Tải bản đầy đủ - 25 (trang)
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẠO VIỆC LÀM

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẠO VIỆC LÀM

Tải bản đầy đủ - 25trang

4

em họ, thay đổi về các quan hệ xã hội.

1.2. Nội dung cơ bản về tạo việc làm cho người lao động

1.2.1. Những vấn đề chung về tạo việc làm

1.2.1.1. Việc làm

Khái niệm việc làm mà Bộ luật lao động Nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam đưa ra bao gồm các nội dung sau:

- Thứ nhất là hoạt động đó có ích và tạo ra thu nhập cho

người lao động và gia đình họ.

- Thứ hai là hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm.

1.2.1.2. Một số lý thuyết về tạo việc làm

a) Lý thuyết tạo việc làm của John Maynard Keynes

J.M. Keynes (1883- 1946) là nhà kinh tế người Anh, tác giả đã

xem xét việc làm trong mối quan hệ giữa sản lượng - thu nhập - tiêu

dùng - đầu tư - tiết kiệm- việc làm.

b) Lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa

hai khu vực của nền kinh tế

Lý thuyết này do Athur Lewis - nhà kinh tế học Jamaica được

giải thưởng Nobel 1979- đưa ra. Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là

chuyển số lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực

công nghiệp hiện đại do hệ thống tư bản nước ngoài đầu tư vào các

nước lạc hậu.

c) Lý thuyết của Harry Toshima

Theo Harry Toshima, lý thuyết của Athur Lewis không có ý

nghĩa thực tế với tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp ở các

nước châu Á gió mùa. Bởi vì, nền nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao



5

động lúc đỉnh cao của thời vụ và chỉ dư thừa lao động trong mùa

nhàn rỗi.

d) Lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động của

Todaro

Lý thuyết của Todaro nghiên cứu sự di chuyển lao động trên cơ

sở thực hiện điều tiết thu nhập, tiền lương giữa các khu vực kinh tế

khác nhau.

1.2.1.3. Tạo việc làm, chính sách tạo việc làm và sự cần thiết

phải tạo việc làm cho người lao động

Tạo việc làm, theo nghĩa rộng, bao gồm những vấn đề liên

quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực.

Quá trình đó diễn ra từ việc giáo dục, đào tạo và phổ cập nghề

nghiệp, chuẩn bị cho người lao động đến tuổi lao động, tự do lao động

và hưởng thụ xứng đáng với giá trị lao động mà họ đã tạo ra.

Tạo việc làm theo nghĩa hẹp chủ yếu hướng vào đối tượng thất

nghiệp, chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo thêm chỗ làm

cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp.

Chính sách việc làm là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các

mục tiêu, các giải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lượng lao động

(LLLĐ) và tạo việc làm cho LLLĐ đó.

Vấn đề tạo việc làm cho người lao động nói chung, cho người

lao động tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để thực

hiện công cuộc phát triển kinh tế nói riêng là vô cùng cần thiết vì nó

không chỉ làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, mà còn góp

phần làm ổn định xã hội, giảm thất nghiệp và các tệ nạn xã hội.



6

1.2.2. Nội dung tạo việc làm cho lao động

Từ những phân tích trên có thể rút ra nhũng nội dung cơ bản

tạo việc làm cho lao động.

1.2.2.1. Dạy nghề và học nghề cho người lao động

Dạy nghề cho lao động là quá trình trang bị kiến thức và kỹ

năng mới cho người lao động ngoài những gì họ đang có để họ có

thể đảm nhiệm được những công việc mới và tham gia vào quá trình

sản xuất. Hay nói cách khác, đào tạo nghề tạo ra sự thích ứng và phù

hợp cho lao động với các nhân tố sản xuất khác.

1.2.2.2. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp

Đây là các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi giúp cho lao

động có khả năng di chuyển, thay đổi từ nghề nghiệp này tới nghề

nghiệp khác.

1.2.2.3. Xuất khẩu lao động

Đây là hình thức tạo việc làm từ thị trường lao động nước

ngoài. Do đó để thực hiện được điều này người lao động được xuất

khẩu phải thỏa mãn những điều kiện nhất định phù hợp với nhu cầu

công việc của thị trường lao động nhập khẩu.

Ở đây cần phải giải quyết vấn đề kinh phí đào tạo và thủ tục xuất

khẩu…vì người dân tái định cư vốn nghèo khó khăn sau khi tái định

cư sẽ khó trang trải cho các chi phí này. Thông thường thì quy hỗ trợ

xuất khẩu lao động, một ngân hàng hay công ty xuất khẩu lao động

sẽ cung cấp khoản tài trợ này và sẽ thu lại sau khi người lao động làm

việc và có thu nhập.

1.2.2.4. Xúc tiến tạo việc làm từ các doanh nghiệp

Đây là quá trình mà chính quyền tạo ra sự kết nối giữa lao

động TĐC có nhu cầu việc làm và doanh nghiệp người thuê lao động.



7

Chính quyền và các đoàn thể có thể thực hiện xúc tiến tạo

việc làm từ các doanh nghiệp. Trước hết cần nắm bắt nhu cầu lao

động của doanh nghiệp và cung cấp thông tin về lao động cho các

doanh nghiệp. Đồng thời cung cấp thông tin việc làm cho lao động

tái định cư. Trên cơ sở đó tổ chức các hội chợ việc làm để kết nối.

1.2.2.5. Có chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư hợp lý

Chính sách bồi thường,, hỗ trợ tài định cư cho người dân là

tổng thể các biện pháp và điều kiện để đưa dân cư từ nơi sinh sống cũ

tới nơi sinh sống mới trong quá trình phân bố sản xuất mới. Những

chính sách này phải bảo đảm điều kiện người dân tới nơi ở mới bằng

và tốt hơn nơi ở cũ.

Các chính sách này phải bắt đầu từ khảo sát thực tế điều kiện

sinh sống hiện tại của dân cư trên cơ sở quy hoạch để chuẩn bị

không gian sống và sản xuất cho người dân.

1.2.3. Các tiêu chí phản ánh tạo việc làm

- Số lao động được chuyển đồi nghề và tìm được việc làm

- Số lao động được đào tạo nghề

- Số lao động được xuất khẩu

- Số lao động được tạo việc làm nhờ công tác bồi thường

- Số vốn hỗ trợ cho lao động tái định cư để tạo việc làm

1.3. Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tạo việc làm

1.3.1. Trình độ tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang làm thay

đổi tính chất và nội dung nghề nghiệp của người lao động. Cách mạng



8

công nghệ đã dẫn đến việc sử dụng công cụ, phương tiện hiện đại,

phức tạp nên lao động trí óc dần dần đã thay thế lao động chân tay.

1.3.2. Cơ cấu kinh tế

Sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo cơ chế thị trường làm cho

mâu thuẫn giữa lao động và việc làm ngày càng gay gắt. Việc tổ chức

lại lao động trên phạm vi toàn xã hội, điều chỉnh cơ cấu lao động xã

hội cho phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế theo hướng công nghiệp

hóa, hiện đại hóa, tất sẽ dẫn đến dư thừa lao động. Tạo việc làm cho

người lao động phải lấy mục tiêu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

để xác định hướng phát triển. 1.3.3.Thị trường lao động

Thị trường lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác

lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động. Giải quyết việc làm trong cơ

chế thị trường về thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa cung và

cầu về lao động trên thị trường lao động.

1.3.4. Các chính sách vĩ mô của Nhà nước

Các chính sách vĩ mô của Nhà nước có vai trò to lớn trong việc

tạo việc làm, đồng thời điều chỉnh việc làm phù hợp với mục tiêu,

trình độ phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ.

Tóm lại, Chương 1 của Luận văn đã khái quát cơ sở lý luận về

việc làm và tạo việc làm cho người lao động. Các nội dung trình bày

ở Chương 1 là cơ sở cần thiết để tác giả đi sâu phân tích thực trạng về

việc làm và tạo việc làm cho người dân TĐC trên địa bàn KKT Dung

Quất ở Chương 2.



9

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO

CÁC HỘ TÁI ĐINH CƯ TRÊN ĐỊA BÀN KHU KINH TẾ

DUNG QUẤT

2.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển KKT

Dung Quất

2.1.1. Điều kiện tự nhiên tại Khu kinh tế Dung Quất

2.1.1.1. Vị trí địa lý Khu kinh tế Dung Quất

Khu kinh tế Dung Quất có phạm vi diện tích khoảng 10.300

ha thuộc địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, bao gồm các xã:

Bình Chánh, Bình Thạnh, Bình Đông, Bình Thuận, Bình Trị, Bình

Hải và một phần diện tích đất của các xã: Bình Phước, Bình Hòa và

Bình Phú.

2.1.1.2. Tiềm năng và lợi thế phát triển

KKT Dung Quất có nhiều tiềm năng, lợi thế và hội đủ các

yếu tố phát triển của một Khu kinh tế tổng hợp

2.1.2 Tình hình phát triển KKT Dung Quất

2.1.2.1. Về quy hoạch phát triển: Đã hoàn thành quy hoạch

chi tiết tất cả các khu chức năng: Khu công nghiệp phía Đông; Khu

công nghiệp phía tây; Hệ thống cảng Dung Quất và Thành phố Vạn

Tường.

2.1.2.2. Về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội: Đến cuối năm

2011 , tổng vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đạt hơn

3.500 tỷ đồng, trong đó có 150 tỷ đồng hỗ trợ từ Nhà máy Lọc dầu,

vốn Trái phiếu chính phủ 300 tỷ đồng, còn lại là vốn ngân sách Nhà

nước, và đã hoàn thành cơ bản hệ thống hạ tầng giai đoạn I.



10

2.1.2.3. Tình hình thu hút đầu tư: Tính đến năm 2011, đã cấp

phép đầu tư cho 116 dự án, với tổng vốn đầu tư khoảng 128.817 tỷ

đồng (tương đương 8 tỷ USD); trong đó, vốn FDI chiếm khoảng

47%; có 60/116 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

2.1.2.4. Hiệu quả kinh tế xã hội: Tạo ra giá trị sản lượng

công nghiệp tương đối lớn, góp phần quan trọng tăng nguồn thu cho

ngân sách địa phương; làm thay đổi cơ cấu GDP của tỉnh theo hướng

tăng mạnh tỷ trọng công nghiệp; đồng thời khai thác tốt lợi thế về địa

lý cũng như nguồn tài nguyên về đất đai của tỉnh phục vụ cho sự phát

triển kinh tế - xã hội nói chung; giải quyết được công ăn việc làm cho

lao động ở địa phương.

2.2. Thực trạng việc làm và hoạt động tạo việc làm cho

các hộ TĐC trên địa bàn KKT Dung Quất

2.2.1. Tình hình lao động và thực trạng việc làm của các

hộ TĐC trên địa bàn KKT Dung Quất

2.2.1.1. Phạm vi dân cư bị ảnh hưởng bởi quá trình xây dựng

KKT Dung Quất

20.698 hộ với số dân là: 73.176 người, số dân đã thực hiện

tái định cư: 1.785 hộ với 6.318 người.

2.2.1.2. Thực trạng về việc làm cho các hộ tái định cư trên

địa bàn KKT Dung Quất

Với 200 hộ điều tra có tổng số người là 712 người, trong đó:

số người trong độ tuổi lao động 18 – 55(60) là 408 người chiếm

57,3%, nam: 57,42%, nữ: 57,19% cho thấy:

* Thực trạng về lao động trong các hộ TĐC

- Về trình độ văn hóa: Theo kết quả điều tra, số người trong

độ tuổi lao động vẫn còn 34,31% chưa tốt nghiệp THCS; số người đã



11

tốt nghiệp THCS chiếm 33,09%, tốt nghiệp THPT chiếm 32,6%.

Điều này cho thấy, trình độ văn hóa của các hộ gia đình TĐC chưa

cao. Đây là vấn đề khó khăn trong việc đào tạo chuyển đổi nghề để

tuyển dụng vào các doanh nghiệp đầu tư vào KKT Dung Quất.

- Về trình độ chuyên môn: Theo kết quả điều tra, tỷ lệ lao

động trong độ tuổi chưa qua đào tạo là 40,44%, đã qua đào tạo là

59,56%; trong đó, trình độ đại học trở lên là rất thấp. Điều này thể hiện

chất lượng lao động rất thấp, số lượng lao động được đào tạo tại

Trường Cao đẳng Nghề Dung Quất cũng chưa cao. Nghĩa là, sự kết

hợp trong quá trình thực hiện đào tạo chuyển đổi nghề cho người lao

động giữa chính quyền, doanh nghiệp với Trường Cao đẳng Nghề

Dung Quất chưa chặt chẽ và chưa hiệu quả.

Ngoài ra, khi được hỏi về tình hình sử dụng số tiền đền bù hỗ

trợ giải quyết việc làm khi thực hiện TĐC, hầu hết các hộ được hỏi

trả lời: sử dụng tiền để làm nhà, sửa nhà (78,50%), một số ít sử dụng

đầu tư kinh doanh (17,50%) và một số rất ít sử dụng để học nghề

(4,00%). Điều này cho thây người dân TĐC sử dụng số tiền đền bù

không hiệu quả, không đúng mục đích.

* Thực trạng việc làm của người lao động TĐC trên địa bàn

KKT Dung Quất

Do đặc điểm ở KKT Dung Quất, hầu hết người dân sống

bằng nghề nông, trồng trọt và chăn nuôi là chính, một số ít người

tham gia vào chính quyền thôn, xã, huyện, nhưng nguồn thu nhập

chính của các hộ gia đình là từ nông nghiệp; một số người, sau khi

hình thành KKT Dung Quất được vào làm công nhân tại các doanh

nghiệp đầu tư vào KKT Dung Quất. Tổng hợp từ kết quả điều tra

cũng cho thấy, phần lớn lao động của 200 hộ điều tra tại 3 khu TĐC



12

cũng tiếp tục sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp, một số ít chuyển

sang buôn bán nhỏ và làm dịch vu và một số làm công nhân trong các

doanh nghiệp tại KKT Dung Quất.

- Tình hình sử dụng đất nông nghiệp

Trước khi TĐC, đất đai là nguồn tạo ra thu nhập chính, sau

khi TĐC, bị mất phần lớn đất sản xuất là họ mất đi việc làm và thu

nhập. Do diện tích đất dành cho nông nghiệp có hạn, hơn 90% số hộ

được hỏi cho biết có diện tích đất sản xuất được sử dụng ít hơn trước

đây.

Việc thu hẹp đất sản xuất khiến người dân gặp rất nhiều khó

khăn trong cuộc sống. Trên diện tích đất canh tác tại nơi tái định cư,

người dân vẫn tiếp tục trồng các loại cây truyền thống mà họ vẫn

gieo trồng từ trước khi tái định cư như: lúa nước, ngô, sắn, khoai

lang…

Bảng 2.14: So sánh diện tích đất nông nghiệp trước và sau TĐC

So sánh diện tích đất

nông nghiệp



Số hộ



Cơ cấu (%)



- Diện tích đươc sử dụng lớn

hơn



0



0,00



- Diện tích đươc sử dụng bằng



19



9,50



- Diện tích đươc sử dụng ít hơn



181



90,50



Tổng



200



100



Nguồn: Điều tra hộ tái định cư trên địa bàn KKT Dung Quất, 2011

- Thực trạng việc làm và thu nhập của lao động TĐC

> Về việc làm: Thực trạng về việc làm và thu nhập của người

lao động TĐC có nhiều thay đổi so với trước khi TĐC, số liệu điều

tra cụ thể như sau:



13

Bảng 2.16: Tình trạng việc làm của lao động TĐC

Tình trạng

việc làm



Trước TĐC



Sau TĐC



Số lượng



Tỷ lệ %



Số lượng



Tỷ lệ %



Có việc làm ổn định



183



91,50



105



52,50



Có việc làm không

thường xuyên



16



8,50



63



31,50



Không có việc làm



0



0,00



32



16



200



100



200



100



Tổng



Nguồn: Điều tra hộ TĐC trên địa bàn KKT Dung Quất, 2011

Theo kết quả điều tra, tỷ lệ có việc làm ổn định giảm xuống

đáng kể , tỷ lệ có việc làm không thường xuyên lại tăng lên, tình trạng

không có việc làm phát sinh (sau TĐC là 16%,). Điều này là do người

dân trước TĐC là nông dân quanh năm cày cấy để sinh sống, nay

phải bị thu hồi đất nông nghiệp nhưng chưa chuyển đổi nghề kịp thời

nên không có việc làm hoặc có việc làm không thường xuyên.

Số lao động được làm việc tại các doanh nghiệp là 133

người, chiếm 32,60% số lao động trong độ tuổi lao động từ 200 hộ

được điều tra. Trong đó, đã được đào tạo là 92 người, chiếm 69,17%,

đào tạo tại Trường Đào tạo Nghề Dung Quất là 73 người, chiếm

79,35% tổng số được đào tạo. Số lao động đã qua đào tạo nhưng

chưa tìm kiếm được việc làm cũng khá lớn (46 người, chiếm

33,33%), trong đó, đào tạo tại Trường Cao đẳng Nghề Dung Quất là

25 người (chiếm 54,35%), số người đã qua đào tạo nhưng chưa có

việc và chiếm 25,51% số lao động đã được đào tạo tại Trường Cao

đẳng Nghề Dung

Cũng theo kết quả điều tra, việc làm của lao động có sự dịch

chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và thương mại, dịch vụ. Cụ

thể: tỷ trọng làm việc trong nông nghiệp giảm từ 85,50% trước TĐC



14

xuống còn 54,17% sau TĐC; tỷ trọng lao động trong công nghiệp

tăng lên từ 0% trước TĐC lên 18,87% sau TĐC. Tỷ trọng lao động

trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ tăng từ 15,5% trước TĐCl ên

26,96%. Điều này cho thấy sau TĐC, một bộ phận lao động từ nông

nghiệp chuyển sang làm công nhân trong các doanh nghiệp trên địa

bàn KKT Dung Quất, một bộ phận khác chuyển sang làm thương mại

dịch vụ phục vụ cho đội ngũ công nhân của các nhà máy, doanh

nghiệp trong KKT Dung Quất.

> Về thu nhập: Có thể nói chỉ tiêu thu nhập của các hộ gia

đình TĐC là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành

của công tác bồi thường hỗ trợ TĐC và giải quyết việc làm cho người

dân TĐC. Có nguồn thu nhập ổn định cũng có thể nói là người dân

TĐC đã có công việc làm ổn định.

Bảng 2.19: So sánh thu nhập bình quân tháng của hộ gia

đinh trước và sau TĐC

Trước TĐC

Nguồn thu nhập



Số tiền

(nghìn đồng)



Cơ cấu

(%)



2.620



85,09



1.543



Thu nhập từ lương công nhân



253



8,22



471



Thu nhập từ buôn bán, dịch

vụ…



206



6,69



973



Tổng



3.079



100



2.987



Thu nhập từ sản xuất nông

nghiệp



Nguồn: Điều tra hộ TĐC trên địa bàn KKT Dung Quất, 2011

Qua số liệu trên cho thấy sau TĐC một số lao động được

vào làm việc tại các doanh nghiệp trong KKT Dung Quất, một số

khác chuyển hoặc làm thêm dịch vụ hoặc buôn bán nhỏ, tuy nhiên



Số tiề

(nghìn đồ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẠO VIỆC LÀM

Tải bản đầy đủ ngay(25 tr)

×