Tải bản đầy đủ - 64 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN, QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN, QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Tải bản đầy đủ - 64trang

mối liên hệ. Trong thế giới tất cả các hiện tượng đều nằm trong tình trạng

liên hệ lẫn nhau và biệt lập với nhau. Chúng liên hệ với nhau trong mối

liên hệ này, nhưng lại không liên hệ với nhau trong mối liên hệ khác.

Trong các hiện tượng có những thay đổi xảy ra giả định phải có những

thay đổi tương ứng trong các hiện tượng khác.

Đến các nhà triết học Mác - Lênin thì khái niệm mối liên hệ phổ biến

mới có quan niệm đúng đắn, khoa học và đầy đủ nhất. Phê phán các quan

điểm siêu hình khi đã cho rằng, các sự vật, hiện tượng tồn tại một cách biệt

lập, tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụ

thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau, nếu giữa chúng có sự quy

định lẫn nhau thì có chăng cũng chỉ là sự liên hệ hời hợt bề ngoài, mang tính

ngẫu nhiên, là sự quy định lẫn nhau một cách giản đơn. Đồng thời cũng phê

phán quan điểm khi cho rằng thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nó,

nhưng lại phủ nhận khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng.

Ăngghen cho rằng, khi chúng ta nghiên cứu giới tự nhiên, lịch sử loài

người hay sự hoạt động tinh thần của bản thân chúng ta thì trước hết trước

mắt chúng ta hiện ra một bức tranh chằng chịt vô tận những mối liên hệ và

những tác động qua lại lẫn nhau: trong đó, không có cái gì là không vận động,

biến hóa, xuất hiện và biến đi.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, một trong những thuộc tính bản

chất của thế giới vật chất là sự liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng. Tính

thống nhất vật chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình hiện thực là cơ sở khách

quan của sự liên hệ phổ biến. Khái niệm liên hệ phổ biến được hình thành như

một trong những kết quả của sự khái quát thực tiễn và tri thức khoa học.

Phép biện chứng nói chung đều thừa nhận mối liên hệ phổ biến của

những sự vật, hiện tượng, quá trình cấu thành thế giới. Tuy vậy, khi nói về cơ

sở của sự liên hệ phổ biến, phép biện chứng duy tâm, coi cơ sở của sự liên hệ

phổ biến là ở cảm giác (duy tâm chủ quan), hay ở ý niệm tuyệt đối (duy tâm

khách quan). Đó là những cách giải thích một cách chủ quan, thần bí, không

7



khoa học. Đứng trên quan điểm duy vật khoa học, phép biện chứng duy vật

khẳng định rằng, cơ sở của sự liên hệ là ở tính thống nhất vật chất của thế

giới. Theo quan điểm này, các sự vật, hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng,

khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại

khác nhau của một thế giới duy nhất đó là thế giới vật chất. Ngay cả tư tưởng,

ý thức của con người vốn là những cái phi vật chất, cũng chỉ là thuộc tính của

một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người, nội dung của chúng

cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan.

Vượt lên trên quan điểm siêu hình, phép biện chứng duy vật cho rằng

không thể hiểu được bất cứ một hiện tượng nào trong tự nhiên nếu người ta

tách nó ra khỏi những hiện tượng chung quanh mà ta xét. Vì bất cứ một hiện

tượng nào trong bất kỳ một lĩnh vực nào của tự nhiên cũng đều có thể biến

thành một cái vô nghĩa, nếu người ta tách nó ra khỏi những điều kiện chung

quanh để xét nó ngoài những điều kiện đó; trái lại, bất cứ hiện tượng nào cũng

đều có thể hiểu được, có thể chứng minh được, nếu người ta xét nó trong điều

kiện là nó có sự liên hệ không tách rời với những hiện tượng chung quanh chế

ước. Tự nhiên không phải như là một sự tích lũy ngẫu nhiên của các sự vật, các

hiện tượng tách rời nhau, riêng biệt và độc lập với nhau, mà như là một thể

thống nhất, có liên hệ nội bộ, trong đó các sự vật, hiện tượng đều có những mối

liên hệ hữu cơ với nhau, đều thúc đẩy lẫn nhau và chế ước cho nhau.

Luận điểm trên đây có một ý nghĩa rất lớn. Người ta không chú trọng

đến mối liên hệ khách quan và đến tính chất tùy thuộc lẫn nhau của các hiện

tượng, người ta sẽ hình dung tự nhiên như một đống hỗn độn, không phục

tùng bất cứ một quy luật nào cả, và tuyệt nhiên không thể nào được giải thích

một cách hợp lý. Hiểu được một hiện tượng, tức là phát hiện ra sự liên hệ

nhân quả của hiện tượng đó với những hiện tượng, sự vật khác, người ta

không thể chẳng hạn như giải thích sự tiến hóa của thực vật và động vật mà

không nói đến những điều kiện sinh sống của nó. Người ta coi sự liên hệ của

nó, sự liên hệ để có thể hiểu những quy luật của giới sinh vật là trọng yếu.

8



1.1.2. Một số tính chất của mối liên hệ phổ biến

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên lý về mối

liên hệ phổ biến có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và

tính đa dạng phong phú.

- Tính khách quan của mối liên hệ

Sự liên hệ được hiểu như trên là mang tính chất biện chứng chung nhất

bao trùm toàn bộ thế giới vật chất. Không những các sự vật, hiện tượng liên

hệ với nhau mà các yếu tố, các bộ phận cấu thành các sự vật, hiện tượng cũng

liên hệ với nhau. Không những các giai đoạn trong một quá trình mà các quá

trình trước và sau sự vận động, phát triển của thế giới nói chung và của từng

sự vật, hiện tượng nói riêng cũng luôn luôn liên hệ với nhau – cái quá khứ,

hiện tại, và tương lai, kế thừa, chuyển tiếp lẫn nhau tạo thành dòng chảy bất

tận của lịch sử. Không chỉ tự nhiên, mà cả trong lĩnh vực đời sống xã hội và

tinh thần mỗi sự vật, hiện tượng cũng luôn luôn liên hệ tác động qua lại lẫn

nhau. Mối liên hệ của mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới (tự nhiên, xã hội và

tư duy) là khách quan, phổ biến.

Khi nói về cơ sở của mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng duy tâm

cho rằng là ở cảm giác (duy tâm chủ quan), hay ở ý niệm tuyệt đối duy tâm

khách quan). Đó là những cách giải thích một cách chủ quan, thần bí, không

có cơ sở khoa học. Trên cơ sở khoa học phép biện chứng macxít khẳng định

rằng, cơ sở của sự liên hệ phổ biến là ở tính thống nhất vật chất của thế giới.

Các sự vật, hiện tượng dù có đa dạng, khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì

cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới

vật chất. Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người vốn là những cái phi vật

chất cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc

con người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của quá trình vật

chất khách quan.

Như vậy, theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các

sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan. Theo quan điểm đó, sự

9



quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật,

hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập

không phụ thuộc vào ý chí của con người, con người chỉ có thể nhận thức và

vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình.

- Tính phổ biến của các mối liên hệ

Ăngghen nhấn mạnh rằng hình thức của tính phổ biến là hình thức của

cái hoàn thành bên trong, là sự kết hợp nhiều cái hữu hạn thành cái vô hạn..

Trong khoa học tự nhiên, hình thức biểu hiện của tính phổ biến là quy luật,

quy luật này cho phép dự kiến trước sự diễn biến của các quá trình và các

hiện tượng khác nhau trong điều kiện nhất định, tức là cho phép kế hoạch hóa

một cách hợp lý hoạt động sản xuất.

Để thấy rõ sự biểu hiện của mối liên hệ có tính phổ biến trong các sự

vật, hiện tượng và quá trình, chúng ta xem xét nó thông qua mối liên hệ giữa

các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật. Bởi vì, phạm trù là

những khái niệm rộng nhất phản ánh những đặc điểm, những thuộc tính hay

những mối liên hệ chung nhất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách

quan. Lênin viết: “ Trước con người, có màng lưới những hiện tượng tự

nhiên. Con người bản năng, người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên,

những phạm trù là những giai đoạn của sự tách biệt đó, tức là của sự nhận

thức thế giới, chúng là những điểm nút của màng lưới, giúp ta nhận thức và

nắm vững màng lưới”[13;102].

Thứ nhất, mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng

Đây là mối liên hệ phổ biến nhất, liên quan tới toàn bộ quá trình

nhận thức của con người. Theo quan điểm của phép biện chứng duy vật, cái

riêng và cái chung không thể tách rời nhau. Không có cái chung tồn tại độc

lập, đứng ngoài cái riêng mà ngược lại: “cái chung chỉ tồn tại trong cái

riêng, thông qua cái riêng” [13;381]. Mỗi cái chung chỉ là một bộ phận,

một thuộc tính, một đặc điểm của cái riêng. Cái riêng là cái toàn thể, cái

10



chung là cái bộ phận, vì cái chung không bao quát hết cái riêng và cái riêng

phong phú hơn cái chung.

Tuy nhiên, cái chung căn bản bao giờ cũng sâu sắc hơn cái riêng, vì nó

là cái bản chất, cái mang tính quy luật. Cũng vì vậy, Lênin khẳng định: “cái

riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung”[13;381]. Cái riêng là

cái tồn tại độc lập tương đối với những cái khác. Mỗi cái riêng đều chịu sự

tác động cụ thể của môi trường mà nó tồn tại, bị chi phối bởi những mối liên

hệ bên trong và bên ngoài. Điều đó, tạo nên những sự vận động cụ thể, mang

tính đặc thù. Tuy vây, mọi cái riêng đều bị chi phối bởi những mối liên hệ

chung, bởi các quy luật chung và thông qua các hình thức vận động muôn

vẻ, cuối cùng nó đều đi theo những con đường khác nhau để đi tới những kết

cục chung, tất yếu của từng loại sự vật, hiện tượng hay của toàn bộ thế giới

khách quan.

Cái riêng không bao giờ nhập hết vào cái chung. Mỗi cái riêng, bên

cạnh cái chung, cái phổ biến bao giờ cũng tồn tại cái cá biệt, cái không lập lại,

cái đơn nhất. Cái đơn nhất và cái chung như hai mặt đối lập tạo thành cái

riêng. Trong cái riêng, cái đơn nhất và cái chung luôn chuyển hóa lẫn nhau.

Cái đơn nhất chuyển thành cái phổ biến và cái phổ biến trở thành cái đơn

nhất, nhưng không bao giờ có sự chuyển hóa đồng loạt, toàn bộ.

Bản thân cái đơn nhất khi trở thành cái phổ biến thì ở từng cái riêng

khác nhau lại được biểu hiện ra dưới hình thức đặc thù. Vì vậy, trong đời sống

hiện thực không ở đâu và không bao giờ có sự tác động giống nhau tuyệt đối.

Chính điều đó đã tạo nên một thế giới phong phú, đa dạng nhưng vẫn vận

động theo quy luật chung.

Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị

sự tồn tại của mình, nên chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ

cái riêng, từ những sự vật riêng lẽ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan

của con người bên ngoài cái riêng.

11



Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng nên nhận thức

phải tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để

tạo ra cái riêng. Mặt khác, cái chung lại biểu hiện thông qua cái riêng, nên

khi áp dụng cái chung phải tùy theo cái riêng cụ thể để vận dụng cho nó

thích hợp.

Thứ hai, mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả

Mọi kết quả đều do nguyên nhân gây ra. Không có nhân thì không có

quả. Vì vậy, nguyên nhân phải có trước, kết quả có sau. Tất nhiên, mọi cái có

trước kết quả chưa hẳn đã là nguyên nhân, nhưng đã là nguyên nhân thì phải

có trước kết quả. Nguyên nhân sinh ra kết quả nhưng không phải cứ một

nguyên nhân thì cho một kết quả. Trong thực tế có nguyên nhân sinh ra nhiều

kết quả và ngược lại một kết quả lại do nhiều nguyên nhân. Điều này có thể

xảy ra trong mọi lĩnh vực, nhưng phức tạp nhất trong lĩnh vực xã hội. Xã hội

vốn là sự tổng hợp của những mối quan hệ đa dạng, đang chéo nên thường

quan hệ nhân quả cũng không đơn giản. Vì vậy, trong nhiều trường hợp nếu

không tính toán đầy đủ có thể rơi vào quan điểm phiến diện, giản đơn.

Khi nhân tạo ra quả thì lại trở thành một tác nhân để sinh ra quả khác

và cứ thế quan hệ nhân quả tiếp nối đến vô cùng tận. Vì vậy, khi xác định

quan hệ nhân quả thực tế chỉ là xác định một mắt khâu của quá trình vận động

mà thôi.

Vì một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân và vai trò của các

nguyên nhân không giống nhau nên triết học Mác chia nguyên nhân ra

thành nhiều loại.

Nguyên nhân bên trong là sự tác động qua lại của các bộ phận, các yếu

tố tạo thành sự vật gây nên sự biến đổi của sự vật. Nguyên nhân bên ngoài là

sự tác động qua lại giữa các sự vật tạo nên sự biến đổi của từng sự vật ấy. Khi

xét nguyên nhân bên trong và bên ngoài bao giờ cũng xét trong mối quan hệ

khác. Trong hai nguyên nhân này, nguyên nhân bên trong bao giờ cũng giữ

12



vai trò quyết định đối với sự biến đổi của sự vật, còn nguyên nhân bên ngoài

chỉ thực sự có tác dụng khi nó chuyển được thành nguyên nhân bên trong

hoặc thông qua nguyên nhân bên trong.

Khi một kết quả có nhiều nguyên nhân thì vai trò của các nguyên nhân

đối với việc hình thành kết quả không giống nhau. Những nguyên nhân nào

quyết định sự ra đời của kết quả thì gọi là nguyên nhân chủ yếu. Những

nguyên nhân chỉ ảnh hưởng tới kết quả thì gọi là thứ yếu. Vì vậy trong hoạt

động thực tiễn chúng ta cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân

cơ bản, nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên

ngoài, nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan… Đồng thời, phải

nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp

thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động

và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực.

Trong đời sống xã hội còn có sự phân biệt giữa nguyên nhân khách

quan và nguyên nhân chủ quan. Đây là nguyên nhân được xác định trong

mối quan hệ chủ thể của hành động. Nguyên nhân là những sự tác động

độc lập với các chủ thể xác định. Nguyên nhân chủ quan là sự tác động

xảy ra do sự điều khiển của một cá nhân, một giai cấp, hay một tổ chức xã

hội nào đó. Nguyên nhân chủ quan không chỉ ảnh hưởng tới chất của kết

quả, mà còn ảnh hưởng tới lượng của kết quả. Chẳng hạn, chất lượng của

các sản phẩm làm ra phụ thuộc rất nhiều vào nhân tố chủ quan.

Thứ ba, mối quan hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên

Tất nhiên và ngẫu nhiên là một cặp phạm trù trong phép biện chứng

duy vật và là một trong những nội dung của nguyên lý mối liên hệ phổ biến,

dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng giữa cái tất nhiên tức phạm trù chỉ cái do

những nguyên nhân cơ bản bên trong của kết cấu vật chất quyết định và trong

những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như vậy với cái ngẫu nhiên một

13



phạm trù chỉ cái không do mối liên hệ bản chất, bên trong kết cấu vật chất,

bên trong sự vật quyết định mà do các nhân tố bên ngoài, do sự kết hợp nhiều

hoàn cảnh bên ngoài quyết định và có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện,

có thể xuất hiện như thế này, hoặc có thể xuất hiện khác đi.

Mối quan hệ này được Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định đều

tồn tại một cách khách quan. Cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có vai trò quan

trọng trong sự phát triển của tự nhiên cũng như của xã hội. Tất nhiên bao giờ

cũng được thể hiện qua cái ngẫu nhiên, còn ngẫu nhiên là sự thể hiện của cái

tất nhiên trong một điều kiện, một hoàn cảnh cụ thể. Nếu cái tất nhiên có tác

dụng chi phối sự phát triển của sự vật thì cái ngẫu nhiên có tác dụng làm cho

sự phát triển của sự vật diễn ra nhanh hay chậm. Ăngghen viết: “… cái mà

người ta quả quyết cho là tất yếu là hoàn toàn do những ngẫu nhiên thuần túy

cấu thành, và cái được coi là ngẫu nhiên, lại là hình thức, dưới đó ẩn nấp cái

tất yếu”[15;431].

Trong mối quan hệ xác định, cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên có thể đổi

chổ cho nhau. Điều đó có nghĩa là xét trong mối quan hệ này là tất nhiên,

nhưng trong mối quan hệ khác lại là ngẫu nhiên.

Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau,

chúng không tồn tại dưới dạng biệt lập thuần túy cũng như không có cái ngẫu

nhiên thuần túy. Sự thống nhất này thể hiện ở chỗ: cái tất nhiên bao giờ cũng

thể hiện sự tồn tại của mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Còn cái ngẫu

nhiên và hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời là cái bổ sung cho

cái tất nhiên. Điều đó có nghĩa là cái tất nhiên bao giờ cái khuynh hướng của

sự phát triển và mỗi khi biểu lộ mình thì khuynh hướng ấy bộc lộ ra những cái

ngẫu nhiên nào đó. Còn tất cả những ngẫu nhiên tồn tại không phải là thuần

túy mà là đã bao hàm cái tất nhiên. Cái tất nhiên chỉ có thể tạo ra từ cái ngẫu

nhiên. Đằng sau cái tất nhiên bao giờ cũng ẩn nấp cái ngẫu nhiên.



14



Tất nhiên và ngẫu nhiên không nằm yên ở trạng thái cũ mà thay đổi

cùng với sự thay đổi của sự vật và trong những điều kiện nhất định tất nhiên

có thể chuyển hóa thành ngẫu nhiên và ngược lại.

Sự chuyển hóa giữa tất nhiên và ngẫu nhiên còn thể hiện ở chổ khi

xem xét trong mối quan hệ này, thông qua mặt này thì sự vật, hiện tượng đó

là cái tất yếu. Như vậy, ranh giới giữa tất nhiên và ngẫu nhiên chỉ có ý

nghĩa tương đối.

Vì cái tất nhiên gắn với bản chất của sự vật, cái nhất định xảy ra theo

quy luật nội tại của sự vật, còn cái ngẫu nhiên là cái không gắn với bản

chất nội tại của sự vật nó có thể xảy ra, có thể không. Do vậy, trong hoạt

động thực tiễn chúng ta phải dựa vào cái tất nhiên, mà không thể dựa vào

cái ngẫu nhiên. Nhưng cũng không bỏ qua hoàn toàn cái ngẫu nhiên, vì cái

ngẫu nhiên không chi phối sự phát triển của sự vật, đôi khi còn có thể ảnh

hưởng rất sâu sắc. Do vậy trong hoạt động thực tiễn, ngoài phương án

chính, người ta thấy có phương án hành dộng dự phòng để chủ động đáp

ứng những sự biến ngẫu nhiên có thể xảy ra.

Thứ tư, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức

Đây là mối quan hệ có tính biện chứng. Sự gắn bó này thể hiện trước

hết ở sự thống nhất giữa chúng. Bất kỳ sự vật nào cũng có cả nội dung và

hình thức. Sự vật nào cũng có các nhân tố, các bộ phận tạo thành nó, vì vậy

nó phải có nội dung. Nhưng các bộ phận, các nhân tố phải sắp xếp theo một

trật tự nào đó, phải có màu sắc, hình khối xác định, do vậy nó phải có hình

thức. Tuy nhiên, vai trò của chúng không ngang nhau. Nội dung bao giờ

cũng quyết định hình thức. Nó quyết định cả phương thức thể hiện lẫn cách

thức sắp xếp. Nội dung luôn vận động, biến đổi, hình thức có tính ổn định

tương đối. Sự biến đổi của nội dung là cơ sở cho sự biến đổi của hình thức.

Một khi nội dung của đời sống xã hội đã thay đổi thì các hình thức của nó sẽ

biến đổi theo.

15



Mặc dù, hình thức không phải chỉ là nhân tố bị động, nó có thể tác động

mạnh mẽ tới nội dung. Hình thức có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến

nội dung. Nếu hình thức phù hợp với nội dung thì nó sẽ làm phong phú thêm

nội dung, làm sâu sắc thêm nội dung, kể cả khi nó lạc hậu so với nội dung

hoặc vượt qua khuôn khổ quy định của nội dung thì nó kìm hãm nội dung, nó

sẽ làm sai lệch nội dung, thậm chí có thể phá vỡ nội dung.

Sự không phù hợp giữa nội dung và hình thức có thể dẫn tới xung đột

giữa chúng và đòi hỏi phải “vứt bỏ hình thức cũ”, xác lâp hình thức mới. Việc

thay đổi này là để đảm bảo nội dung luôn phát triển. Sự vận động của xã hội

theo chiều hướng đi lên, tuy vậy nó luôn bị các hình thức cũ kìm hãm. Quá

trình phát triển xã hội vứt bỏ nhiều hình thức đã lỗi thời, tạo điều kiện cho nội

dung cuộc sống luôn luôn phát triển đi từ thấp đến cao. Trong cuộc sống hiện

thực, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức hết sức đa dạng, một nội dung

có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức, một hình thức lại có thể phản ánh

nhiều nội dung.

Thứ năm, mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng

Bản chất bao giờ cũng được thể hiện qua hiện tượng, hiện tượng bao

giờ cũng phản ánh một mặt, một khía cạnh nào đó của bản chất. Mỗi bản

chất không phải chỉ được thể hiện qua một hiện tượng, mà thường bộc lộ

qua nhiều hiện tượng khác nhau. Tất nhiên, các hiện tượng phản ánh bản

chất không như nhau. Có hiện tượng phản ánh bản chất khá trực tiếp, rõ

ràng. Ngược lại, có hiện tượng phản ánh bản chất một cách quanh co, phức

tạp và trong nhiều trường hợp, các sự vật thường tìm cách che giấu bản chất

của mình.

Bản chất mang tính ổn định tương đối, còn hiện tượng biến đổi thường

xuyên. Hiện tượng là sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất, nhưng điều kiện,

hoàn cảnh bên ngoài không đồng nhất, vì vậy ở những môi trường khác nhau

thì hiện tượng cũng khác nhau. Trong thực tế, bản chất cũng không phải là cái

16



hoàn toàn cố định. Theo Lênin: “ không phải chỉ riêng hiện tượng là tạm thời,

chuyển động, lưu động, bị tách rời bởi những giới hạn có tính chất ước lệ, mà

bản chất của sự vật cũng như thế”[13;268].

Điều đó cũng có nghĩa bản chất cũng biến đổi dễ dàng như hiện tượng.

Sự biến đổi của bản chất chỉ xảy ra khi có sự tác động mạnh mẽ, hoặc lâu dài

tạo nên những biến đổi căn bản, sâu sắc của các nhân tố tạo nên sự vật. Trong

đời sống xã hội, bản chất của một con người có thể thay đổi do những tác

động mạnh mẽ lâu dài của hoàn cảnh, của giáo dục. Nhưng sự biến đổi này

nhiều khi rất phức tạp và đòi hỏi phải được củng cố, duy trì bằng hằng loạt

biện pháp tích cực, công phu.

Thứ sáu, mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực

Khả năng đều nằm trong hiện thực, đều có cơ sở là hiện thực. Vì vậy,

hiện thực nào cũng có chứa đựng các khả năng. Trong đó, có cả khả năng tất

nhiên và khả năng ngẫu nhiên, khả năng gần và khả năng xa, có khả năng tốt

và khả năng xấu. Không hiện thực nào không chứa đựng khả năng. Khả

năng nằm trong hiện thực nhưng hiện thực luôn luôn vận động, biến đổi nên

khả năng cũng biến đổi theo. Trong quá trình vận động của hiện thực luôn có

khả năng mới xuất hiện và khả năng cũ mất đi. Có những khả năng mà điều

kiện trở thành hiện thực ngày càng tăng, có khả năng các điều kiện đó lại

giảm dần.

Nếu mọi hiện thực đều chứa đựng khả năng thì mọi khả năng cũng đều

có thể trở thành hiện thực khi có đủ điều kiện. Tuy nhiên, trong xã hội để tạo

ra những điều kiện cho khả năng chuyển thành hiện thực, nhân tố chủ quan có

vai trò hết sức to lớn. Vai trò của nhân tố chủ quan chính là tạo mọi điều kiện

để chuyển khả năng thành hiện thực, hoặc rút bỏ những điều kiện để một khả

năng xấu nào đó không thể xảy ra. Tất nhiên, điều đó chỉ thành công khi con

người nắm bắt được quy luật, hành động theo đúng quy luật. Ngược lại, nếu

con người làm trái quy luật, dù ý định tốt hay xấu cuối cùng cũng thất bại.

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN, QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Tải bản đầy đủ ngay(64 tr)

×