, dịch đang có xu hướng chậm lại

với số nhiễm mới HIV phát hiện giảm dần. Tuy nhiên con số tích lũy trong

cộng đồng còn ở mức cao và HIV vẫn đang là một trong những nguyên nhân

hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam.

Theo ước tính của Cục phòng chống HIV/AIDS, cả nước hiện có

khoảng 227 nghìn người nhiễm HIV trong cộng đồng, có khoảng 12 – 14

nghìn trường hợp nhiễm mới HIV mỗi năm, và có khoảng 80% người nhiễm

HIV biết được tình trạng HIV của họ. Tính đến giữa năm 2016 thống kê cho

thấy có trên 89 nghìn người nhiễm HIV đã tử vong [8], [31]. Trong số những

người mới phát hiện nhiễm HIV trong năm 2015, tỷ lệ nữ là 34,1%, nam

65,9%; tỷ lệ lây truyền qua đường tình dục là 50,8%, lây truyền qua đường

máu 36,1%, mẹ truyền sang con 2,8%, và không rõ nguyên nhân là 10,4%

[31].

Tại Việt Nam, các khu vực trọng điểm có tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất vẫn

là các tỉnh ở khu vực Miền núi Phía bắc như Điện Biên (821 người nhiễm

HIV/100 nghìn dân), Sơn La (668 người nhiễm HIV/100 nghìn dân), Thái

Nguyên (515 người nhiễm HIV/100 nghìn dân), và khu vực Thành phố Hồ

Chí Minh (621 người nhiễm HIV/100 nghìn dân) [31]. Đây đều là những khu

vực có tỷ lệ người tiêm chích ma tuý nhiễm HIV cao, và cũng là các trọng

điểm về sử dụng ma tuý trong cả nước.



Trong nhiều năm qua, các giải pháp và nỗ lực nâng cao độ bao phủ của

điều trị ARV có vai trò quan trọng trong quá trình ứng phó dịch HIV/AIDS.

Tính đến giữa năm 2016, thế giới có 18,2 triệu người nhiễm HIV (chiếm

khoảng 46% tổng số người nhiễm HIV) được tiếp cận điều trị ARV, tăng

khoảng 2,4 triệu người so với cùng kỳ năm 2015 [5]. Tại Việt Nam, tính đến

hết 30/6/2016 đã điều trị cho trên 110 nghìn người nhiễm HIV tại 407 cơ sở

điều trị (chiếm khoảng 48% tổng số người nhiễm HIV báo cáo hiện còn

sống), tăng 4 nghìn người so với cuối năm 2015 [8].

1.2.2. Mối liên quan giữa tiêm chích ma túy và nguy cơ lây nhiễm HIV

Hình thái lây truyền do tiêm chích ma túy là nguyên nhân chính gây

bùng nổ dịch HIV tại Việt Nam [7]. Sử dụng chung dụng cụ tiêm chích là

hành vi nguy cơ quan trọng trong lây truyền HIV. Bên cạnh đó người TCMT

còn có các hành vi tình dục không an toàn, đặc biệt đối với nhóm vợ/ bạn tình

không nghiện chích, điều này làm cho người TCMT trở thành cầu nối làm lây

truyền HIV sang các quần thể có nguy cơ thấp hơn [7].

Năm 2012, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người TCMT là 13,4% (so với

tỷ lệ nhiễm HIV là 0,45% trong dân số nói chung), tỷ lệ này lên đến 56% ở

một số tỉnh (Điện Biên, Quảng Ninh) [32].

Kết quả giám sát trọng điểm năm 2015 cho thấy trong các nhóm nguy

cơ cao, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT là cao nhất với tỷ lệ là 9,3%, so

với tỷ lệ nhiễm HIV trong phụ nữ bán dâm là 2,7% và MSM là 5,2% [31]. Tỷ

lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT tuy đã giảm so với năm 2012 (từ 13,4%

xuống còn 9,3%), nhưng con số này vẫn còn ở mức cao so với nhiều quốc gia

khác và cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ nhiễm HIV trong dân số nói chung năm

2015 là 0,3% [31], [32].

Một nghiên cứu khảo sát mối liên quan giữa thời gian tiêm chích với

nhiễm HIV cho thấy có mối liên quan giữa tiền sử tiêm chích ma túy trên 3

năm và nhiễm HIV (OR=3,2; CI 95% 1,31-7,91), và tần số tiêm chích càng

dày thì nguy cơ lây nhiễm càng lớn [33]. Bên cạnh nguy cơ lây nhiễm HIV



qua tiêm chích, người TCMT còn có hành vi nguy cơ về quan hệ tình dục

trong đó 38,1% người nghiện chích ma túy nhiễm HIV có quan hệ tình dục

với phụ nữ bán dâm và 70,3% đối tượng nghiện chích ma túy có từ 2 bạn tình

trở lên [33].

Điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện được chứng minh là có hiệu quả

trong việc làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS ở nhóm tiêm chích ma túy.

Một tổng quan và phân tích hệ thống năm 2012 cho thấy điều trị thay thế chất

dạng thuốc phiện làm giảm 54% nguy cơ lây truyền HIV trong những người

TCMT (RR=0,46; CI 95% 0,32-0,67, p<0,001) [34].

Tại Việt Nam, chương trình điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện

bằng Methadone được đưa vào thử nghiệm năm 2008, đến 30/6/2016 đã có

251 cơ sở điều trị Methadone trên 58 tỉnh [8], và đã chứng minh được những

hiệu quả tích cực [7], [8], [31].

1.3.



Vai trò hỗ trợ của gia đình và sức khỏe tâm thần của



thành viên gia đình người tiêm chích ma túy và/ hoặc nhiễm HIV

1.3.1. Vai trò của gia đình trong hỗ trợ chăm sóc người TCMT nhiễm HIV

Các nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của gia đình và đặc điểm

nhà ở đối với nguy cơ lây nhiễm HIV.

Không có gia đình, vô gia cư có liên quan đến sự lạm dụng rượu, ma

túy hoặc các chất gây nghiện bất hợp pháp, cũng là một yếu tố quan trọng

trong lan truyền HIV trong cộng đồng [35], [36], [37]. Một nghiên cứu khác

cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm vô gia cư (hoặc tình trạng gia đình

không ổn định) ước tính khoảng 10-20%, cao hơn nhóm có gia đình khoảng

5-10 lần [36]. Người vô gia cư nhiễm HIV có tình trạng sức khỏe kém và khả

năng tử vong cao hơn những người có được sự chăm sóc của gia đình [36],

[37]. Hoặc đơn giản như những căng thẳng gia đình cũng khiến người nhiễm

HIV có xu hướng báo cáo mức độ trầm cảm và tình trạng sức khỏe thể chất

kém đi [38].



Mối quan hệ gia đình và sự hỗ trợ tài chính, hỗ trợ tinh thần cũng

được xem như một yếu tố bảo vệ trong mối liên quan với trầm cảm và hành vi

tiêm chích nguy cơ ở người TCMT, ngược lại mâu thuẫn là yếu tố nguy cơ

[39], [40]. Các nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của tình trạng gia đình đối

với sự tuân thủ điều trị và hấp thu thuốc ARV, mối liên quan này độc lập với

hành vi sử dụng ma túy, tình trạng tham gia điều trị methadone của người

bệnh [35], [36], [37], [41].

Chăm sóc tại nhà được cả phía người bệnh HIV/AIDS và thành viên

gia đình ưu tiên lựa chọn và cho là có nhiều lợi ích hơn so với điều trị nội trú

tại các bệnh viện; các lợi ích bao gồm sự đảm bảo tính bảo mật, không làm

ảnh hưởng tới hoạt động hàng ngày tại nhà, tiết kiệm chi phí đi lại và sinh

hoạt của gia đình, và một số lợi ích khác, điều này làm giảm gánh nặng tinh

thần và kinh tế cho gia đình bệnh nhân [42].

Phương thức hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV chủ yếu là các

hỗ trợ về chi phí chăm sóc sức khỏe, chi phí cho các hoạt động thường ngày;

các hỗ trợ tinh thần; tạo điều kiện thuận lợi cho tuân thủ điều trị thuốc HIV;

chăm sóc dinh dưỡng, vệ sinh cá nhân; nhắc nhở xét nghiệm định kỳ và theo

dõi tình hình sức khỏe, tham gia buổi tư vấn của phòng khám/ cán bộ cộng

đồng [42].

Những người chăm sóc lớn tuổi hoặc gặp một số vấn đề sức khỏe thì

có liên quan tích cực với việc kiểm soát tải lượng virus ở bệnh nhân

HIV/AIDS đã từng/ hiện tại TCMT (aOR=1,12; p<0,05), điều này được giải

thích bằng giả thuyết người chăm sóc lớn tuổi và gặp vấn đề sức khỏe có

nhiều kinh nghiệm và sự quan tâm sâu sắc hơn đến tình trạng sức khỏe người

bệnh HIV/AIDS [43].

Mặt khác, khả năng đánh giá của người chăm sóc về tình trạng sức

khỏe tâm thần kém của người bệnh và gia đình có ít thành viên hỗ trợ/ chăm



sóc là các yếu tố liên quan tiêu cực đến kiểm soát tải lượng virus ở người

bệnh (aOR=0,66 và aOR=0,34; p<0,01) [43]. Số lượng người chăm sóc cũng

có liên quan đến tải lượng virus của người bệnh HIV/AIDS [44].

Các nghiên cứu trong lĩnh vực nghiện chất và điều trị gia đình giai

đoạn năm 2003 – 2010 đã khẳng định can thiệp dựa vào gia đình có kết quả

tích cực trong việc duy trì hiệu quả điều trị nghiện chất, cải thiện sức khỏe

cho các thành viên gia đình; can thiệp dựa vào gia đình không chỉ được xem

như là sự lựa chọn tất yếu trong tương lai mà còn được nhận định như phương

pháp tiếp cận hiệu quả nhất cho điều trị nghiện chất [45].

Một số nghiên cứu can thiệp đã cung cấp những bằng chứng sơ bộ về

hiệu quả của can thiệp dựa vào gia đình ở những người nhiễm HIV và thành

viên gia đình, can thiệp làm giảm hội chứng trầm cảm, cải thiện hỗ trợ xã hội

cho cả hai đối tượng này, điều này cũng được chứng minh ở nhóm người

TCMT nhiễm HIV và thành viên gia đình [46], [47].

Nghiên cứu can thiệp khác ở Thái Lan năm 2012 chỉ ra can thiệp dựa

vào gia đình cho người nhiễm HIV và thành viên gia đình có kết quả tích cực

trong nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện vấn đề trầm cảm, mối quan hệ

gia đình của cả người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ [48].

Nghiên cứu tổng quan từ các nghiên cứu can thiệp cũng cho thấy can

thiệp nhóm dựa vào gia đình ở những gia đình chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

(gia đình có bố mẹ nhiễm HIV và con cái của họ) giúp các gia đình này đối

mặt với các vấn đề sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần [49].

Mặc dù vậy, cũng có nghiên cứu đã chỉ ra sự suy giảm vai trò hỗ trợ

của gia đình theo thời gian, đặc biệt đối với những người chăm sóc có nhiễm

HIV hoặc cũng sử dụng ma túy [50].

Đồng thời, nhiều nghiên cứu đã nêu lên giải pháp trong đáp ứng dịch

HIV/AIDS, gia đình/ người chăm sóc người nhiễm HIV là vấn đề cần được



chú trọng cả về tìm hiểu thực trạng và can thiệp chính sách, đảm bảo nhóm

gia đình và nhóm người chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được bảo vệ và cải

thiện chất lượng cuộc sống [44], [51].

1.3.2. Stress, lo âu, trầm cảm ở thành viên gia đình

Từ những năm 90 khi dịch HIV/AIDS bắt đầu tại Việt Nam, các kiến

thức y học cơ sở và thực tiễn liên quan đến HIV dần được làm rõ, nhưng mặt

khác sự kỳ thị và phân biệt đối xử người nhiễm HIV và các hành vi có liên

quan đến nhiễm HIV (thường được xem như tệ nạn là ma túy và mại dâm)

không có nhiều biến chuyển rõ rệt.

Người nhiễm HIV và gia đình của họ chịu những căng thẳng và áp lực

hằng ngày do cảm giác lo sợ tình trạng HIV bị tiết lộ và sợ bị kỳ thị phân biệt

đối xử [52], [53]. Kỳ thị cũng là một đặc tính tạo ra yếu tố gây stress thuộc

nhóm yếu tố stress thường xuyên (routine stress) như đã đề cập ở trên. Những

cảm xúc sợ hãi, lo âu, thất vọng trong khi chăm sóc cho người nhiễm HIV,

những áp lực trong quản lý chăm sóc sức khỏe cho người thân, những gánh

nặng về chi phí chăm sóc cũng tạo ra cảm giác bất hạnh trong gia đình [53].

Đây là các yếu tố kéo dài gây ra những rối loạn lo âu và trầm cảm ở thành

viên gia đình người nhiễm HIV.

Trên toàn thế giới, rối loạn sức khỏe tâm thần và rối loạn sử dụng chất

là nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh nặng bệnh tật, 23% số năm mất đi do

bệnh tật là do hai nguyên nhân này [54]. Bên cạnh đó, các rối loạn sức khỏe

tâm thần là yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn đến tình trạng ốm đau, đặc biệt

tăng nguy cơ với một số bệnh như HIV/AIDS, các bệnh tim mạch, đái tháo

đường, bệnh tự miễn [54].

Rối loạn sức khỏe tâm thần, rối loạn sử dụng chất gây nghiện, và

HIV/AIDS nằm trong một mối quan hệ có liên quan lẫn nhau [55], [56]. Để

mô tả mối quan hệ phức tạp đó, phần tổng quan này đề cập đến kết quả các



nghiên cứu hiện nay về vấn đề sức khỏe tâm thần (hoặc cụ thể là trầm cảm)

của thành viên gia đình của nhóm người sử dụng ma túy/ tiêm chích ma túy;

thành viên gia đình của nhóm người nhiễm HIV; và thành viên gia đình của

nhóm đồng thời nhiễm HIV có TCMT.

Đối với thành viên gia đình của nhóm sử dụng ma túy/ TCMT, tại Việt

Nam có một nghiên cứu được thực hiện lấy mẫu tại Phú Thọ cho nhóm nam

TCMT và thành viên gia đình của họ, kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung

bình trầm cảm của thành viên gia đình cao hơn nhóm nam TCMT, tuy nhiên

sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê; số năm sử dụng ma túy của nam

TCMT và sự nhận thức gánh nặng chăm sóc của thành viên gia đình đều làm

tăng mức độ hội chứng trầm cảm ở thành viên gia đình (p<0,05), tuy nhiên

nghiên cứu này chỉ mới đo lường hội chứng trầm cảm dựa vào bản rút gọn

của thang đo Tự đánh giá trầm cảm (Zung self-rating depression scale) nên

chưa thể mô tả một số dấu hiệu thường gặp khác của sức khỏe tâm thần [10].

Một nghiên cứu khác ở Nhật Bản trên thành viên gia đình người lạm dụng ma

túy lại cho thấy có tới 66,9% thành viên gia đình báo cáo có dấu hiệu trầm

cảm và lo âu, nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố nguy cơ đến tình trạng sức

khỏe tâm thần của thành viên gia đình là thành viên gia đình là nữ giới, thuộc

nhóm tuổi cao, tình trạng sử dụng ma túy thường xuyên của người thân [57].

Thành viên gia đình của người nhiễm HIV được đề cập khá nhiều

trong các nghiên cứu trên thế giới. Trong gia đình có người nhiễm HIV là

người lớn và/ hoặc trẻ em đều có liên quan làm tăng nguy cơ hội chứng trầm

cảm ở những người chăm sóc khác trong gia đình (β=0,261 với người lớn

nhiễm HIV, β=0,236 với trẻ em nhiễm HIV; p<0,01) [58]. Gánh nặng kinh tế

cũng là yếu tố có ý nghĩa dự báo tình trạng lo âu và trầm cảm ở người chăm

sóc người nhiễm HIV [58]. Một số nghiên cứu khác cho thấy tuy thành viên

gia đình là một chiến lược hiệu quả để có thể thúc đẩy sự tuân thủ điều trị



HIV và hỗ trợ người nhiễm HIV, nhưng cũng cần phải xem xét các ảnh hưởng

của việc chăm sóc đối với bản thân họ, khi mức độ căng thẳng cao thường

dẫn đến tình trạng sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần đều kém đi [11],

[59]. Sự kỳ thị liên quan HIV là một yếu tố làm tăng mức độ trầm cảm ở

thành viên gia đình người nhiễm HIV (β=0,13; p<0,05) [18]. Đặc biệt các

nghiên cứu đều đề cập đến việc gánh nặng chăm sóc có mối liên quan làm

tăng nguy cơ và mức độ của các dấu hiệu sức khỏe tâm thần [11], [18].

Đối với nhóm thành viên gia đình của người TCMT nhiễm HIV, bên

cạnh tỷ lệ sử dụng chất gây nghiện khá cao (53,1% người chăm sóc có sử

dụng chất gây nghiện/ lạm dụng rượu), nghiên cứu cũng chỉ ra có đến 32,7%

tổng số người chăm sóc có biểu hiện trầm cảm với điểm CES-D từ 16 điểm

trở lên [43]. Mặc dù được nhiều nghiên cứu mô tả khá rõ ràng mối liên quan

giữa tiêm chích ma túy và HIV/AIDS, tuy nhiên các nghiên cứu dường như

vẫn đang quan tâm đến mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này mà chưa

chú trọng sang hướng các giải pháp trên nhóm đối tượng cụ thể bao gồm cả

hai yếu tố - vừa TCMT và nhiễm HIV. Hơn nữa, vai trò của gia đình đã được

làm rõ ở trên, các can thiệp dựa vào gia đình đã để lại những hiệu quả quan

trọng, tuy nhiên các nghiên cứu về thành viên gia đình/ người chăm sóc của

người TCMT nhiễm HIV là khá ít, kể cả trong và ngoài nước. Với việc sử

dụng tìm kiếm tài liệu trong 10 năm trở lại đây, đồng thời dựa trên ba nhóm từ

khóa: liên quan đến nhiễm HIV (HIV-positive/ HIV-infected/ HIVseropositive/ living with HIV/ human immunodeficiency virus,…); tiêm chích

ma túy (injection drug user/ injecting drug/ who inject drugs/ people who

inject drugs,…) và sức khỏe tâm thần (mental health/ depression/ anxiety/

well-being/ psychosocial factors,…), có ít hơn 10 tài liệu được tìm thấy thỏa

mãn đồng thời ba nội dung trên thư viện y khoa quốc gia Hoa Kỳ và chỉ 1 tài

liệu trong số đó có biến đầu ra nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của đối tượng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(73 tr)

×