Tải bản đầy đủ - 18 (trang)
* Hệ thống bài tập thực tiễn để kiểm tra ,đánh giá học sinh.

* Hệ thống bài tập thực tiễn để kiểm tra ,đánh giá học sinh.

Tải bản đầy đủ - 18trang

B. lúc đầu cân bằng bền, sau đó là cân bằng phiếm định

C. cân bằng phiếm định.

D. cân bằng bền.

Câu 2:Dạng cân bằng của nghệ sĩ xiếc đang đứng trên dây là :

A. Cân bằng bền.



B. Cân bằng không bền.

C. Cân bằng phiến định.

D. Không thuộc dạng cân bằng nào cả.

Câu 3: Chọn đáp án đúng.

Ôtô chở hàng nhiều, chất đầy hàng nặng trên nóc xe dễ bị lật vì:

A. Vị trí của trọng tâm của xe cao so với mặt chân đế.

B. Giá của trọng lực tác dụng lên xe đi qua mặt chân đế.

C. Mặt chân đế của xe quá nhỏ.

D. Xe chở quá nặng.

Câu 4: Mặt chân đế của chiếc bàn ( tiếp xúc với mặt đất bằng 4 chân bàn) là:

A. toàn bộ diện tích tiếp xúc của vật với sàn.

B. đa giác lồi lớn nhất bao bọc tất cả các diện tích tiếp xúc.

C. phần chân của vật.

D. đa giác lồi nhỏ nhất bao bọc tất cả các diện tích tiếp xúc của chân bàn với sàn



Câu5: Mặt chân đế của chiếc hòm đặt trên bàn là:

A. toàn bộ diện tích tiếp xúc của chiếc hòm với sàn ( mặt đáy).

B. đa giác lồi lớn nhất bao bọc một phần diện tích tíếp xúc của hòm với bàn.

C. phần chân của vật.

0



D. đa giác lồi nhỏ nhất bao bọc một phần của hòm

Câu 6:Để tăng mức vững vàng của trạng thái cân bằng đối với xe cần cẩu người

ta chế tạo:

A.Xe có khối lượng lớn.

B. Xe có mặt chân đế rộng.

C. Xe có mặt chân đế rộng và trọng tâm thấp

D. Xe có mặt chân đế rộng, và khối lượng lớn.

Câu 7: Nghệ sĩ xiếc lúc đang đi trên dây có cầm trong tay một cái gậy nặng

nhằm mục đích gì?



Lúc đi trên dây căng thẳng, nghệ sĩ xiếc nhất thiết phải chú ý giữ sao cho

đường thẳng đứng qua trọng tâm của cơ thể phải luôn luôn đi qua dây. Điều này

dễ dàng đạt được nếu trong tay diễn viên có một cái gậy dài. Độ nghiêng của cái

gậy về phía này hay phía kia tạo khả năng nhanh chóng chuyển dịch trọng tâm

chung và nhờ đó mà giữ được sự cân bằng.

Câu 8: Trong trò chơi kéo co, tại sao nên

đứng dang rộng chân ra, cúi người xuống

thấp?

Hướng dẫn: Khi đứng rang rộng chân ra, ta

đã làm cho diện tích mặt chân đế của người

tăng lên. Khi cúi người xuống thấp, ta đã

làm cho trọng tâm được hạ thấp. Cả hai

điều đó đã làm tăng mức vững vàng của

người, do vậy đội bên kia khó làm cho đội

mình ngã.

Câu 9: Những người công nhân khi vác những bao hàng nặng thường chúi

người về phía trước một chút? Hãy giải thích vì sao?

Hướng dẫn: Người công nhân đang vác nặng có một lực đáng kể tác dụng lên

vai. Khi đó khối tâm ở vị trí cao( cân bằng không bền, dễ ngã) và hơi lệch về

phía sau so với mặt chân đế nên bao hàng dễ rơi ra. Để tăng mức vững vàng,

người này phải hạ thập trọng tâm. Bao hàng có khối tâm tương đói cao. Vì vậy

0



họ thường chúi người vê phía trước để hạ thấp trọng tâm và đưa trọng tâm của

bao hàng rơi vào mặt chân đế.

Câu 10: Đang ngối ghế muốn đứng lên ta phải nghiêng người về phía trước, hãy

giải thích tại sao?

Hướng dẫn: Ngồi thật thẳng lưng và không kéo lui chân phía dưới gầm ghế ta

không thể đứng lên mà cứ để yên chân như thế nếu không nghiêng người về

phía trước. Trọng tâm của phần thân trên một người đang ngồi thì ở bên trong cơ

thể. Kẻ đường dây dọi từ điểm ấy xuống dưới thì nó sẽ đi qua mặt ghế xuống

dưới phía sau bàn chân. Mà người muốn đứng dậy được thì đường thẳng đứng

đó lại phải qua giữa hai chân. Điều kiện cân bằng của một vật có mặt chân đế là

giá của trọng lực phải xuyên qua mặt chân đế. Vậy muốn đứng lên được ta phải

khom lưng về đằng trước để chuyển trọng tâm đi cho thích hợp hoặc kéo chân

về phía sau để đưa chân đến phía dưới trọng tâm. Nếu không dùng một trong hai

cách trên, việc đi lại sẽ gặp khó khăn.

Câu 11: Quan sát các võ sĩ thi đấu thấy họ thường đứng ở tư thế hơi khụy gối

xuống một chút và hai chân dang rộng hơn so với mức bình thường. Tư thế này

có tác dụng gì?

Hướng dẫn: Tư thế này giúp cho võ sĩ đứng vững vàng hơn rất nhiều và khó đổ

ngã. Vì tư thế hai chân dang rộng sẽ có mặt chân đế lớn và đầu gối hơi khụy để

trọng tâm hạ thấp hơn nên mức vững vàng của tư thế sẽ nâng cao rất nhiều.

Câu 12: Nguyên nhân con lật đật,chuồn chuồn tre không bao giờ đổ?

Hướng dẫn: Con lật đật toàn thân đều rất nhẹ, chỉ có phần dưới của nó là có

một miếng chì hay sắt tương đối nặng, và vì thế trọng tâm của nó rất thấp. Mặc

khác, phần dưới của con lật đật to, tròn trịa, rất dễ lắc lư.

Khi con lật đật nghiêng về một bên, do điểm tựa (điểm tiếp

xúc giữa con lật đật và mặt bàn) có sự thay

đổi, trọng tâm và điểm tựa không cùng trên một đường

thẳng, lúc này, dưới tác động của trọng lực, con lật đật sẽ

lắc lư quanh điểm tựa cho đến khi khôi phục lại vị trí bình

thường. Mức độ nghiêng của con lật đật càng lớn, hiệu quả

lắc lư mà trọng lực tạo ra cũng càng lớn khiến cho xu thế

khôi phục lại vị trí ban đầu càng rõ ràng, vì vậy, con lật đật không bay giờ bị đổ.

Trọng tâm của con chuồn chuồn tre đặt ngay cái "mỏ" chuồn chuồn. Hệ quả là

nó chỉ bị trọng lực "hút" về phía mỏ. Về cấu tạo thì 2 cánh chuồn chuồn có lẽ để

tăng thêm trọng lượng cho phần đầu, đồng thời giúp nó thăng bằng tốt hơn.

Các trường hợp dễ thấy như cái vali đặt nằm ngang thì vững vàng hơn dựng

đứng nó lên, cây gốc to vững hơn cây gốc bé, nhà đào móng sâu và chắc thì mới

xây được lên cao.Không phải giúp nó thăng bằng tốt hơn mà bắt buộc phải có

hai cái cánh hướng về phía trước để tạo momen cân bằng với đuôi ở phía sau.



0



Đây là chuồn chuồn tre

Nó cân bằng bền là vì trọng tâm của nó

nằm dưới cái miệng (điểm treo) của nó.

Cách con chuồn chuồn tre và con lật đật

lấy lại vị trí cân bằng là cùng 1 cơ chế. Ở

con chuồn chuồn tre trọng tâm nó thấp

hơn điểm tựa nhưng đường kéo dài đi qua

điểm ấy, điểm tựa ko đổi khi chơi (đè đẩy

nó lên xuống ).

Ở con lật đật trọng tâm ở trên cao hơn

nhưng đường kéo dài cũng đi qua điểm ấy,

điểm tựa thay đổi khi chơi (đẩy nó).

Câu 13: Lúc đi bộ trên băng, người ta cố gắng đi thẳng chân. Tại sao?

- Nếu người đi bộ không cong chân thì trọng lượng toàn thân truyền lên bề

mặt của bàn chân. Khi cong chân lại thì thành phần tiếp tuyến của trọng lực xuất

hiện và đặt vào chân. Do ma sát trên băng nhỏ hơn nên thành phần này của trọng

lượng làm trượt ngã. Vì vậy, đi cong chân người ta bị trượt nhiều hơn, và có thể

bị ngã ngay.

Câu 14: Tại sao không thể đứng vững bằng một chân được?

Hướng dẫn: Trong trường hợp này mặt chân đế bị giảm nhiều. Khi lệch khỏi vị

trí cân bằng một chút thì đường thẳng đứng qua trọng tâm sẽ không đi qua mặt

chân đế và người sẽ ở vị trí không cân bằng.

Câu 15: Tại sao lúc đi bộ người ta lại vung tay?

Hướng dẫn: Khi người đưa chân về phía trước, trọng tâm cũng chuyển về phía

trước một chút. Để giữ được vị trí ban đầu của trọng tâm người ta phải đưa tay

ra phía sau. Sự lần lượt thay đổi vị trí của tay và chân được lặp đi lặp lại trong

mỗibướcđi.



0



Câu 16: Khi một người xách thùng nước bằng tay phải, người ấy nghiêng mình

về bên trái và giơ tay trái (không phải cầm gì). Làm như thế nhằm mục đích gì?

Hướng dẫn: Trong trường hợp trọng tâm bị chuyển dịch theo hướng bất lợi, con

người có thể trong một giới hạn nào đó chuyển trọng tâm chung của mình theo

hướng ngược lại.Nếu một người mang một vật nặng (thùng nước) ở tay phải thì

trọng tâm chung chuyển sang phải. Nghiêng phần trên cơ thể về phía trái và giơ

tay trái, người đó sẽ chuyển trọng tâm chung sang trái. Kết quả là trọng tâm

chung không bị chuyển về hướng bất lợi.

Câu 17: Tại sao ô tô chồng chất hàng hóa cao lênh khênh dễ bị lật đổ ở chỗ

đường nghiêng?



Hướng dẫn: Khi chất nhiều hàng nặng lên nóc xe thì trọng tâm của ô tô bị nâng

cao. Đi đến chỗ đường nghiêng, giá của trọng lực đi qua mặt chân đế ở gần mép

của mặt chân đế hơn là chỗ đường bằng. Chính vì thế khi ô tô chất đầy hàng

nặng lên nóc mà đi qua chỗ đường nghiêng thì rất nguy hiểm.

Câu 18: Tại sao con rùa bị lật ngửa thường không thể tự lật lại được?

0



Hướng dẫn: Con rùa nằm ngửa giống như một phần của mặt cầu có trọng tâm

thấp. Con rùa nằm ngửa nằm rất vững vàng và để lật lại, cần phải nâng trọng

tâm của nó lên khá cao. Nhiều con rùa không thể nâng nổi trọng tâm lên cao đến

mức đủ sức lật ngược lại được, nên cứ phải nằm đó mãi.

Câu 19: Tại sao nhà thể thao lúc nâng tạ bao giờ cũng bước lên phía trước một

bước?

Hướng dẫn: Khi nâng quả tạ đôi, nhà thể thao đưa chân lên trước một bước để

tăng mặt chân đếvà nhờ đó vận động viên vững vàng hơn trên mặt phẳng thẳng

góc với cần ngang của tạ.



Câu 20: Tại sao khi xuống núi, vận động viên trượt tuyết cần hơi khom mình

xuống?

Hướng dẫn: Khi vận động viên trượt tuyết khom người xuống, trọng tâm của

con người hạ theo, và vận động viên ở tư thế vững vàng hơn.

Câu 21: Tại sao tháp đổ Pisa (Ý) mặc dù nghiêng nhưng không đổ ?

Hướng dẫn: Hình trụ nghiêng tất phải đổ nhưng nếu nó đủ to để đường dây dọi

kẻ từ trọng tâm nó đi qua bên trong mặt chân đế của nó. Vì thế hình trụ nghiêng

tất phải đổ, nhưng nếu nó đủ to để cho đường dây dọi kẻ từ trọng tâm nó đi qua

mặt chân đế của nó thì trụ sẽ không đổ. Những cái đó gọi là ‘tháp đổ ’ giống như

tháp đổ Pisa (Ý) mặc dù nghiêng nhưng không đổ cũng vì đường dây dọi kẻ từ

0



trọng tâm của nó đi qua bên trong phạm vi mặt chân đế. Mặt khác cũng vì chân

móng của chúng rất sâu.



Câu 22:. Lúc đi bộ trên băng, người ta cố gắng đi thẳng chân. Tại sao?

Hướng dẫn: Nếu người đi bộ không cong chân thì trọng lượng toàn thân

truyền lên bề mặt của bàn chân. Khi cong chân lại thì thành phần tiếp tuyến của

trọng lực xuất hiện và đặt vào chân. Do ma sát trên băng nhỏ hơn nên thành

phần này của trọng lượng làm trượt ngã. Vì vậy, đi cong chân người ta bị trượt

nhiều hơn, và có thể bị ngã ngay.

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:

Học sinh: Tăng cường sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải

mái của học sinh. Học sinh được học sâu và hiệu quả bền vững do được học một

nội dung theo nhiều cách khác nhau dựa trên nền tảng các vấn đề thực tiễn xảy

ra xung quanh mình. Đồng thời, khuyến khích học sinh giải quyết các vấn đề

thực tiễn cũng như các hoạt động tập thể để rèn luyện, phát triển nhân cách của

học sinh một cách toàn diện.

Sau tiết học học sinh được chủ động tiếp nhận kiến thức và được vận dụng

kiến thức vào các vấn đề thực tiễn gần gũi với cuộc sống xung quanh nên các

kiến thức được các em nhớ lâu và hiểu sâu hơn, vận dụng thành thạo hơn. Sau

bài học các em thấy cuộc sống xung quanh mình gần gũi với những kiến thức

mà thầy cô đã truyền đạt . Và hơn nữa đi đến đâu ta cũng có những cái nhìn, cái

suy nghĩ nhất định về những vấn đề liên quan đến kiến thức chúng ta đã học.

Phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận thực tiễn đã được bản thân tôi

áp dụng thử nghiệm với 2 lớp 10A1,10A3 và đối chiếu với lớp 10A6 sử dụng

0



phương pháp dạy học truyền thống. Kết quả trong kiểm tra đánh giá cho thấy

cùng một nội dung kiểm tra nhưng với các lớp 10A1,10A3, học sinh làm bài cho

kết quả cao hơn nhiều so với lớp còn lại là 10A6. cụ thể:

KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

LỚP



SỐ BÀI



Điểm từ 7 trở lên



Điểm từ 5 đến 6,5 Điểm dưới 5



SL



%



SL



%



SL



%



10A1



42



21



50



20



47.6



1



2.4



10A3



44



20



45.4



20



45.4



4



9.2



10A6



42



13



31



21



50



8



19



Giáo viên: Giáo viên cần nhiều thời gian hơn cho việc chuẩn bị, thiết kế

các hoạt động dạy học, đồ dùng phương tiện học tập .Giáo viên cần phải thường

xuyên thu thập và phân loại tư liệu từ các sách, báo, tạp chí chuyên ngành... để

có tư liệu hay và hấp dẫn. Đồng thời giáo viên cần phải chắt lọc tư liệu để đưa

vào bài giảng cho phù hợp. Bên cạnh đó, giáo viên cần phải sử dụng tốt các kỹ

năng dạy học như: Sử dụng bài tập, thiết kế lại các loại bài tập, phương tiện dạy

học, thí nghiệm...

Song từ kết quả trên cũng phần nào phản ánh được tác dụng tích cực của việc

dạy học tích hợp đối với thái độ và kết quả học tập của học sinh cũng như sự đầu

tư, tích lũy của giáo viên giảng dạy



0



PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Đối chiếu với mục đích và nhiệm vụ của đề tài, tác giả đã giải quyết được

một số vấn đề và thu được kết quả như sau:

+ Đa số học sinh rất thích thú, tích cực với các giờ học. Các em tích cực,

tăng niềm đam mê ham thích tìm hiểu kiến thức thực tiễn, chủ động tiêp nhận

thêm nhưng điều lí thú xung quanh sau mỗi giờ học.

+ Kích thích sự tìm tòi ham mê khám phá từ đó có sự chuẩn bị kỹ càng và

tìm hiểu nhiều hơn về mỗi bài học trước khi tới lớp.

+ Kết quả kiểm tra thường xuyên và học kỳ tăng lên rõ rệt khi có sự vận

dụng kiến thức liên môn giúp học sinh khắc sâu kiến thức của bài học.

+ Học sinh được phát triển thêm về nhiều kỹ năng bổ trợ như khả năng

làm việc hợp tác theo nhóm; các em được tập làm việc ở các vị trí khác nhau

trong nhóm; trưởng nhóm, thành viên của nhóm tùy theo sự phân công ở các chủ

đề học tập; khả năng thuyết trình trước tập thể, kỹ năng tìm kiếm, xử lý và sử

dụng thông tin khai thác được; kỹ năng sử dụng tin học, kỹ năng thực hành vật



2. Kiến nghị

- Nhà trường cần quan tâm hơn nữa đến các buổi học ngoại khóa nói chung

và ngoại khóa môn Vật lý nói riêng; cần có thời gian biểu cụ thể cho vấn đề này;

cần trang bị các phòng học bộ môn có chất lượng cao, có đầy đủ các thiết bị

phục vụ cho bài giảng. Đặc biệt là các dụng cụ thí nghiệm phục vụ cho các môn

khoa học thực nghiệm. Giáo viên giảng dạy cần truyền thụ những kiến thức về

việc giáo dục bảo vệ môi trường trong các bài học.

- Nhà trường, tổ chuyên môn cần tạo điều kiện, khuyến kích và có chế độ

đối với các giáo viên trong việc tổ chức các buổi thảo luận, các buổi ngoại khóa

để tạo niềm đam mê và bầu không khí sôi nổi trong quá trình học tập và giảng

dạy.

Dù đã rất nhiều cố gắng, làm việc với tinh thần hăng say nhất, nhưng là một

giáo viên trẻ, kinh nghiệm còn chưa nhiều và thời gian trình bày có hạn nên bài

viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Nhiều ý kiến còn mang tính cá nhân,

chưa nhận được nhiều góp ý xây dựng của đồng nghiệp và chưa được áp dụng

rộng rãi trên nhiều đối tượng học sinh ở các trường khác nhau.

Kính mong các thầy cô chia sẻ, góp ý để tôi tiếp tục xây dưng các chủ đề

tiếp theo ngày một hoàn thiện hơn.

Tôi xin cam đoan: Đây là sáng kiến kinh

nghiệm của bản thân tôi viết, không sao

chép nội dung của người khác.

XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Sầm Sơn, ngày 10 tháng 4 năm 2017

Người viết

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

0



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Sách giáo khoa vật lý 10 ban cơ bản. Nhà xuất bản giáo dục 2006

2. Sách giáo viên vật lý 10 . Nhà xuất bản giáo dục

3.Bài tập định tính và câu hỏi thực tế vật lý 10.- tác giả: Vũ Thanh

Khiết,Nguyễn Thanh Hải. Nhà xuất bản giáo dục

4. Nguyên Quang Đông. Tuyển tập câu hỏi định tính vật lý.

5. 168 câu hỏi lý thú về vật lý, NXB Văn Hóa Thông Tin 2007.



0



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Hệ thống bài tập thực tiễn để kiểm tra ,đánh giá học sinh.

Tải bản đầy đủ ngay(18 tr)

×