Tải bản đầy đủ - 73 (trang)
Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Tải bản đầy đủ - 73trang

Khóa luận tốt nghiệp

Ngay từ khi còn rất trẻ Hồ Chí Minh đã bộc lộ là một con người thực

tiễn, con người hành động chính thực tiễn cách mạng và cách mạng thế giới

đã hướng dẫn tư tưởng và hành động của Người. Khi vận dụng vào thực tiễn

của cách mạng nước ta. Hồ Chí Minh thường dùng các khái niện “ thực tế”

hay “ thực hành” cùng với các khái niệm “thực tiễn”

Khái niệm thực tiễn và thực tế tuy có nội dung khác nhau, vì thực tế

rộng hơn thực tiễn, nhưng trong một số trường hợp thì Hồ Chí Minh lại

dùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn, bởi vì khái niệm thực tế nhân dân

ta đã quen dùng, chẳn hạn Người nói : Lý luận phải liên hệ với thực tế,

nhưng Người cũng nói: thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên

tắc căn bản của chủ nghĩa Mác- Lênin … Theo Hồ Chí Minh: “thực tế là các

vấn đề mình giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật. Chúng ta là những cán bộ

cách mạng, thực tế của chúng ta là những vấn đề cách mạng đề ra cho ta giải

quyết. Thực tế bao gồm rất rộng. Nó bao gồm kinh nghiệm công tác và tư

tưởng của cá nhân, chính sách và đường lối của Đảng, kinh nghiệm lịch sử

của Đảng cho đến các vấn đề trong nước và trên thế giới” [14, 497]

Tuy xác định khái niệm thực tế là rất rộng, nhưng Hồ Chí Minh chỉ

khuôn vào trong các lĩnh vực cụ thể mà người cán bộ cách mạng phải đối

mặt, phải giải quyết kể từ công tác trong thực hành cách mạng, kinh nghiệm

cách mạng, đường lối, chính sách của cách mạng, đến công tác tư tưởng của

cán bộ… “ các vấn đề trong nước và thế giới”. Bằng việc làm cụ thể và

những lời giáo huấn, Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của thực tiễn, cho dù

nhiều lúc nêu cao vai trò của lý luận nhưng bao giờ Người cũng nhấn mạnh

lý luận cũng phải gắn với thực tiễn, phục vụ thực tiễn.

Ngay từ năm 1924, khi đọc diễn văn tại đại hội lần thứ V Quốc tế cộng

sản, Nguyễn Ái Quốc nhắc nhở Đảng Cộng Sản Pháp phải có hành động

thực tiễn về vấn đề thuộc địa. Người nói: “ Vậy phải hành động thực tiễn

như thế nào? Đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông qua những nghị



24



Khóa luận tốt nghiệp

quyết rất kêu để sau đại hội đưa vào viện bảo tàng như từ trước vẫn làm thì

chưa đủ. Chúng ta cần có biện pháp cụ thể” [ 18, 281].

Thực tiễn không chỉ được coi là những công việc cụ thể, thực tế, hiện

thực của cách mạng, mà còn được hiểu như là “thực hành”, kinh nghiệm rút

ra từ trong công tác. Người thường nói: lý luận gắn liền với thưc hành, lời

nói đi đôi với việc làm…

Xác định vai trò quan trọng của thực tiễn đối với lý luận và nhận thức

của con người, nhưng đồng thời chúng ta cần phải nhận thức được rằng thực

tiễn không đứng im một chỗ mà thực tiễn luôn luôn vận động biến đổi và

chuyển hóa không ngừng, cho nên, sự vận động của thực tiễn quyết định sự

vận động lý luận và nhận thức của con người.

Khi xác định vai trò quan trọng của thực tiễn, Hồ Chí Minh còn nêu

cao vai trò của việc học tập lý luận trong cách mạng Việt Nam. Trong tác

phẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã mượn câu nói của Lênin để

mở đầu cho tác phẩm như một bản tuyên ngôn: “không có lý luận cách

mệnh thì không có cách mệnh vận động…’”. Hai mươi năm sau, năm 1947

trong Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh định nghĩa: “ Lý luận là đem thực

tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so

sánh thật kĩ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh

với thực tế. Đó là lý luận chân chính”[ 20,233]. Mười năm sau, năm 1959

nói chuyện tại Trường Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh xác định thêm: Lý

luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức

về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử .

Hồ Chí Minh xác định lý luận đặc biệt là lý luận của chủ nghĩa Mác –

Lênin rất quan trọng, vì nó là kim chỉ nam cho hành động, chỉ phương

hướng cho chúng ta trong hoạt động thực tế. Không có lý luận thì không

biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng xử lý cho khéo kết quả thường thất

bại. Không có lý luận thì lúng túng nhắm mắt như nhắm mắt mà đi, lý luận



25



Khóa luận tốt nghiệp

quan trọng như vậy nên việc lựa chon lý luận đúng, chủ nghĩa đúng là yếu

tố quyết định đưa đến sự thành bại của cách mạng.

Khi xác định vai trò của lý luận Hồ Chí Minh cũng nêu lên ba khuyết

điểm mà cán bộ ta thường mắc phải, đó là kém lý luận, khinh lý luận, lý

luận suông. Kém lý luận là không nắm được lý thuyết chính trị, quân sự,

kinh tế, văn hoá để áp dụng vào phong trào, là không hiểu biện chứng là cái

gì? Nghĩa là, trước hết không chịu học chủ nghĩa duy vật biện chứng…kém

lý luận nên không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý nghĩ thế

nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại. [20, 234]. Khinh lý luận là “bệnh”

của những cán bộ kinh qua công tác hàng ngày nên có bề dày kinh nghiệm

có thành tích, họ thường coi khinh lý luận, coi nhẹ việc học tập lý thuyết,

học tập sách vở. Hồ Chí Minh nhắc nhở: Nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại

biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều…Những anh em đó, cần

nghiên cứu thêm lý luận mới thành người cán bộ toàn diện. Lý luận suông,

theo Hồ Chí Minh: Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế, lý luận mà

không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Có nhiều cán bộ, trí thức chỉ

chăm chú sách vở, học nhiều, bằng cấp lắm nhưng lại không đem áp dụng

vào công việc thực tế, họ trở thành những người lý luận suông. Hồ Chí

Minh nhắc nhở Đảng ta phải nâng cao trình độ lý luận của Đảng, phải tổ

chức học tập lý luận trong Đảng, trước hết là trong những cán bộ cốt cán

của Đảng...Rằng học tập lý luận là một sự cấp thiết đối với Đảng ta.

Trong việc vận dụng một cách sáng tạo lý luận nhận thức của triết học

Mácxít, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những kiểu mẫu về việc thực hiện quan điểm

lý luận gắn liền với thực tiễn trong cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh nói:

“Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ

nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực

tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [22,

496].



26



Khóa luận tốt nghiệp

Có lẽ vấn đề học tập lý luận và gắn liền lý luận với thực tiễn là vấn đề

được Hồ Chí Minh quan tâm nhiều nhất trong công tác giáo dục và đào tạo

cán bộ. Sau khi giành được chính quyền không lâu, khi viết tác phẩm sửa

đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh đã đề cập đến thiếu sót phổ biến của cán bộ ta

là kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông. Người nhắc nhở cán bộ phải

đem tri thức vào thực tế, lý luận phải đem ra thực hành, thực hành phải

nhằm theo lý luận. Người đưa hình ảnh “Mũi tên” và “Cái đích” để dễ hiểu

dễ nhớ: “Lý luận cũng như cái tên hoặc viên đạn. Thực hành cũng như cái

đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có

tên.” [20, 235].

Từ mối quan hệ hữu cơ đó, Người căn dặn chúng ta phải gắng học,

đồng thời học thì phải hành. Việc học lý luận và gắn lý luận với thực hành

được coi như tiêu chuẩn xác định tư cách và đạo đức của người cán bộ: “cán

bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành

phải luôn luôn đi đôi với nhau” [20, 249].

Hồ Chí Minh còn rất quan tâm đến mối quan hệ giữa lý luận - thực tiễn

– kinh nghiệm trong công tác cách mạng . Người nhắc nhở Đảng ta phải kết

hợp lý luận với kinh nghiệm và thực hành. Trong học tập phải theo nguyên

tắc: Kinh nghiệm và thực tế phải đi đôi với nhau. Đặc biệt trong lý luận, Hồ

Chí Minh chú trọng việc học tập lý luận Mác – Lênin cho cán bộ và đảng

viên đồng thời phải truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong nhân dân để

nhân dân thực hành công tác cách mạng. Nhưng, học tập chủ nghĩa Mác –

Lênin là học lấy cái tinh thần, cái phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin,

là đem lý luận Mác – Lênin liên hệ với thực tế cách mạng Việt Nam phải áp

dụng chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc

từng nơi. Đặc biệt, đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam phải áp dụng lập

trường, quan điểm và phương pháp Mác – Lênin mà giải quyết các vấn đề

thực tế của cách mạng Việt Nam. Nguyên tắc lý luận gắn liền với thức tiễn

được Hồ Chí Minh phát triển một cách cụ thể trong những hoàn cảnh cụ thể.

27



Khóa luận tốt nghiệp

Ví dụ, đối với học sinh, sinh viên, Hồ Chí Minh nói: Học phải đi đôi với

hành, học tập phải liên hệ với thực tế. Đối với tri thức, Hồ Chí Minh khuyên

phải đem lý luận kiến thức ra phục vụ nhân dân, đừng biến mình thành con

mọt sách. Đối với cán bộ, khi bồi dưỡng lý luận, phải liên hệ tư tưởng với

công tác của mình, khi làm việc phải phân tích những thắng lợi và thất bại,

những mặt đúng và mặt sai trong lập trường, quan điểm và phương pháp.

Đối với văn nghệ sĩ, Hồ Chí Minh khuyên phải năng đi thực tế đi vào nhân

dân thì mới có tác phẩm hay… Đối với Đảng, Người cho rằng Đảng ta trình

độ lý luận còn thấp kém, cho nên đứng trước nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng

ngày càng mới và phức tạp, Đảng ta phải nâng cao trình độ lý luận để khỏi

lúng túng, khỏi mắc sai lầm khuyết điểm. Tư tưởng về sự thống nhất giữa lý

luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phục

bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều.

Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu

trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ

đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý

luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ

với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý

luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau.

Hồ Chí Minh cho rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý

luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm thì trước hết cần khắc

phục bệnh kém lý luận, bệnh khinh lý luận. Bởi lẽ, kém lý luận, khinh lý

luận nhất định sẽ dẫn tới bệnh kinh nghiệm. Hơn nữa, không có lý luận thì

trong hoạt động thực tiễn người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới

tuyệt đối hóa kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công

trong hoạt động thực tiễn. Nếu không có lý luận hay trình độ lý luận thấp sẽ

làm cho bệnh kinh nghiệm thêm trầm trọng, thêm kéo dài. Thực tế cho thấy,

ở nước ta có không ít cán bộ, đảng viên "chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ

tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng.

28



Khóa luận tốt nghiệp

Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách

mạng" [21,237]. Những cán bộ ấy quên rằng, "kinh nghiệm của họ tuy tốt,

nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà

thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt

mờ" [20, 234]. Thực chất là họ không hiểu vai trò của lý luận đối với thực

tiễn. Theo Hồ Chí Minh, lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn,

lý luận "như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công

việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi" [20, 234

- 235]. "Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối

vừa chậm chạp vừa hay vấp váp" [21, 47]. Làm mò mẫm chính là biểu hiện

của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, khinh lý luận không chỉ dẫn tới bệnh

kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ, do kém lý luận, khinh lý

luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý luận và do đó

cũng không thể hiểu được bản chất những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Do

đó, không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn mới

nảy sinh. Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với

thực tiễn.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở rằng, có lý luận rồi thì

phải kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếu

không lại mắc phải bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều. Như vậy cũng

có nghĩa là lý luận suông, lý luận sách vở thuần túy. "Lý luận cốt để áp dụng

vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý

luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không

biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách" [20, 234]. Do

đó, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ thực tiễn, nếu không

cũng mắc phải bệnh giáo điều. Như vậy, lý luận chỉ có ý nghĩa đính thực khi

được vận dụng vào thực tiễn phục vụ thực tiễn, đóng vai trò soi đường, dẫn

dắt, chỉ đạo thực tiễn. Đồng thời, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn thì phải

phù hợp điều kiện thực tiễn. Rõ ràng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở

29



Khóa luận tốt nghiệp

Hồ Chí Minh phải được hiểu là, thực tiễn - lý luận, lý luận - thực tiễn luôn

hòa quyện, thống nhất với nhau, đòi hỏi nhau, cần đến nhau, tạo tiền đề cho

nhau phát triển.

Hồ Chí Minh không để lại những tác phẩm chuyên khảo về sự thống

nhất giữa lý luận và thực tiễn, nhưng ở nhiều bài viết, bài nói Người luôn

luôn đề cập tới nguyên tắc cơ bản này bằng nhiều cách nói, cách viết, cách

diễn đạt khác nhau nhằm giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân dễ

nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng. Cả cuộc đời của Người là tấm gương sáng về

việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Một trong

những biểu hiện sinh động ấy là, trong hoạt động cách mạng Người luôn

luôn sâu sát thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân dân. Trong khoảng

10 năm từ 1955 - 1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện trên 700 lượt đi thăm,

tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông dân, các cụ

phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, các đơn vị bộ đội, thanh niên

xung phong, các hợp tác xã, bệnh viện, trường học... Như vậy, mỗi năm có

tới hơn 70 lần xuống cơ sở, gặp gỡ tiếp xúc với quần chúng nhân dân. Điều

này đủ thấy Hồ Chí Minh gắn bó với quần chúng, sâu sát với cơ sở, thực tế

như thế nào.

Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, quán triệt tốt

nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là góp phần trực tiếp ngăn

ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Để làm tốt điều này

thì một mặt, phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyên

môn nghiệp vụ. Mặt khác, phải có phương pháp học tập đúng đắn, học phải

đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế. Nếu không, chưa khắc phục

được bệnh kinh nghiệm thì đã mắc phải bệnh giáo điều, bệnh sách vở.

Người chỉ rõ, "lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì

sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn

mạnh: Lý luận phải liên hệ với thực tế. Điều quan trọng nữa theo Người là

phải thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, chống bệnh giáo điều ngay trong

30



Khóa luận tốt nghiệp

học tập chủ nghĩa Mác-Lênin. Khi còn sống Người luôn phê phán kiểu học

thuộc lòng chủ nghĩa Mác- Lênin, "học sách vở Mác - Lênin nhưng không

học tinh thần Mác - Lênin" [23, 292]. Đó là học theo kiểu "mượn những lời

của Mác, Lênin dễ làm cho người ta lầm lẫn" [21, 247]. Theo Hồ Chí Minh,

học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là "phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết

cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta" [22,

497]. "Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi

việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý

phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn

cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm" [23, 292]. Hồ Chí Minh cũng căn

dặn cán bộ, đảng viên "học tập lý luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứ

không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận

để sau này đưa ra mặc cả với Đảng". Như vậy, học tập chủ nghĩa Mác Lênin không phải vì chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng không phải vì học tập

thuần túy, càng không phải học tập vì mục đích cá nhân nhằm có cái để mặc

cả với tổ chức. Học tập trước hết là để làm người, rồi mới làm cán bộ và

phụng sự tổ quốc, nhân dân, giai cấp. Cho nên người cán bộ, đảng viên phải

có thái độ học tập đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong

nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng này của Hồ Chí Minh

cho tới nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với chúng ta.

Người cũng lưu ý rằng, không nên coi chủ nghĩa Mác - Lênin là kinh thánh,

là những công thức có sẵn, cứng nhắc. Có như vậy thì việc nghiên cứu, học

tập vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin mới có hiệu quả. Cùng với việc chống

giáo điều trong học tập chủ nghĩa Mác - Lênin thì còn phải chống giáo điều

trong vận dụng lý luận cũng như kinh nghiệm của nước khác, ngành khác.

Người căn dặn cán bộ, đảng viên: Không chú trọng đến đặc điểm của dân

tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm

31



Khóa luận tốt nghiệp

nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều . Để chống cả hai loại giáo điều

này, theo Hồ Chí Minh thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý luận với thực tiễn

cách mạng nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực

tiễn cách mạng, khi vận dụng kinh nghiệm và lý luận phải xuất phát từ thực

tiễn nước nhà. Người cũng nhấn mạnh rằng, cùng với việc chống bệnh giáo

điều thì phải đề phòng, ngăn ngừa chủ nghĩa xét lại. Bởi lẽ, nếu không có

quan điểm đúng đắn trong việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn thì người ta dễ nhấn mạnh thái quá những đặc điểm dân tộc để

phủ nhận những giá trị phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ

biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc

sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại. Đồng thời, Người còn nhắc nhở

cán bộ, đảng viên phải biết dùng lý luận đã học được để tổng kết kinh

nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác.… công việc gì bất kỳ

thành công hoặc thất bại, chúng ta cần nghiên cứu cội rễ, phân tích thật rõ

ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để

giúp cho cán bộ tiến tới. Người còn nhấn mạnh " ...cần phải nghiên cứu kinh

nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển

kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm" [20, 417]. Đó chính là

quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung,

hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy cũng có nghĩa là làm cho

lý luận cần được "bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn

sinh động". Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt

bởi lý luận mới. Cứ như vậy, lý luận luôn được bổ sung, hoàn thiện, phát

triển bởi những kết luận mới được rút ra từ tổng kết thực tiễn. Còn thực tiễn

luôn được chỉ đạo, soi đường dẫn dắt bởi lý luận đã được bổ sung bằng

những kinh nghiệm thực tiễn mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc quán

triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh. "Làm



32



Khóa luận tốt nghiệp

như thế theo Người là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với

các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn" [22, 498].

Qua những nhận định ở trên, chúng ta thấy rằng, để quán triệt tốt

nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phục

bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có hiệu quả thì phải không ngừng học

tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận. Khi có lý luận thì phải vận dụng vào

thực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn để làm giàu lý luận bằng những kinh

nghiệm thực tiễn mới. Chỉ thông qua quy trình như vậy thì lý luận mới gắn

với thực tiễn, mới không trở thành giáo điều. Đồng thời thực tiễn mới sẽ

được chỉ đạo bởi lý luận sẽ không bị mò mẫm, vấp váp, hay chệch hướng.

Như vậy thì bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều cũng không còn chỗ đứng.

Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu

trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ

đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý

luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ

với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý

luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau.



CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Ở

ĐẠI HỌC HUẾ HIỆN NAY

2.1. Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội

ở nước ta hiện nay.

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu của mọi quốc gia

nhằm phát triển kinh tế xã hội. Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá

33



Khóa luận tốt nghiệp

cần phải phát huy mọi nguồn lực cần thiết trong nước và từ nước ngoài bao

gồm: Nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ, nguồn lực

tài nguyên, các ưu thế và các lợi thế về điều kiện địa lý, thể chế chính trị…

Trong đó nguồn nhân lực là quan trọng nhất, giữ vai trò quyết định. Nhận

thức rõ điều đó Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động

lực của sự phát triển xã hội bền vững.

Vậy nguồn nhân lực là gì? Khái niệm nguồn nhân lực đã được sử dụng

từ những năm 60, ở nhiều nước Phương Tây và một số nước châu Á. Hiện

nay khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan niệm mới về vai trò, vị trí

con người trong sự nghiệp phát triển. Ở nước ta khái niệm nguồn nhân lực

được sử dụng tương đối rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 đến nay.

Khi đưa ra khái niệm nguồn nhân lực, có rất nhiều ý kiến khác nhau.

Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản

xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát

triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó, quyết

định năng suất lao động và tiến bộ xã hội. Theo định nghĩa của liên hợp

quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của

toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế cũng như tiềm tàng để phát

triển kinh tế, xã hội trong cộng đồng”.

Ở nước ta, theo giáo trình quản lí nguồn nhân lực của học viện hành

chính quốc gia: “ nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kì

xác định dựa trên một phạm vi, một ngành hay một vùng”, những nghiên

cứu về con người được hiểu cụ thể là nguồn nhân lực (nguồn lực con người)

xem xét con người vừa là động lực cụ thể bên cạnh các nguồn lực khác

nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đòi hỏi nhu cầu về nguồn nhân lực với nội dung ngày càng cao.

Một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học – công nghệ cấp

nhà nước: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực phát triển kinh tế xã

hội” mang mã số KX – 07 do GS. TSKH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm

34



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Tải bản đầy đủ ngay(73 tr)

×