Tải bản đầy đủ - 57 (trang)
DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM ĐỘ TUỔI ĐI HỌC

DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM ĐỘ TUỔI ĐI HỌC

Tải bản đầy đủ - 57trang

23



được cải thiện, khi trẻ sinh thiếu cân hoặc suy dinh dưỡng nặng lúc sơ sinh [17].Tuy nhiên

sự suy dinh dưỡng lúc 2 tuổi sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển sau này, vì vậy nên cần chú

trọng các biện pháp ngăn ngừa bệnh thấp còi ở trẻ nhỏ ngay từ giai đoạn đầu [18].

Trong công việc và học tập, cả bữa ăn sáng và bữa ăn trưa đều rất quan trọng nó giúp

cung cấp và cải thiện kết quả học tập ảnh hưởng đến sự phát triển của quốc gia [19]. Tránh

không cho trẻ bị đói sẽ giúp trẻ em học tập tốt hơn. Những trẻ em đang đói sẽ khó tập Các

số liệu về sự phát triển của trẻ em ở độ tuổi đi học được điều tra và khảo sát một cách chi

tiết ở các quốc gia trong khoảng thời gian dài, điều đó thật không dễ dàng. Các dữ liệu

chính xác nhất lấy được từ cuộc tổng điều tra chiều cao ở trẻ em tiểu học bắt đầu từ năm

1979 ở 11 quốc gia ở Mỹ Latinh và vùng Caribean [20][21].Số liệu điều tra chiều cao của học

sinh đã được sử dụng để đưa ra các kế hoạch, chính sách, đánh giá và vận động về dinh

dưỡng ở Hoa Kỳ [22] .Thông tin này cho phép chính phủ và các tổ chức và cơ sở khác phát

hiện sự chậm phát triển, để sàng lọc các vấn đề và đưa ra cách khắc phục, nhắm tới mục

tiêu là ổn định xã hội, an ninh dinh dưỡng và phát triển con người[20][21][23-31].

Tình trạng thấp còi rất phổ biến ở Mỹ Latinh và vùng Caribean. Trong bốn nước điều

tra và khảo sát, hơn một phần ba trẻ em trong trường học bị thấp còi. Ở Guatemala và

Peru tỷ lệ thấp còi tương ứng là 50,6% và 48%. Guatemala, Honduras, và Peru cho thấy

tỷ lệ thấp còi cao hơn 20 lần so với dự kiến. Tỷ lệ cũng tương tự cũng được tìm thấy ở

khu vực “Quan hệ đối tác vì sự phát triển của trẻ em” (Partnership for Child

Development) trong nghiên cứu ở 5 quốc gia (Ghana, India, Indonesia, Tanzania và Việt

Nam) về bệnh thấp còi ở học sinh [32].

Xu hướng thấp còi của trẻ học sinh được minh họa trong biểu đồ 3.1 và 3.2 cho Costa

Rica và Honduras. Ở Costa Rica, thấp còi giảm từ 20,4% xuống còn 7,5% trong giai đoạn

1979-1997, cho thấy một sự cải thiện tích cực trong việc đáp ứng nhu cầu và nâng cao

chất lượng cuộc sống, bao gồm chăm sóc y tế và các dịch vụ khác. Giai đoạn này được

xem xét và thực hiện bằng cách bảo đảm một chính sách về thực phẩm và an ninh dinh

dưỡng cao, đó là kết quả trong việc cải thiện cuộc sống của công dân trong giai đoạn kinh

tế kém phát triển. Tại Honduras, tỉ lệ thấp còi tăng vì sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh

tế xã hội của đất nước trong khoảng thời gian này.



24



Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ thấp còi của học sinh tiểu học Costa Rica 1979-97 [21]



Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ thấp còi của học sinh tiểu học Honduras 1986-97 [21].



25



Tỷ lệ thấp còi ở bé trai cao hơn bé gái ở nhiều nước (biểu đồ 3.3). Sự chênh nhau này

có thể là do hoạt động liên quan đến giới tính. Trên hầu hết các nước, các chàng trai từ

16-19 tuổi dành nhiều thời gian tham gia các hoạt động bên ngoài hơn nữ, và giới nữ sử

dụng thực phẩm khi ở nhà hơn nam.



Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ thấp còi ở bé trai và bé gái tại một số quốc gia [20][21][23-31].

Tỷ lệ thấp còi cũng phân chia theo vùng nông thôn và thành phố. Học sinh sống ở

nông thôn có tỷ lệ thấp còi cao hơn trẻ em sống ở thành thị. Tại Peru, thấp còi gần như

gấp đôi và phổ biến ở khu vực nông thôn so với thành thị. Điều này phản ánh sự phân biệt

đối với nhu cầu đời sống, y tế và dịch vụ khác.

Với một lượng ít dữ liệu từ các vùng phát triển trên thế giới đã ngăn chặn sự suy dinh

dưỡng ở trẻ độ tuổi đi học. Ngoài ra dữ liệu thu thập được là một phương tiện để đạt được

những mục tiêu cung cấp các chất dinh dưỡng (đặc biệt là Iron và Iod), và điều trị bệnh về

dinh dưỡng và các vấn đề về sức khỏe.



26



2.2 Nhu cầu các chất dinh dưỡng

2.2.1.1 Nhu cầu carbohydrate

Carbohydrate là nguồn năng lượng chính trong khẩu phần của trẻ em. Thừa

carbohydrate trong khẩu phần làm hạ thấp sử dụng các chất dinh dưỡng khác, ảnh hưởng

không có lợi đến sức khoẻ của trẻ. Một số chuyê gia cho rằng nhu cầu trẻ em hàng ngày

về carbohydrate nên khoảng 10–15g/kg cân nặng. Ở trẻ em 13-15 tuổi hoạt động chân tay

nhiều nên có khoảng 16g/kg cân nặng. Năng lượng do carbohydrate đưa vào khẩu phần

nên ít nhất vào khoảng 50% tổng số năng lượng của khẩu phần.

2.2.1.2 Nhu cầu protein

Protein thức ăn là thành phần tạo hình chính. Nhu cầu protein thay đổi theo tuổi, trẻ

càng bé nhu cầu protein tính theo cân nặng càng cao. Theo FAO, nhu cầu protein cho trẻ

em từ 1 - 3 tuổi là 4 g/kg cân nặng. Ở các lứa tuổi khác cũng có sự khác nhau tương tự,

nguyên nhân là do:

Thiếu protein ảnh hưởng tới sức lớn, phát triển, sức đề kháng của cơ thể, gây tình

trạng suy dinh dưỡng do thiếu protein. Ngược lại một lượng thừa protein lại có ảnh hưởng

không có lợi đối với cấu trúc và chức phận tế bào và xúc tiến quá trình lão hoá.

Về chất lượng protein nói chung các tác giả đều cho rằng nếu phối hợp thích đáng

giữa protein động vật và thực vật thì nhu cầu các acid amin cần thiết sẽ được thoả mãn

đầy đủ.

2.2.1.3 Nhu cầu lipid

Nhu cầu lipid được tính theo tuổi, tuổi càng bé nhu cầu lipid tính theo trọng lượng cơ

thể càng cao. Theo tiêu chuẩn của Viện Dinh Dưỡng Liên Xô, hàm lượng lipid và protein

nên ngang nhau trong khẩu phần trẻ em và thanh thiếu niên.

2.2.1.4 Nhu cầu vitamin

Vitamin là thành phần chính trong khẩu phần của trẻ. Do nhu cầu phát triển và

chuyển hoá vật chất cao nên nhu cầu vitamin ở trẻ em tính theo trọng lượng cao hơn đối

với người lớn. Ở chế độ ăn của trẻ, cần cung cấp đầy đủ vitamin A và C. Nếu các nguồn

thức ăn không đầy đủ các thành phần này, có thể cho các vitamin dưới dạng chế phẩm



27



tổng hợp hoặc thông qua vitamin hoá thực phẩm. Cần cung cấp thêm vitamin D cho trẻ vì

khẩu phần ăn bình thường không thoả mãn nhu cầu trẻ em về vitamin này.

2.2.1.5 Nhu cầu chất khoáng

Các chất khoáng giữ vai trò quan trọng đối với cơ thể đang phát triển. Tuy nhiên yêu

cầu chung về chúng vẫn còn chưa đầy đủ. Khi thiếu Calcium trẻ em ngừng lớn, răng phát

triển không bình thường.



4. DINH DƯỠNG Ở TUỔI VỊ THÀNH

NIÊN

3.1 Giới thiệu

Tuổi vị thành niên (11 tuổi đến 21 tuổi) là một giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em trở

thành người lớn. Trong những thay đổi nội tiết tố tuổi vị thành niên là thúc đẩy tăng

trưởng chiều cao. Trong giai đoạn này sự tăng trưởng chiều cao nhanh hơn bất cứ thời

điểm nào trong cuộc sống sau khi sinh ngoại trừ năm đầu tiên [33].

Cơ thể của đứa trẻ bắt đầu một giai đoạn thay đổi nhanh chóng về kích thước và hình

dạng trong khoảng 10 tuổi ở nữ và 12 tuổi ở nam. Đây được gọi là "phát triển mạnh mẽ vị

thành niên." Trong bốn năm tới, một cô gái bình thường có thể tăng trưởng 10 inch cao

hơn và đạt được 40-50 pounds. Một cậu bé trung bình có thể tăng trưởng 12 inch cao hơn

và đạt được 50-60 pounds. Đồng thời, hình dáng cơ thể bắt đầu thay đổi một cách đáng

kể.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các cô gái có chế độ dinh dưỡng tốt có vận tốc tăng trưởng

cao hơn và đạt kinh nguyệt sớm hơn cô gái suy dinh dưỡng, người đã phát triển chậm hơn

thường kinh nguyệt bị trì hoãn [34]. Cuối cùng, hai yếu tố này có xu hướng cân bằng, và

tổng chiều cao đạt được trong thời thiếu niên có thể tương tự cho thanh thiếu niên cũng

được nuôi dưỡng và suy dinh dưỡng chiều cao lớn cuối cùng đã đạt được [35][36].

Những người phụ nữ thành niên thấp bé có nguy cơ sinh ra những đứa trẻ bị SSD bào

thai (có cân năng sơ sinh thấp). Những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp (dưới 2500 g) lại có



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM ĐỘ TUỔI ĐI HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(57 tr)

×