Tải bản đầy đủ - 22 (trang)
CHO HỌC SINH LỚP 11 BẬC THPT

CHO HỌC SINH LỚP 11 BẬC THPT

Tải bản đầy đủ - 22trang

tạo ra tâm lí sợ học, sợ học thuộc. Điều này phần nào đã thủ tiêu khả năng sáng tạo,

tư duy của người học, biến người học thành những người quen suy nghĩ và diễn đạt

bằng những ý thuộc lòng, bằng những lời có sẵn của thầy cô, sách vở. Do đó, học

sinh luôn lệ thuộc vào sách vở, học sinh không hào hứng chủ động, thiếu sáng tạo và

thiếu tự tin.

Làm sao học sinh của mình luôn yêu thích môn Ngữ văn; làm thế nào để chất

lượng học tập môn Ngữ văn được nâng cao và điều quan trọng là làm sao để người

học luôn chủ động tích cực, say mê, tự tin trong học tập; biết vận dụng kiến thức vào

thực tế; chủ động khám phá, phát hiện những cái hay, cái đẹp, các giá trị tác phẩm

văn chương; bồi dưỡng tình yêu đối với văn học, bồi dưỡng tâm hồn, giá trị nhân

văn… luôn là điều trăn trở đối với tôi và những đồng nghiệp.

Xuất phát từ thực trạng ấy, từ thực tế giảng dạy của bản thân, qua trao đổi học hỏi

kinh nghiệm của đồng nghiệp, tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp, mong góp

phần nào sẽ cải thiện được thực trạng dạy và học Ngữ văn hiện nay, cải thiện được ý

thức học tâp của học sinh đối với môn Ngữ văn ở bậc THPT. Dưới đây, tôi có sử

dụng tài liệu tham khảo " SGK lớp 11 - tập 1,2". [ 10 ].



1. Tạo tâm thế học tập

a. Tác động bằng tình cảm

Để học sinh luôn chủ động, tích cực, tự giác đặc biệt có hứng thú với môn học,

trước hết, giáo viên phải truyền dạy tri thức bằng tất cả trái tim và lòng tâm huyết

của mình, phải để người học cảm nhận được tâm hồn mình trong mỗi bài giảng.

Thực sự quan tâm đến học trò, biết lắng nghe, chia sẻ với những suy nghĩ, tâm tư

của học trò. Sẵn sàng là người bạn chia sẻ. Từ đó tạo được niềm tin, xóa bớt được

khoảng cách giữa giáo viên với học sinh (tâm lí, tuổi tác…), tạo ra không khí học

tập thân thiết, gần gũi… Theo quy luật lây lan tình cảm, từ chỗ yêu quí, trân trọng

thầy cô đến thích học môn học đó là một khoảng cách rất ngắn. Từ đó học sinh yêu

thích, say mê học môn học mà mình dạy.

b. Xây dựng không khí lớp học

Học tập căng thẳng thường làm chúng ta mệt mỏi về tinh thần. Chỉ có sự tận tình, tổ

chức giờ học một cách khoa học, sinh động mới kích thích sự hứng thú học tập

trong học sinh. Tạo ra bầu không khí học thoải mái, tích cực, có tính thi đua giữa các

học sinh là rất cần thiết.

Như vậy, không khí lớp học có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất

lượng dạy học, cảm xúc tích cực sẽ làm tăng hiệu suất của hoạt động nhận thức

trong học sinh. Có nhà giáo dục đã từng nói “Một ông thầy mà không dạy được cho

học trò ham muốn học tập thì chỉ là đập búa trên sắt nguội mà thôi.” Cho nên, giáo

viên phải biết cách tạo không khí thoải mái khi vào lớp học. Giáo viên có thể tạo

không khí lớp học bằng dẫn các chuyện vui, các câu thơ, câu văn hay, bằng cách đặt

9



vấn đề bất ngờ, gợi được sự chú ý, bằng các tranh ảnh, sơ đồ… để gợi hứng thú,

kích thích trí tò mò muốn khám phá bài học cho học sinh.

Trong tiết dạy, chỉ cần một ví dụ thực tế gắn với bài giảng, một mẩu truyện về nhà

văn… sẽ làm cho bầu không khí học tập thay đổi tích cực; học sinh sẽ bị cuốn hút

vào những giai thoại, hay những liên hệ mà giáo viên kể. Từ đó học sinh sẽ hứng

thú và tiếp thu bài tốt hơn.

Chính sự chú ý, hứng thú do không khí lớp mang lại sẽ kích thích các học sinh tích

cực làm việc hơn, tư duy sẽ được thúc đẩy. Học sinh sẽ chủ động đi sâu tìm hiểu bản

chất, ý nghĩa của vự việc, hiện tượng; kết quả là học sinh nhanh hiểu bài và nhớ bài

lâu hơn.



2. Linh hoạt, đa dạng trong phương pháp

a. Linh hoạt trong phương pháp

Giáo viên luôn vận dụng nhiều phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học, tạo

nên sự phong phú đa dạng trong các hoạt động của quá trình dạy học sẽ làm cho học

sinh cảm thấy thoải mái, không bị ức chế về mặt tâm lí bởi sự nhàm chán, mệt mỏi

vì sự đơn điệu tẻ nhạt.

Ví dụ: Khi dạy phần Tiểu dẫn giáo viên cho học sinh điền thông tin vào phiếu, hoặc

ghi sẵn trên bảng và để trống phần thông tin cần điền:

Giáo viên yêu cầu học sinh điền vào chỗ còn trống. Học sinh thay nhau làm, có thể

phân theo nhóm thực hiện theo yêu cầu của giáo viên. Lớp học sẽ sinh động và học

viên hứng thú học tập hơn. Từ đó, ta thấy rằng các học sinh sẽ tiếp thu kiến thức tốt

hơn nếu trong giờ học có sự xen kẽ nhau giữa các hoạt động dạy học.

Hồ Chí Minh.

Năm sinh: ....................

Quê quán: ....................

Tên cha .....................

Tên mẹ: ......................

Tố Hữu: Năm sinh: ................ Quê quán: ...................

Xuân Diệu: Năm sinh............... Quê quán.......................

Tên cha: .................................. Tên mẹ:........................

b. Đưa ra các tình huống có vấn đề.

Dạy học theo tình huống là giáo viên không trình bày đơn thuần nội dung bài học

mà sắp xếp lại tài liệu sao cho toàn bộ bài giảng là vấn đề lớn được chia thành một

số vấn đề nhỏ có liên quan chặt chẽ với nhau, rồi kích thích hứng thú cho học sinh

và khéo léo đưa các học sinh vào những tình huống có vấn đề. Từ đó mà bắt đầu

những phần của bài giảng. Và như thế, hứng thú sẽ được duy trì đến khi nào chưa

tìm ra được câu trả lời.

Ví dụ 1: Khi dạy tác phẩm “Chí Phèo” – sách Ngữ văn 11, tập I, giáo viên đặt ra

những tình huống có vấn đề: Tại sao đến lúc cuối cùng Chí Phèo lại xách dao đến

thẳng nhà Bá Kiến? Tại sao Chí Phèo lại hay chửi và chửi nhiều đến thế mà hóa

10



chẳng chửi đích danh ai? Tại sao Nam Cao lại để cho 3 con chó “lên tiếng” đáp lại

tiếng chửi của Chí Phèo?

Tại sao Nam Cao lại xây dựng nhân vật thị Nở xấu ma chê, quỷ hờn như vậy ?

Ví dụ 2: Khi dạy bài Vội vàng của Xuân Diệu, giáo viên cũng đặt học sinh vào tình

huống có vấn đề:

- Thường khi nhắc đến sự vội vàng trong cuộc sống là muốn chỉ sự thiếu cẩn thận,

hấp tấp, khó thành. Nhưng tại sao Xuân Diệu lại muốn sống vội vàng, sự vội vàng

ấy có gì đặc biệt? Giáo viên, từng bước hướng dẫn học sinh giải quyết các vấn đề,

từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó. Từng bước chiếm lĩnh kiến thức, không

những tạo nên sự hưng phấn mà động lực thúc đẩy khả năng tự học, hiểu và sáng

tạo, giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống.

c. Liên hệ với thực tế

Việc gắn nội dung bài giảng với thực tế cuộc sống là một trong những biện pháp gây

hứng thú học tập môn Ngữ văn. Bởi lẽ, nếu chỉ sa đà với những lí thuyết khô khan

mà xa rời thực tế thì bài học sẽ thiếu tính thực tiễn, mất đi tính thuyết phục và sự lôi

cuốn, không kích thích được hứng thú học tập của học sinh. Ngữ văn là môn học đặc

thù, phản ánh thực tế cuộc sống qua những hoàn cảnh, tính cách, số phận xuất phát

từ ngoài đời sống. Nhiều kỹ năng, kiến thức các em học được sẽ được vận dụng vào

rất nhiều tình huống của cuộc sống. Vì vậy, gắn dạy học với thực tế cuộc sống không

những có tính chất bắt buộc trong dạy học Ngữ văn mà còn rất cần thiết để gây hứng

thú học tập cho học sinh.

Ví dụ: – Khi dạy bài Bản tin – Ngữ văn 11 – tập 2; cần lưu ý cho học sinh đặc điểm,

yêu cầu của bản tin, viết được bản tin về vấn đề đời sống, xã hội quan tâm. Viết các

bản tin về hoạt động thi đua chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam; văn hóa Tết của

gia đình…

- Khi dạy bài “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn” – sách Ngữ văn 11 – tập I, cho học

sinh chuẩn bị và viết một số bài phỏng vấn về vấn đề thường gặp trong đời sống :

phỏng vấn và trả lời phỏng vấn khi xin việc, phỏng vấn về kinh nghiệm học tốt của

bạn bè, phỏng vấn về các vấn đề xã hội đang quan tâm : giao thông, môi trường, bạo

lực học đường, tình yêu tuổi học trò… sẽ tạo cho học sinh sự tự tin, yêu thích môn

học.

d. Ứng dụng công nghệ thông tin

Tích cực ứng dụng CNTT, phát huy khả năng hỗ trợ của CN vào các bài giảng:

lồng ghép những đoạn phim, những tranh ảnh, những khúc ngâm, bài thơ được phổ

nhạc… vào quá trình giảng dạy, không những tạo không khí hứng thú học tập, mà đó

là một kênh thông tin hữu hình, trực quan để học sinh nhận biết, hiểu bài sâu sắc.

Với việc ứng dụng CNTT trong dạy học đòi hỏi mỗi giáo viên cần nắm vững các

quy trình về soạn bài giáo án điện tử. Qua quá trình soạn giảng và giảng dạy, bản



11



thân tôi rút ra một số kinh nghiệm khi thiết kế bài giảng điện tử, giáo viên cần đạt

được những yêu cầu cơ bản sau:

*Yêu cầu về nội dung: Bài giảng điện tử khi trình bày nội dung lí thuyết cần cô đọng

và được minh hoạ sinh động có tính tương tác cao mà các phương pháp giảng bằng

lời khó diễn tả.

*Yêu cầu về phần câu hỏi giải đáp: Câu hỏi nêu ra nhằm để cho học sinh có thể vừa

nghe, (hoặc nhìn); giáo viên có thể đưa hệ thống câu hỏi trên màn trình chiếu. Các

câu hỏi nêu ra theo nhiều cấp độ (câu hỏi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp có

tác dụng gợi mở, dẫn dắt học sinh nhằm hình thành kiến thức mới. Có thể dùng

nhiều câu hỏi: tái hiện, gợi mở, nêu vấn đề, thảo luận nhóm, dùng phiếu học tập …)

nhằm phân loại được đối tượng. Có như vậy mới kích thích sự học tập của học sinh.

(Lưu ý tránh những câu hỏi quá dễ hay quá khó). Hệ thống câu hỏi thể hiện rõ tính

chất đổi mới phương pháp dạy học nêu vấn đề. Với câu trả lời trắc nghiệm khách

quan: Trong thiết kế, giáo viên cần kết hợp hiệu ứng của màu chữ, âm thanh, hình

ảnh để thể hiện sự tán thưởng, cổ vũ nồng nhiệt đối với học sinh cho câu trả lời

đúng. Với những câu trả lời chưa chính xác thì thông báo lỗi và gợi ý tìm chỗ sai

bằng cách nhắc nhở, đưa ra một gợi ý hoặc chỉ ra chỗ sai để học sinh suy nghĩ tìm

câu trả lời.

*Yêu cầu về phần trình bày khi thiết kế bài giảng điện tử: Mỗi bài giảng điện tử

phần thiết kế phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Đầy đủ: Chuyển tải đủ yêu cầu về nội dung của bài học. (Đối với một bài đọc hiểu,

tiếng Việt hay Làm văn thì phần trình chiếu có thể chỉ giới thiệu hình ảnh, xem như

đó là bảng phụ còn phần trình bày nội dung chính ở bảng đen)

- Chính xác: Hình ảnh, âm thanh, video hay một số ví dụ và các phần nội dung của

bài học phải đảm bảo không có thông tin sai sót.

- Trực quan: Màu chữ, cỡ chữ, hình ảnh, âm thanh, bảng biểu, video clip phải sinh

động hấp dẫn, phù hợp với nội dung bài học.

Khi ứng dụng CNTT trong bài học thì việc sử dụng phương tiện băng đĩa hình trong

việc dạy và học môn Ngữ văn hiện nay rất cần thiết. Đây cũng là một nguồn tri thức

rất sinh động, vì vậy băng đĩa hình cũng có nhiều điều kiện thuận lợi cho HS khai

thác kiến thức trong từng bài học. Ngoài ra băng hình còn mang tính chất minh họa

và hỗ trợ cho bài giảng để tạo hứng thú cho HS.

Từ những thực tế trên trong quá trình dạy và học nếu như GV mà đưa thêm băng đĩa

hình vào bài giảng thì kết quả đạt được là rất tốt và còn gây hứng thú cho HS tốt

hơn. Mặt khác còn phát huy khả năng sáng tạo độc lập suy nghĩ của từng HS. HS tự

giác chủ động tìm tòi những kiến thức mới và giải quyết vấn đề trong mỗi bài học,

có ý thức vận dụng những kiến thức đó vào cuộc sống hàng ngày

4. Lồng ghép các trò chơi trong dạy học Ngữ văn



12



Trò chơi vừa là một hoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo dục: giáo dục

bằng trò chơi – một phương pháp đã được nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới

vận dụng. Lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn, kết hợp với phương

pháp dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay. Giải

pháp này sẽ thay đổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêm hứng thú

cho người học, học sinh sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn bị, mạnh dạn hơn

trong đề xuất của mình, phát huy tư duy sáng tạo.. Hứng thú và chủ động trong học

tập là sự khởi đầu tốt cho việc nắm bắt kiến thức, hình thành kĩ năng và phát triển

nhân cách ở học sinh qua bộ môn Ngữ văn.

Giáo viên cần chú ý đến đặc thù của từng phân môn; lưu ý mối quan hệ giữa trò chơi

và hệ thống câu hỏi; vận dụng linh hoạt, hợp lý, đúng mức và đúng lúc để không xáo

trộn nhiều không gian lớp học, nhanh chóng ổn định lớp học khi trò chơi kết thúc;

trò chơi phải phù hợp với nội dung, mục tiêu cần đạt, không vận dụng cho tất cả các

tiết học; trò chơi bao giờ cũng kết thúc bằng thưởng cho người (đội) thắng hoặc xử

phạt nhẹ nhàng cho vui đối với người (đội) thua cuộc từ đó tạo nên sự dí dỏm, hứng

thú.

+ Xem trò chơi là một hình thức tổ chức cho một đơn vị kiến thức nhỏ trong giờ

học, để triển khai ở các bước khác nhau của bài giảng (phần tìm hiểu chung, tìm

hiểu ngữ liệu, phần đọc – hiểu văn bản, phần luyện tập, củng cố bài…).

+ Tổ chức tiết học thành một trò chơi lớn đối với một số tiết ôn tập hoặc khái quát.

Giáo viên có thể tự sáng tác ra những trò chơi phù hợp với tiết học theo nguyên tắc

vừa phù hợp, vừa kích thích sự tò mò của các em. Ví dụ: Ô chữ, Hùng biện, Tiếp

sức, Điền bảng, Rung chuông vàng…

Do đặc thù của mỗi phân môn, việc vận dụng lồng ghép trò chơi có những điểm

khác nhau.

* Văn học: Tùy thuộc dạng bài ( bài khái quát, ôn tập, đọc – hiểu văn bản…), lượng

kiến thức, mục tiêu bài học, thời lượng để áp dụng hình thức trò chơi: trò chơi nhỏ

dành cho một hoạt động dạy học hay trò chơi lớn cho cả tiết học. Do đặc thù của

phân môn với mục đích cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương, đòi hỏi

những cảm xúc tinh tế, nên mức độ vận dụng trò chơi chỉ vừa phải.

* Tiếng Việt: Lồng ghép trò chơi đối với phân môn này là khá phù hợp, đặc biệt là

đối với những tiết thực hành, luyện tập. Trò chơi cần phải gắn với các bài tập hoặc

các hình thức thực hành, luyện tập khác mà giáo viên nghĩ ra. Vận dụng tốt giải

pháp này, giờ học Tiếng Việt sẽ không còn khô cứng, học sinh cảm thấy thoải mái,

hứng thú, kích thích hoạt động tư duy của các em, quan trọng hơn là góp phần phát

triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở học sinh. Qua trò chơi, tư duy và khả năng ngôn

ngữ của học sinh sẽ được bộc lộ tự nhiên, giáo viên có thể phát hiện và uốn nắn kịp

thời những mặt còn hạn chế.



13



* Làm văn: Chính là phần thực hành Văn học và Tiếng Việt. Có thể vận dụng trò

chơi trong một số tiết học và không nên thực hiện hình thức này trong cả tiết. Với

phân môn này, việc lồng ghép hình thức trò chơi không thể thay thế được các

phương pháp cũng như hình thức tổ chức lớp học đặc thù như thực hành, luyện tập,

…hoạt động theo nhóm hay cá nhân tự luyện tập các kĩ năng…Do đó không nên

gượng ép để cố tình đưa trò chơi vào tất cả các giờ học làm văn.

Quy trình thực hiện:

* Chuẩn bị: Tùy theo mỗi trò chơi cụ thể sẽ có những phần chuẩn bị khác nhau.

* Bước 1: Giáo viên dự kiến chọn trò chơi cho phù hợp với nội dung của từng bài

học.

* Bước 2: Giáo viên nêu thể lệ trò chơi

* Bước 3: Học sinh tiến hành chơi trò chơi (với tư cách một cá nhân hoặc một

nhóm), dưới sự kiểm soát của giáo viên.

* Bước 4: Giáo viên đánh giá, cho điểm hoặc phát thưởng tùy theo sự đóng góp của

mỗi cá nhân hoặc mỗi nhóm.

Cách thức tổ chức:

Có rất nhiều trò chơi có thể gây hứng thú cho học sinh trong việc dạy và học môn

Ngữ văn. Tuy nhiên trong phạm vi của một sáng kiến kinh nghiệm, tôi chỉ xin nêu

một số trò chơi sau:

a. Trò chơi điền bảng (kết hợp với thảo luận nhóm):

* Đặc điểm: Trò chơi này dùng trong những giờ ôn tập, thay vì cho học sinh lập

bảng thống kê kiến thức bình thường, ta có thể chia lớp thành các nhóm khác nhau

và cho đại diện các nhóm lên bốc thăm để tìm công việc cho nhóm mình. Sau đó,

các nhóm sẽ thay phiên nhau giải quyết công việc của nhóm mình.

* Chuẩn bị: – Về phía giáo viên:

+ Kẻ sẵn một bảng tổng kết bao gồm các đơn vị kiến thức, trong đó chỉ có đề mục

và các tiêu chí thống kê.

+ Các phiếu bốc thăm ứng với các nhóm.

+ Các thẻ kiến thức trắng đều nhau được cắt ra từ giấy Ao.

+ Keo dán, bút viết bảng (4 màu ứng với 4 nhóm).

- Về phía học sinh: dựa vào SGK và soạn kĩ bài theo yêu cầu của giáo viên.

b.Trò chơi ô chữ (nhóm hoặc cá nhân)

* Đặc điểm: Đây là cách thức mô phỏng theo các sân chơi phổ biến hiện nay như:

Đường lên đỉnh Ôlympia, Chiếc nón kỳ diệu…[ 11 ].

Nó có thể sử dụng linh hoạt trong các tiết dạy hay trong các tiết ôn tập, thực hành.

Trò chơi này khá quen thuộc và đã được áp dụng nhiều nhưng nó lại được sự đón

nhận rất nhiệt tình của các em học sinh. Chính vì thế nó mang lại hiệu quả rất cao.

* Chuẩn bị: Giáo viên soạn ra một bảng ô chữ cùng các câu hỏi đi kèm tương ứng

với kiến thức của các ô hàng ngang cần thực hiện. Từ gợi ý của các ô hàng ngang,

14



học sinh dần dần tìm ra nội dung của ô hàng dọc. Đây là ô chính mà nội dung của nó

có tầm quan trọng đối với bài học mà học sinh cần nắm chắc và ghi nhớ.

- Bảng ô chữ này có thể chuẩn bị sẵn ở bảng phụ hoặc giáo viên có thể áp dụng

công nghệ thông tin để trò chơi này hấp dẫn và mới lạ hơn.

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm

a. Mục đích thực nghiệm

- Thông qua các bài thực nghiệm nhằm kiểm tra tính khả thi của đề tài:“Hướng đổi

mới giờ học ngữ văn cho học sinh lớp11 bậc THPT”

- Căn cứ vào kết quả thực nghiệm, phân tích xử lý các số liệu thu được để đánh giá

khả năng áp dụng của đề tài.

b. Nhiệm vụ thực nghiệm: – Chọn lớp và chọn GV thực nghiệm, chọn lớp và GV

đối chứng để thực nghiệm

- Chọn các bài thực nghiệm đáp ứng được yêu cầu của đề tài.

- Chuẩn bị các điều kiện cần thiết về các mặt trong công tác thực nghiệm sư

phạm: các giáo án và các phương tiện thiết bị dạy bài thực nghiệm.

- Thống nhất với GV dạy thực nghiệm về nội dung, phương pháp dạy từng bài.

- Tổ chức triển khai các bài thực nghiệm đã được chuẩn bị.

- Đánh giá kết quả và rút ra kết luận.

2. Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm.

- Phải đảm bảo tính khoa học, khách quan về khối lượng kiến thức trong SGK

Ngữ văn do Nhà xuất bản Giáo Dục phát hành.

- Tuân thủ theo chương trình giảng dạy do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Đảm

bảo kiến thức cơ bản của bài giảng trong SGK.

- Việc dạy thực nghiệm phải tôn trọng thời khoá biểu của nhà trường không

làm ảnh hưởng tới hoạt động dạy và học của lớp được chọn làm thực nghiệm.

Quá trình thực nghiệm và kết quả thực nghiệm được xử lý theo phương pháp thống

kê toán học.

3 Phương pháp thực nghiệm.

- Thực nghiệm được tiến hành song song trên 2 lớp (lớp thực nghiệm và đối

chứng) tại trường. Các lớp đối chứng được tiến hành trước, giáo viên giảng dạy theo

nội dung và phương pháp truyền thống. Với các lớp thực nghiệm, GV nghiên cứu

kĩ cách thiết kế bài giảng theo phương pháp mới trong đó đã xác lập các kiến

thức liên môn phù hợp với từng bài. Cả hai lớp đều do một giáo viên tiến hành giảng

dạy, kiểm tra (cùng bài, cùng đề kiểm tra). Sau khi nghiên cứu các thiết kế bài

giảng và dạy thực nghiệm, giáo viên rút ra những kết luận và nhận xét cần

thiết.

4. Nội dung thực nghiệm

15



Để tổ chức thực nghiệm có hiệu quả, tôi đã chọn trường tôi đang công tác và các lớp

tham gia thực nghiệm là lớp thực nghiệm: 11A1, 11A5, 11A8, lớp đối chứng: 11A6,

11A10, 11A11.

– Các GV tôi chọn giảng dạy là các GV đang trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp

11 tại trường. Các GV dạy thực nghiệm đều là những người công tác lâu năm và

trình độ chuyên môn khá đồng đều, đó là điều kiện cho việc dạy thực nghiệm sư

phạm, thể hiện được tính khách quan đúng đắn và yêu cầu của quá trình thực nghiệm

và kết quả thực nghiệm.

Chuẩn bị bài thực nghiệm

- Các bài soạn dạy thực nghiệm đều được chuẩn bị kỹ và sự tham khảo ý kiến của

đồng nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả của đề tài và GV dạy thực nghiệm trao đổi nhằm

hoàn thiện bài soạn đáp ứng mục đích và yêu cầu của đề tài.

- Trước giờ dạy, các bài soạn đều được chuẩn bị đồ dùng, phương tiện thiết bị dạy

học đầy đủ.

- Tôi đã chọn các bài trong SGK Ngữ văn lớp 11 để thực nghiệm. Dưới đây là các

phần trong từng bài tôi đã áp dụng thực nghiệm.

CHÍ PHÈO

Khi dạy bài Chí Phèo”- Sách Ngữ văn 11, tập I, giáo viên lồng ghép cho học sinh

xem một vài đoạn phim nhỏ nói về hình ảnh Chí Phèo cùng với tiếng chửi, hình ảnh

của thị Nở cùng với bát cháo hành, hình ảnh chí Phèo hiền lành sau khi ăn cháo

hành… Nó tác động trực tiếp đến nhiều giác quan của các em, tạo ấn tượng, kích

thích sự tò mò, hấp dẫn và lôi cuốn, từ đó sẽ gây hứng thú hơn trong việc tìm hiểu

tác phẩm, tìm hiểu về số phận. Khi dạy xong bài này, giáo viên có thể áp dụng trò

chơi ô chữ để củng cố nhằm khắc sâu kiến thức đã học.

- Giáo viên cho học sinh tham gia trò chơi theo nhóm hoặc cá nhân.

- Yêu cầu của trò chơi: Học sinh nắm được những nội dung cơ bản về tác giả Nam

Cao và tác phẩm Chí Phèo. Đặc biệt khi kết thúc trò chơi, học sinh phải nắm được

một trong hai giá trị lớn của tác phẩm, đó là “giá trị hiện thực”.

- Giáo viên lần lượt nêu ra các câu hỏi cho các nhóm thực hiện, bắt đầu từ nhóm 1.

Các nhóm có quyền lựa chọn ô hàng ngang. Nếu nhóm nào không trả lời được theo

thời gian qui định thì phải nhường lượt cho nhóm khác tiếp tục trò chơi.

- Nhóm nào tìm được kiến thức ở ô hàng ngang thì được cộng điểm, tìm được ô

hàng dọc khi chưa giải hết ô hàng ngang sẽ là đội thắng cuộc.

- Cụ thể về bảng ô chữ: (8 hàng)

Câu hỏi: – Hàng 1: Tên thật của tác giả Nam Cao ? (10 chữ cái)

- Hàng 2: Khi say, Chí chửi, đầu tiên là hắn chửi gì ? (4 chữ cái)

- Hàng 3: Ai là người trực tiếp đẩy Chí Phèo vào tù ? (6 chữ cái)

- Hàng 4: Nhân vật nào được miêu tả xấu ma chê quỷ hờn ? (5 chữ cái)



16



- Hàng 5: Tác phẩm Chí Phèo được nhà văn lấy bối cảnh ở đâu của nước ta trước

Cách mạng tháng Tám? (8 chữ cái)

- Hàng 6: Qua tác phẩm, Nam Cao muốn đề cập đến tình trạng nào của người nông

dân



1

T

R

A

N

H

U

U

T

R

I

2

T

R

O

I

3

B

A

K

I

Ê

N

4

T

H

I

N

O

5

N

O

N

G

T

H

O

N

6

T

H

A

H

O

A

7

Đ

O

I

T

H

Ư

A

8

B

À

C

Ô

trước cách mạng Tháng 8/1945? (6 chữ cái)

– Hàng 7: Một trong những tác phẩm viết về để tài người trí thức trước cách mạng

– Hàng 8: Ai là người đã ngăn cản tình cảm giữa Thị Nở và Chí Phèo? (4 chữ cái)

* Hàng dọc: Đây là một trong những giá trị cơ bản của tác phẩm Chí Phèo.

Ví dụ minh họa ứng dụng công nghệ thông tin khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về

cảnh đưa tang cụ cố Tổ kèm theo những lời giảng, giáo viên cho học sinh xem cảnh

đưa

Ví dụ thực tế: Hạnh phúc của một tang gia: Đám con cháu cụ cố tổ ngày đêm

trông cho cụ mau chết để chia gia tài. Khi cụ chết lại làm ma rất to để cho thiên hạ

phải trầm trồ khen là chí hiếu.

Ví dụ minh họa ứng dụng công nghệ thông tin khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về

cảnh đưa tang cụ cố Tổ kèm theo những lời giảng, giáo viên cho học sinh xem cảnh

đưa ma cụ cố Tổ, nó sẽ tác động và để lại ấn tượng sâu sắc hơn cho học sinh về một

đám ma to tát, đám ma của sự bát nháo, nhố nhăng,…

Đám tang cụ cố tổ – ảnh : cắt từ clip [ 12 ].

ÔN TẬP VĂN HỌC

* Ví dụ minh họa trò chơi điền bảng: Ở bài Ôn tập văn học, sách Ngữ văn 11, tập

2, giáo viên chuẩn bị:

+ Chia lớp thành 4 nhóm.

+ 4 phiếu bốc thăm – mỗi phiếu có 2 đơn vị kiến thức – các đơn vị kiến thức này

cách quãng nhau.

+ 8 thẻ kiến thức trắng, dài.

+ Keo dán, 4 bút lông viết bảng xanh, đỏ, tím, đen ứng với 4 nhóm 1, 2, 3, 4



17



+ Kẻ sẵn trên bảng 10 đơn vị kiến thức trong đó chỉ có đề mục và các tiêu chí thống

kê bao gồm các ô: Thứ tự – Tên tác phẩm, tác giả – Năm sáng tác – Thể loại – Nghệ

thuật và nội dung chủ yếu.

Tác phẩm - tác giả



Năm sáng tác



Thể loại



Nội dung - Nghệ thuật cơ

bản



1. Lưu biệt khi xuất

dương. Phan Bội Châu

2. Hầu trời - Tản Đà

3. Vội vàng - Xuân Diệu

4.Tràng giang - Huy Cận

5.Đây thôn vĩ Dạ - HMT

6. Từ ấy - Tố Hữu

7. Chiều tối - HCM

Tương tư - Nguyễn Bính

8.Tôi yêu em- Pu skin

9. Người trong bao - Sê

Khốp

10. Bài thơ thứ 28 - Ta

Go

+ Các nhóm học sinh nhận phiếu bốc thăm và tiến hành thảo luận để tìm ra kiến thức

phù hợp với các ô trống – ghi nội dung vào các thẻ kiến thức.

+ Đại diện học sinh lên dán thẻ kiến thức vào ô trống trên bảng ứng với phần mình

đã bốc thăm.

Trò chơi này giúp học sinh thống kê được kiến thức đã học mà không gây nhàm

chán. Cách này nhẹ nhàng mà huy động được sự tham gia của cả lớp. Học sinh sẽ

rất hứng thú khi tham gia bài.

Kết quả thực nghiệm

Sau khi áp dụng Hướng tiếp cận bài học nhằm tạo hứng thú cho học sinh khi học

môn Ngữ văn lớp 11 THPT kết quả thu được như sau:

Kết quả từ các phiếu hỏi: Với 5 câu hỏi cho một phiếu thăm dò ý kiến được phát

đều cho 40 học sinh sau khi thống kê đã thu được kết quả như sau: Số phiếu: 40

phiếu.

Câu hỏi 1: Em yêu thích học môn Văn không ?

Số phiếu yêu thích học môn Văn là: 35 phiếu

Số phiếu trả lời bình thường là: 5 phiếu.

Số phiếu trả lời không thích là: Không

Câu hỏi 2: Em cảm thấy học môn Văn có khó không?

Số phiếu trả lời bình thường: 25 phiếu. Số phiếu trả lời môn Văn khó: 15 phiếu

Câu hỏi 3: Em thấy tập thể lớp 11A1 có thích học văn không?

18



Số phiếu trả lời cả lớp có thích: 35 phiếu. Số phiếu trả lời không biết rõ: 5 phiếu.

Số phiếu trả lời không thích lắm: 0 phiếu

Câu hỏi 4: Em sẽ làm gì khi gặp bài văn khó ?

Cố gắng tìm cách phân tích đề, dàn ý, tham khảo sách: 30 phiếu

Học hỏi người khác gợi ý: 10 phiếu.

Không hiểu và không làm: Không

Câu hỏi 5: Em có thích đọc thêm sách tham khảo về môn văn không ?

Số người rất thích là: 35 phiếu. Số người không trả lời: 5 phiếu

Theo như kết quả thống kê từ phiếu hỏi, ta thấy học sinh yêu thích môn văn đã

chiếm 75% tổng số học sinh trong lớp, đây là một kết quả phản ánh thái độ tích cực

của học sinh đối với môn học. Tuy nhiên vẫn có tới 15% học sinh trong lớp trả lời

bình thường, và cho rằng môn văn là một môn học khó. Nhưng nhìn chung các học

sinh đã có ý thức tìm tòi, lập dàn ý, tham khảo sách khi gặp bài khó hoặc hỏi người

khác gợi ý… Điều đó chứng tỏ các học sinh đã có thái độ tích cực đối với việc học

môn văn. Như vậy là sự hứng thú học tập môn Ngữ văn của các học sinh đã tốt hơn,

từ đó góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn trong nhà trường.

Kết quả từ quan sát thực tế

Với việc trực tiếp giảng dạy ở lớp 11A1, trong giờ học văn, các học sinh có ý thức

học bài cũ, một số học sinh do nhút nhát nên không xung phong trả lời bài cũ hay

tham gia xây dựng bài mới; nhưng đa số các học sinh đều có khả năng trả lời các câu

hỏi ở những mức độ khác nhau. Một số học sinh còn có khả năng trả lời những câu

hỏi nâng cao kiến thức để bài học được khắc sâu.Ý thức của học sinh trong việc học

tập bộ môn hiện nay khá nghiêm túc, ý thức đó thể hiện qua việc tích cực trong xây

dựng bài, chú ý nghe giảng và chép bài đầy đủ và được phản ánh qua chất lượng bài

kiểm tra của học sinh .

Kết quả kiểm tra

Trong học kì II năm học 2016 – 2017, tôi vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào

thực tế giảng dạy. Qua điều tra thăm dò lớp 11A1 mà tôi phụ trách giảng dạy, kết

quả như sau:

- Học sinh hứng thú học tập: 45 hs = 90%.

- Học sinh đạt điểm TB trở lên: 40 hs = 100%.

Với kết quả khảo sát như trên, qua việc đối chiếu, so sánh kết quả, tôi nhận thấy

rằng việc áp dụng các biện pháp gây hứng thú học tập vào giảng dạy Ngữ văn: tỉ lệ

học sinh thích học văn tăng lên hơn 75%. Từ đó cho thấy việc áp dụng các biện pháp

gây hứng thú học tập hướng vào việc tạo tinh thần hưng phấn, thoải mái, xây dựng

không khí lớp học sôi nổi, học sinh có thiện cảm môn Ngữ văn bước đầu đạt hiệu

quả. Nó đã góp phần nâng cao hơn chất lượng của các giờ học môn Ngữ văn.

PHẦN 3 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

I. Kết luận

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHO HỌC SINH LỚP 11 BẬC THPT

Tải bản đầy đủ ngay(22 tr)

×