Tải bản đầy đủ - 21 (trang)
Một số điều kiện để thay đổi phương pháp dạy học

Một số điều kiện để thay đổi phương pháp dạy học

Tải bản đầy đủ - 21trang

về tầm quan trọng của phơng pháp dạy học, vẫn còn suy nghĩ

lệnh lạc Ăn cơm chúa, múa tối ngày

Với sự phát triển và xu thế phát triển kinh tế, văn hoá giáo

dục nh hiện nay thì ngời thầy ( ngời cô) phải coi giáo dục là

nghề Sáng tạo nhất . cao quý nhất Nhằm đào tạo ra lớp ngời

mới có khả năng tích cực, chủ động, sáng tạo, có khả năng hành

động độc lập và có sự tìm tòi, khám phá, đam mê trong cuộc

sống. Chính vì thế ngời thầy phải vắt óc suy nghĩ, sáng tạo

không ngừng để nâng cao chất lợng bài dạy.

2.3 - Về trình độ:

- Cần nâng cao trình độ của ngời thầy. Cần nâng cao

trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, làm chủ đợc trình độ

chuyên môn, đổi mới phơng pháp dạy học.

2.4- Về thiết bị dạy học :

- Cần đầu t thiết bị dạy học nói chung và cho tiểu học nói

riêng phục vụ cho học tập nhất là thông tin nghe nhìn về cuộc

sống xã hội .

2.5 Về nhận thức của cha mẹ học sinh và học sinh:

Nh trớc đây hiện tợng cha mẹ cho con đi học tức là khóan

cho thầy cô, việc quan tâm chăm sóc con học hành còn ít. Từ

khi đất nớc đổi mới, kinh tế phát triển thì việc đầu t cho con

cái học hành đợc tiến bộ rõ rệt, ý thức học tập của học sinh đã

tiến bộ, chăm lo đến việc học hành hơn. Không còn học sinh bỏ

học nữa.

3. Những khó khăn của thầy và trò khi dạy môn tập làm

văn.

a. Những khó khăn của thầy.



5



Trong dạy học thực tế không mấy khi có ngời dạy thao giảng

một tiết tập làm văn bởi tiết tập làm văn là văn bản nói và viết .

Để thực hành một văn bản nói và viết ở cả giáo viên và học sinh

đều khó đạt vì mức độ sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt của

chúng ta còn cha chú trọng. Việc sắp xếp, chọn từ, chọn lọc ý

cha chặt chẽ, cha liên kết . Việc tiếp cận với việc đổi mới phơng

pháp dạy học đối với một số giáo viên là khó khăn vì thực tế hiện

nay chất lợng giáo viên tiểu học của ta cha đồng đều. Dạy tập

làm văn cho học sinh theo chơng trình mới là phải dạy theo hớng

tích cực, tăng một số thủ thuật để đòi hỏi học sinh tiếp nhận

đợc kiến thức đó theo khuynh hớng phát triển của chính mình.

Ngời giáo viên dạy học theo hớng tích cực này không đợc áp đặt

mà phải có đủ trình độ để xoay chuyển các tình huống mà

học sinh có thể đặt ra. Chính vì vậy ngơì giáo viên tiểu học

mạng một chức năng đa năng. Muốn dạy tốt môn tập làm văn

thì chính ngời giáo viên phải có chất văn. Có kiến thức về Tiếng

Việt một cách chắc chắn. Biết cách mở, dẫn, dắt học sinh

trong học tập, biết cách tạo tình huống, không nên phụ thuộc

hoàn toàn vào sách hớng dẫn, cần chú ý đến đối tợng học sinh ở

địa bàn mình dạy và phân chia thời gian cho hợp lý.

* Nói tóm lại để đáp ứng đợc mục tiêu dạy học phân môn tập

làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung theo phơng pháp

dạy học mới thì việc đầu tiên là ngời giáo viên phải đạt kiến

thức chuẩn và trên chuẩn. Việc thứ hai là nếu ngời giáo viên chỉ

có trong tay vẻn vẹn hai quyển sách: Sách giáo khoa và sách hớng

dẫn thì việc dạy học sẽ không nâng cao đợc hiệu quả. Tất nhiên

một ngời giáo viên khi chuẩn bị bài trên lớp không nhất thiết phụ

thuộc vào các quy trình đã bày sẵn trong sách hớng dẫn mà các



6



mẫu thiết kế đó chỉ là cái sờn, là cơ sở để giáo viên tổ chức

một giờ dạy theo chơng trình mới.

b. Những khó khăn của trò.

Đối với chơng trình môn tập làm văn lớp 3 (chơng trình mới)

đòi hỏi các em phải hình thành đợc 4 kỹ năng: nghe , nói, đọc,

viết, các em phải biết kết hợp vận dụng các kiến thức, các thông

tin trong cuộc sống hàng ngày vào học tập mà thực tế là nói và

viết.

Ngoài việc làm quen với các văn bản đơn giản, biết cách sử

dụng sắp xếp từ ngữ , sắp xếp các câu, các hình ảnh hoặc

hành văn, câu văn phải bộc lộ đợc cảm xúc.

Học sinh tiếp thu còn thụ động theo phơng pháp cũ cha mạnh

dạn trong học tập , cha thật chủ động sáng tạo, việc nghe nhìn

các thông tin thì nhiều nhng việc diễn đạt các thông tin thì lại

kém .

* Từ những quan điểm trên rút ra thực tiễn, đó là do đặc thù

của nghề dạy học mà thầy giáo có cả một khỏang trời riêng. Ngời

thầy thoải mái lựa chọn các phơng pháp dạy học cho từng môn ,

từng phần đặc biệt là phù hợp với đối tợng. Chính vì vậy cần có

sự đổi mới về phơng pháp dạy học và tránh khuynh hớng lệch lạc

về đổi mới phuơng pháp mà chuẩn bị hớng nó vào những

điểm sau:

- Tạo điều kiện cơ hội để học sinh đợc nghĩ, đợc làm, đợc

thể hiện qua tiết học. Ngời thầy bằng nghệ thuật dẫn dắt của

mình giúp học sinh tự giải quyết vấn đề đặt ra. Cao hơn nữa

là ngời thầy để học sinh đợc phát biểu tự nhận xét , đánh giá ý

kiến của bạn...Lúc này thầy giáo chỉ đóng vai trò là trọng tài.

Chuẩn bị các công việc của giáo viên đó là



7



chuẩn bị việc và



giao việc cho học sinh. Đây chính là công việc khó nhất ,

nghệ thuật nhất. Nếu cả giáo viên và học sinh đều làm tốt

khâu chuẩn bị việc và giao việc có nghĩa là đã chuẩn bị xong

phơng án dạy học.

Chuẩn bị các phơng tiện cần thiết, các trang thiết bị nghe

nhìn...Chuẩn bị các bài tập, đề kiểm tra , để phát huy tích

cực của học sinh, hớng học sinh tìm tòi khám phá. Bên cạnh đó

thầy cô cần đánh giá cao những bài viết có tính sáng tạo. Ngoài

ra giáo viên còn có thể tìm tòi ra những loại đề mà học sinh

không sử dụng các tài liệu để chép lại đợc một cách thuần tuý

và máy móc mà bắt buộc học sinh phải đầu t suy luận và tự

mình giải quyết lấy.

Tôi nghĩ rằng đối với học sinh tiểu học nói chung , học sinh lớp

3 nói riêng thì khi viết, khi kể về nội dung một chủ đề nào đó

mà các em đã xem, hoặc đợc trực tiếp làm thì ắt hẳn bài tập

làm văn đó sẽ tự nhiên hơn, mang tính trẻ con hơn.

II. các biện pháp giúp học sinh lớp 3 thực hành tốt bài tập làm văn viết.



Để giúp học sinh viết tốt một bài tập làm văn giáo viên cần

bồi dỡng cho các em những kiến thức cần thiết sau:

- Bồi dỡng học sinh từ các môn học khác làm tiền đề giúp học

sinh học tốt phân môn tập làm văn.

Là giáo viên tiểu học hiện nay, việc dạy theo các phân môn

là rất ít mà đại đa số giáo viên của các trờng vừa là giáo viên

chủ nhiệm vừa là giáo viên giảng dạy tất cả các phân môn. Vì

vậy việc bồi dỡng học sinh ngay trong các giờ học khác, giúp các

em chắt lọc các kiến thức , vận dụng vào trong tiết tập làm văn

là rất cần thiết. Các môn học này nó sẽ bổ trợ cho môn tập làm

văn, giúp các em có kiến thức để (nói, viết )trong giờ tập làm

văn.

8



- Bồi dỡng các em thông qua cuộc sống và giao tiếp .

Trong cuộc sống ở gia đình, nhà trờng và xã hội, các em thờng đợc giao tiếp với rất nhiều ngời, với rất nhiều tầng lớp trong

xã hội, vì vậy các em sẽ học hỏi đợc rất nhiều điều, rất nhiều

các kiến thức khác nhau, cách giao tiếp khác nhau, cách ứng xử

khác nhau, cách nhìn nhận khác nhau, cách nghe ngóng các

thông tin khác nhau, cách học tập khác nhau...Giáo viên cần giúp

đỡ các em xác định đợc kiến thức mà các em vận dụng vào học

tập. Qua cuộc sống hiện tại mà các em đang tiếp xúc, môi trờng

xã hội giúp các em am hiểu hơn, tò mò hơn và thích khám phá

về lợng kiến thức mà mình cần tìm tòi, từ đó giúp các em có

những hình ảnh vận dụng nó vào học tập nh cách dùng từ đặt

câu hoặc cách nói năng, phục vụ cho nói và viết hay nói một

cách khác là phục vụ cho môn tập làm văn.

- Bồi dỡng học sinh ngay trong môn Tiếng Việt và trong giờ tập làm

văn



Nh chúng ta đã biết môn Tiếng Việt gồm các phân môn

nh: tập đọc, kể chuyện, chính tả, tập viết, luyện từ và câu,

tập làm văn. Các phân môn đó có quan hệ mật thiết với nhau.

Trong đó phân môn tập làm văn kết tinh các điều ấy bởi thế

muốn dạy tốt phân môn tập làm văn thì cần dạy tốt các phân

môn học khác.

Hiện nay việc dạy tập làm văn cho học sinh lớp 3 có các

biện pháp chung là:



1.Hớng dẫn học sinh làm bài tập.

- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập ( bằng câu hỏi, bằng

lời giải thích).

- Giúp học sinh chữa một phần của bài tập làm mẫu



9



- Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét kết quả, rút ra điểm

cần ghi nhớ về tri thức.

2.Đánh giá kết quả thực hành luyện tập ở lớp, hớng dẫn

hoạt động nối tiếp.

Việc đánh giá kết quả thực hành luyện tập ở lớp tức là hớng

dẫn học sinh nhận xét kết quả của bạn, tự đánh giá kết quả của

bản thân. Giáo viên tóm tắt và nhận xét chung. Hớng dẫn hoạt

động tiếp nối nhằm củng cố kết quả thực hành luyện tập ở lớp

( viết bài ở nhà, thực hành giao tiếp ngoài lớp học, sử dụng kỹ

năng đã học vào thực tế cuộc sống).

* Qua các biện pháp trên tôi thấy chơng trình 2000 đã có

những điểm thay đổi rõ rệt, sự thay đổi đó đợc thể hiện

ngay trên mục tiêu của phân môn tập làm văn lớp 3. Tuy nhiên ở

mỗi kiểu bài của phân môn tập làm văn nó cũng có những biện

pháp khác nhau.

Chơng trình tập làm văn lớp 3 chỉ đòi hỏi học sinh vận

dụng những kiến thức đã học, vận dụng những hiểu biết về thế

giới xung quanh, về những thông tin đợc cập nhật hàng ngày

vào việc thực hành luyện tập về Tiếng việt qua cách dùng từ

đặt câu, liên kết câu thành đoạn văn, bài văn ngắn. Qua đó

rèn kỹ năng cơ bản nh nói, viết. ở mỗi đề bài tập làm văn thờng

kèm theo câu hỏi gợi ý , coi đó là cái sờn để học sinh làm bài.

Vậy : Muốn rèn học sinh làm tốt một bài tập làm văn miệng

thì cần đạt đợc mục đích sau:

- Rèn kỹ năng nói cho học sinh theo yêu cầu của phân môn Tiếng

việt.

- Chuẩn bị trực tiếp hay gián tiếp cho bài tập làm văn theo chơng trình.



10



- Rèn về mặt t duy và ngôn ngữ cho học sinh

- Chú trọng diễn tả đứng, đủ, rõ ý bằng lời văn tự nhiên.

- Quan tâm đến cách trình bày mạch lạc.

*Muốn rèn học sinh viết tốt một bài tập làm văn cần lu ý các

yêu cầu sau:

- Rèn học sinh cách nắm vững yêu cầu đề bài.

- Rèn viết những câu văn sinh động , gợi cảm, chân thật.

- Rèn viết đoạn đảm bảo tính liên kết, lô gíc, chặt chẽ về ý.

- Rèn viết bài văn có bố cục, có lời văn phù hợp với yêu cầu, nội

dung và thể loại.

Sau đây là một số biện pháp dạy riêng cho từng loại kiểu bài và

một số ví dụ cụ thể:



* Biện pháp dạy văn kể chuyện:

Nh chúng ta đã biết hiện nay dạy học theo phơng pháp

đổi mới là tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh. Khi dạy

học sinh viết văn kể chuyện giáo viên cần lu ý phát triển kỹ năng

nói, nghe và viết cho học sinh qua kỹ năng độc thoại, đối thoại,

nghe...Củng cố, mở rộng và tích cực hoá vốn từ ngữ, phát triển

t duy hình tợng và t duy lô gíc. Nâng cao sự cảm nhận về hiện

thực đời sống qua nội dung câu chuyện cần kể . Bồi dỡng tình

cảm, trau dồi hứng thú học tập, đem lại niềm vui trong học tập

cho các em.

Khi dạy tập làm văn kể thì học sinh phải biết kể theo một

trình tự nhất định. Tuy nhiên học sinh không cần kể rập khuôn

máy móc mà sáng tạo theo ý của mình.

Khi dạy kiểu bài văn kể chuyện giáo viên cần làm tốt các

yêu cầu sau:

- Giao việc ( phân công) chuẩn bị việc từ tiết học trớc cho

tiết học sau.

11



- Dạy tốt các tiết học ( tập đọc, kể chuyện, luyện từ và

câu....) xoay quanh chủ điểm của môn học tuần đó.

- Nội dung bài cần đợc làm sáng tỏ ở tiết miệng. Giáo viên

tổ chức, điều khiển hoạt động học của học sinh. Xác định rõ

trọng tâm đề bài ( loại văn gì? Kể gì ?). Chuyện bắt đầu nh

thế nào? Xảy ra ở đâu? Lúc nào? Diễn biến ra sao? Kết thúc

thế nào? Em thấy công việc ấy ra sao?). Cách tổ chức hớng dẫn

học sinh làm bài tập ( đa các câu hỏi gợi ý ở sách giáo khoa làm

điểm tựa). Học sinh trao đổi, thảo luận để đi đến thống nhất

nội dung cần làm, cần diễn đạt. Cần chú trọng kỹ năng làm bài:

Tổ chức cho học sinh nêu qua nhiều hình thức nh: Trao đổi,

tập nói. Tổ chức trò chơi nh sắp xếp ý , liên kết câu.

- ở tiết viết bài học sinh phải kể lại bằng lời lẽ của mình viết

thành đoạn văn, bài văn đúng ngữ pháp và có quan hệ về ý với

nhau.

Ví dụ: Khi dạy tiết tập làm văn ( hãy viết bài kể lại một trận thi

đấu thể thao mà em dã có dịp xem) Tuần 29

Để có đợc sản phẩm tức ( kết quả) tốt nhất ta cần thực hiện

tốt các yêu cầu sau:

- Giao việc cho học sinh về nhà chuẩn bị bài theo yêu cầu

của đề trên ( từ cuối tuần 27)

- Dạy tốt các bài tập đọc , kể chuyện, luyện từ và câu... của

tuần 28, 29 (chủ điểm thể thao). để học sinh nắm đợc nội

dung các câu chuyện về thể thao, sự sôi nổi hào hứng của việc

thi đấu và kết quả của cuộc thi.

- Nội dung cần đợc làm rõ ở tiết miệng: Tổ chức, điều khiển

hoạt động học của học sinh giúp học sinh xác định đợc: Trọng

tâm đề bài ( loại văn kể, kể về một trận thi đấu thể thao mà



12



em đã có dịp xem) Từ đó huy động vốn sống, sự hiểu biết của

các em về thể thao khi làm bài. Nội dung cần kể ( giáo viên đa

các câu hỏi gợi ý sách giáo khoa làm điểm tựa .

+ Đó là môn thể thao nào?

+ Em tham gia hay chỉ xem thi đấu ?

+ Buổi thi đấu đợc tổ chức ở đâu? Khi nào?

+ Em cùng xem với những ai?

+ Buổi thi đấu đợc diễn ra nh thế nào?

+ Kết quả ra sao?

+ Cảm nghĩ của em?

Học sinh trả lời các câu hỏi, sau đó sắp xếp ý, liên kết

câu để hoàn thành một bài làm miệng có mở đầu, diến biến,

kết quả. Ngoài việc gợi mở theo trình tự câu hỏi gợi ý giáo viên

cần yêu cầu học sinh làm bài theo sự sáng tạo là thay đổi thứ tự

các câu hỏi , nhng nội dung bài kể vẫn không bị xáo trộn và khi

kể để học sinh nhận xét đánh giá lẫn nhau. Giáo viên đứng

giữa điều khiển và làm trọng tài mọi hoạt động của trò để đi

đến đích chung là biết cách làm bài, biết cách sửa chữa

những gì mà mình cha làm đợc.

- ở tiết viết bài khi hớng dẫn học sinh làm bài tập giáo viên

không quên cho học sinh xác định lại trọng tâm đề bài, nêu

nhanh dàn bài hoặc cần sửa chữa bổ sung gì vào dàn bài đã

chuẩn bị sau đó mới viết bài.

Qua thực hiện biện pháp trên tôi thấy kết quả viết bài của

học sinh rất khả quan. Bài viết của các em rất phong phú. Nhiều

môn thể thao đã đợc các em kể ra nh: Bóng đá, bóng chuyền,

cầu lông ....Nội dung bài viết tuy ngắn gọn nhng vẫn đầy đủ

đợc các hành văn, vẫn thể hiện đợc tinh thần thi đấu thể thao



13



quyết liệt. Đặc biệt nội dung bài viết của các em đã thể hiện

đợc sự hứng thú, phấn khởi và sự hâm mộ về thể thao. Chính

vì thế số bài viết đạt yêu cầu là 100% trong đó tỷ lệ khá giỏi

là 60%.

*Biện pháp dạy văn miêu tả:

Theo chơng trình cải cách giáo dục dạy theo biện pháp vận

dụng các giác quan kết hợp với tởng tợng và liên tởng để quan sát

hình dạng, mầu sắc, tên gọi...

- Hoàn cảnh xuất hiện chú ý tới đặc điểm của vật đó.

- Nêu rõ mối quan hệ với con ngời .

- Trả lời các câu hỏi và sắp xếp bài văn cho mạch lạc.

ở chơng trình mới này tôi nghĩ nó vẫn đợc áp dụng song có

điều giáo viên cần hớng dẫn cho học sinh cách quan sát tinh tờng, sắp xếp ý theo ý tởng của các em để bài văn có hình ảnh,

có trật tự theo sáng tạo của các em.

Ngoài biện pháp trên tôi còn chia nhóm, chia tổ, cho học

sinh đánh giá, góp ý bài lẫn nhau một phần tạo không khí học

tập, một phần tạo sự ganh đua mà tích cực trong học tập. Học

sinh cần thể hiện sự cảm xúc của mình.

Việc đánh giá kết quả luyện tập thực hành của các em dựa

vào bài làm cụ thể. Đó là sản phẩm của qúa trình học tập. Vì

vậy cần nhận xét một cách chính xác, rõ ràng.

*Biện pháp dạy văn viết th:

Đây là kiểu văn mới đối với học sinh lớp 3 chơng trình

2000. Vì vậy biện pháp chủ yếu vẫn là hớng dẫn học sinh ngay

vào bài tập. Thực hành các bài ấy qua cách giới thiệu bài tập đọc

đã học, giáo viên hớng dẫn gợi ý.

- Cách viết th ra sao?



14



- Giáo viên trình bày dạng văn viết th: đầu th, nội dung bức

th và phần cuối th.

- Khi dạy phần văn viết th cho học sinh lớp 3 giáo viên cần

nhắc nhở học sinh cách trình bày theo mẫu. Nội dung bức th

phải thể hiện đợc tình cảm của mình. Cách dùng từ ngữ phải

phù hợp với từng đối tợng mình viết th thăm hỏi

Ví dụ: - Khi viết th thăm hỏi ông bà, cha mẹ...( là ngời bề

trên cần phải thể hiện sự quý mến, kính trọng, lễ phép.) Đối với

bạn bè thì thể hiện tình cảm chân thành, thân thiết...

- Ngoài phần viết th còn tập cho học sinh viết phong bì th,

- Đối với yêu cầu để đánh giá bài văn viết th ở lớp 3 chúng ta

cần đánh giá phần hình thức nhiều hơn phần nội dung vì bớc

đầu các em làm quen với dạng văn mới.

* Biện pháp dạy văn nhật dụng.

Văn nhật dụng đợc đa vào chơng trình học đối với học

sinh lớp 3 là một điều mà tôi rất tâm đắc. Tôi nghĩ rằng điều

này rất thiết thực với học sinh lớp 3. Lên lớp 4 các em đã là các Đội

viên đợc đeo chiếc khăn quàng đỏ. Vì vậy nội dung viết những

lá đơn phục vụ cho lứa tuổi các em là hợp lý. Tất nhiên ở chơng

trình mới này biện pháp chủ yếu vẫn là hớng dẫn các em thực

hành qua một bài viết đơn, mẫu có sẵn. Trên cơ sở đó giáo

viên giúp học sinh nắm vững cách viết một lá đơn. Phần nào

phải viết theo mẫu , phần nào không nhất thiết viết theo mẫu.

Vì sao?

Để đánh giá kết quả thực hành một bài văn viết đơn theo

mẫu thì học sinh phải nắm và viết đủ nội dung lá đơn chỗ

nào viết theo mẫu và chỗ nào không viết theo mẫu , câu văn và

cách dùng từ cần chính xác.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số điều kiện để thay đổi phương pháp dạy học

Tải bản đầy đủ ngay(21 tr)

×