Tải bản đầy đủ - 24 (trang)
QUÁ TRÌNH TRÍCH LY

QUÁ TRÌNH TRÍCH LY

Tải bản đầy đủ - 24trang

phê có hàm lượng caffeine thấp, trích ly chất đắng (α-acid) từ hoa houblon trong

sản xuất hoa cao, trích ly các cấu tử hương từ các loại trái cây và gia vị hoặc để

tách chiết các chất có hoạt tính sinh học từ thảo mộc. So với các lưu chất siêu tới

hạn khác, CO2 siêu tới hạn thường được chọn làm dung môi trong các quá trình

trích ly vì nó có nhiều ưu điểm như không gây cháy, không gây độc và giá thành

thấp.

1.2.

BẢN CHẤT CỦA QUÁ TRÌNH

Trích ly là quá trình tách một chất hoặc một số chất tan trong chất lỏng hay

trong chất rắn bằng một chất lỏng khác – gọi là dung môi. Nếu trong quá trình tách

chất hòa tan trong chất lỏng bằng một chất lỏng khác thì gọi là trích ly lỏng – lỏng.

Nếu quá trình tách chất hòa tan trong chất rắn bằng một chất lỏng thì gọi là trích ly

rắn – lỏng.



Hình 1.1: Sơ đồ nguyên lý trích ly lỏng-lỏng.



3



Hình 1.2: Sơ đồ nguyên lý trích ly rắn-lỏng.

1.3.

CẤU TẠO VÀ VAI TRÒ CỦA MỘT SỐ THIẾT BỊ TRÍCH LY

Các thiết bị trích ly rất đa dạng. Chúng có thể hoạt động theo phương pháp gián

đoạn hoặc liên tục. Trong thiết bị hoạt động gián đoạn người ta phân biệt hai ra hai

loại: trích ly một bậc và trích ly nhiều bậc.

1.3.1. Thiết bị trích ly một bậc



Hình 1.3: Thiết bị trích ly một bậc.

Thiết bị có dạng hình trụ đứng, phí bên dưới có một đáy lưới (3). Người ta sẽ

cho nguyên liệu vào cửa đỉnh (1). Dung môi được bom vào thiết bị qua hệ thông

phân phối (4) nằm phía dưới đỉnh. Dung môi sẽ chảy qua lớp nguyên liệu theo

chiều từ trên xuống. Dịch trích được tháo ra ngoài qua cửa (6). Người ta có thể cho

dịch trích hồi lưu trở lại thiết bị nhờ bơm (9) và van (7), Khi kết thúc quá trình

trích ly, bã được tháo ra khỏi thiết bị qua cửa (8). Người ta sẽ bơm nước và dung

dịch chất tẩy rửa vào để vệ sinh thiết bị qua hệ thông phân phôi (4). Nước vệ sinh

sẽ được tháo ra ngoài cửa (11).

Thiết bị trích ly một bậc hiện đang được sử dụng trong sản xuất thức uống từ

thảo mộc, trà hòa tan, cà phê hòa tan và dầu béo ở quy mô nhỏ.

1.3.2. Thiết bị trích ly nhiều bậc



4



Hình 1.4: Sơ đồ nguyên lý hệ thông trích ly nhiều bậc ngược dòng.

Trong hệ thống trích ly nhiều bậc ngược dòng, dòng nguyên liệu và dung môi

chuyển động ngược chiều nhau. Hệ thống gồm có tất cả 14 thiết bị và được ký

hiệu từ số 1 đến số 14. Dung môi sẽ chuyển động ngược chiều kim đống hồ, còn

các thiết bị trích ly sẽ chuyển động theo chiều kim đồng hồ. Dung môi mới nạp

vào hệ thống tại thiết bị số 13, còn dịch trích được tháo ra khỏi hệ thống từ thiết bị

số 9. Các thiết bị số 10, 11 và 12 đặc trưng cho các công đoạn tháo bã ra khỏi thiết

bị, vệ sinh thiết bị và nạp nguyên liệu vào thiết bị.

Hệ thống thiết bị trích ly nhiều bậc đang được sử dụng rộng rãi ở quy mô công

nghiệp để sản xuất trà hòa tan, cà phê hòa tan và đường saccharose từ củ cải

đường. Mỗi thiết bị trong hệ thông trên có thể chứa đến 10 tấn nguyên liệu.



5



1.3.3.



Thiết bị trích ly liên tục



Hình 1.5: Thiết bị trích ly liên tục.

Thiêt bị trích ly liên tục - thiết bị Hildebrandt. Thiết bị có hai tháp (1) và (2)

dạng hình trụ đứng. Chúng nối với nhau bởi một ống hình trụ nằm ngang (3) ở phía

bên dưới. Bên trong thiết bị có các vis tải để vận chuyển nguyên liệu. Nguyên liệu

được nạp liên tục vào thiết bị theo cửa (4) và được vis tải đưa xuống bên dưới tháp

(2) để qua ống hình trụ nằm ngang (3) rồi theo tháp (1) đi lên phía trên. Cuối cùng,

nguyên liệu được tháo ra ngoài thiết bị qua cửa (5). Dung môi sẽ được nạp vào

thiêt bị qua cửa (6) trên tháp (1) và sẽ chuyển động đi xuống phía bên dưới, qua

ống hình trụ ngang (3) rồi theo tháp (2) đi lên, cuối cùng dịch trích được tháo ra

ngoài qua cửa chắn (7). Như vậy, dòng nguyên liệu và dung môi chuyển động

ngược chiều nhau. Trục vis trong thiết bị chuyển động xoay với tốc độ trung bình

1vòng/phút.

Hiện nay, thiết bị trích ly Hildebrandt được sử dụng để trích ly saccharose từ củ

cải đường và trích ly chất béo từ nguyên liệu thực vật giàu béo. Năng suất thiết bị

có thể lên đến 40 tấn nguyên liệu/giờ.



6



1.3.4.



Thiết bị trích ly sử dụng CO2 siêu tới hạn



Hình 1.6: Sơ đồ hệ thồng trích ly sử dụng CO2 siêu tới hạn.

Hệ thống gồm có các bộ phận chính như sau: bình trích ly (1), bình phân riêng

chất chiết và CO2 (2), thiết bị ngưng tụ CO 2 (3), thiết bị trao đổi nhiệt (4) và bơm

CO2 (5). Đầu tiên, người ta sẽ cho nguyên liệu cần trích ly vào bình (1). Sau đó,

nạp CO2 vào bình (1) để đuổi không khí trong bình (1) ra môi trường bên ngoài.

Tiếp theo, CO2 được bơm (5) đưa qua thiết bị trao đổi nhiệt (4) rồi đi vào bình trích

ly (1). Người ta sẽ hiệu chỉnh nhiệt độ và áp suất trong bình (1) để CO 2 đạt đến

trạng thái siêu tới hạn. Khi kết thúc quá trình trích ly, hỗn hợp trong bình (1) sẽ

được đưa qua bình phân riêng (2). Bằng cách thay đổi áp suất, người ta sẽ tách

được CO2 và chất chiết. Khi đó, CO 2 sẽ được đưa vào bình (3) và được làm lạnh để

tái sử dụng cho mẻ sản xuất tiếp theo, còn chất chiết sẽ được tháo ra khỏi bình (2)

theo cửa đáy. Song song đó, người ta sẽ tháo bã nguyên liệu và vệ sinh bình trích ly

(1) trước khi thực hiện mẻ trích ly tiếp theo.

1.4.

MỤC ĐÍCH, VÀ ỨNG DỤNG ( ĐỐI TƯỢNG, SẢN PHẨM TIÊU

BIỂU)

1.4.1. Mục đích

Quá trình trích ly được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm với 3

mục đích chính:

Khai thác (là mục đích chủ yếu): thu nhận các cấu tử cần thiết theo yêu cầu

của từng quá trình từ nguyên liệu.

Ví dụ:

 Trích ly các nguyên liệu dạng rắn như hạt dầu; các nguyên liệu tinh dầu (

lá, rễ, cây, hoa hoặc quả);

 Trích ly các loại củ ( củ cải đường);

 Trích ly chất đắng

 Trích ly caffeine từ trà và cà phê

7



Trích ly chất béo từ thực vật trong công nghệ sản xuất dầu béo, gan cá

Trích ly chất màu từ quả sim, củ nghệ, củ dền, lá cẩm,…

Trích ly mía ( một phần).

Quá trình trích ly có thể phối hợp với các quá trình khác để nâng cao hiệu suất

thu sản phẩm như phối hợp quá trình ép + trích ly, trích ly + chưng cất,…

- Chuẩn bị cho các quá trình tiếp theo:

Ví dụ:

 Ngâm các loại hạt ( thóc, các loại đậu, ngô,…) trước khi chế biến;

 Ngâm các loại củ ( khoai, sắn,…) làm yếu các liên kết trong vật liệu;

 Trích ly một số chất độc từ nguyên liệu hòa vào dung môi ( như hòa tan

HCN trong sắn, măng vào nước).

- Thu nhận sản phẩm:

Ví dụ:

 Tách penicillin từ dung dịch lên men;

 Sản xuất nước chấm bằng phương pháp ủ ẩm trích ly;

 Trích ly trong quá trình sản xuất cà phê hòa tan;

 Trích ly khi ngâm các loại quả;

 Trích ly các chất có hoạt tính sinh học khi ngâm các nguyên liệu thảo

mộc dùng làm thuốc bổ, thuốc chữa bệnh.

1.4.2. Ứng dụng

Một số ví dụ cho quá trình trích ly:

Trích ly saccharoze trong công nghệ sản xuất đường từ củ cải đường.

Trích ly các chất chiết từ trà, cafe hoà tan

Trích ly dầu gấc

Trích ly curcumin từ củ nghệ vàng: Hoạt chất Curcumin là chất có tác

dụng sinh học rất quý có khả năng chữa các bệnh nan y ( chống oxy hóa,

phòng và chống ung thư, chống viêm, chữa bệnh tim mạch, bệnh đái

tháo đường, bảo vệ tế bào thần kinh,…)

Trích ly chất màu từ phế liệu rau trái: Tách carotenoid trong phế liệu bã

cà chua, bã xoài; tách flavonoid trong bã nho; tách chlorophy trong lá

xanh;… khi sử dụng chất màu tự nhiên để nhuộm màu chẳng những cải

thiện được hình thức bên ngoài mà con tăng giá trị dinh dưỡng của thực

phẩm.

Trích ly tinh dầu hoa nhài phục vụ cho kĩ thuật ướp chè,…

1.5.

CÁC BIẾN ĐỔI CỦA NGUYÊN LIỆU TRONG QUÁ TRÌNH TRÍCH

LY

1.5.1. Biến đổi hóa lí

Biến đổi hóa lí đươc coi là biến đổi quan trọng nhất trong quá trình trích ly. Đó

là sự hòa tan của các cấu tử từ nguyên liệu (pha rắn) vào dung môi( pha lỏng). Tùy

theo tính chọn lọc của dung môi mà thành phần và hàm lượng các cấu tử hòa tan

thu được trong dịch trích sẽ thay đổi. Thông thường cùng với các cấu tử cần thu

nhận thì dịch trích còn chứa một số cấu tử hòa tan khác.









8



Trong quá trình trích ly còn có thể xảy ra những biến đổi về pha khác như sự

bay hơi, sự kết tủa… ví dụ trong sản xuất cà phê hòa tan, quá trình trích li có thể

làm tổn thất một số cấu tử hương có trong nguyên liệu. Điều này ảnh hưởng không

tốt đến mùi của bột cà phê hòa tan. Hoặc trong sản xuất đường saccharoso một số

hợp chất keo bị kết tủa trong quá trình trích ly, tuy nhiên biến đổi này lại góp phần

làm sạch dịch trích và giúp cho quá trình kết tinh saccharoso diễn ra dễ dàng hơn.

1.5.2. Biến đổi vật lí

Sự khuếch tán là biến đổi vật lí quan trọng trong quá trình trích ly. Các phân tử

chất tan sẽ dịch chuyển từ tâm nguyên liệu đến vùng bề mặt và dịch chuyển từ

vùng bề mặt nguyên liệu vào dung môi. Các phân tử dung môi sẽ khuếch tán từ

vùng bên ngoài nguyên liệu vào bên trong cấu trúc các mao dẫn của nguyên liệu.

Sự khuếch tán sẽ giúp cho quá trình chiết rút các cấu tử cần trích ly từ nguyên liệu

vào dung môi xảy ra nhanh và triệt để hơn. Động lực của sự khuếch tán là do sự

chênh lệch nồng độ.

1.5.3. Biến đổi hóa học

Trong quá trình trích ly có thể xảy ra các phản ứng hóa học giữa các cấu tử

trong nguyên liệu. Tốc độ của các phản ứng hóa học sẽ gia tăng khi chúng ta thực

hiện quá trình trích ly ở nhiệt độ cao. Ví dụ trong quá trình trích ly glycerid đậu

nành, nếu sử dụng nhiệt đôh cao sẽ làm cho chất béo bị oxy hóa. Hiện tượng này

làm cho dịch trích chưa nhiều tạp chất và gây khó khăn cho quá trình tinh sach tiếp

theo.

1.5.4. Biến đổi hóa sinh và sinh học

Khi sử dụng dung môi là nước và thực hiện quá trình trích ly ở nhiệt đô phòng

thì một số biến đổi hóa sinh và sinh học cũng có thể xảy ra. Các enzyme trong

nguyên liệu sẽ xúc tác phản ứng chuyển hóa những cơ chất có nguồn gốc từ

nguyên liệu. Hệ vi sinh vật trong nguyên liệu sẽ phát triển. Tuy nhiên nếu chúng ta

thực hiện quá trình trích ly ở nhiệt độ cao thì các biến đổi hóa sinh và sinh học xảy

ra không đáng kể. Tóm lại trong quá trình trích ly có thể xảy ra nhiều biến đổi khác

nhau. Tùy thuộc vào phương pháp trích ly và các thông số công nghệ mà mức độ

của các biến đổi sẽ thay đổi

1.6.

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

Hàm mục tiêu của quá trình trích ly là hiệu suất thu hồỉ cấu tử cần chiết tách.

Đó là tỷ lệ giữa hàm lượng cấu tử trong dung dịch trích so với hàm lượng của nó

trong nguyên liệu đem trích ly. Giá trị hiệu suất thu hồí cấu tử càng cao thì việc

thực hiện quá trình trích ly sẽ đạt hiệu quả kinh tế càng cao. Cần lưu ý là trong một

số trường hợp, cấu tử cần thu nhận không phải là một chất mà là một hỗn hợp gồm

nhiều hợp chất hóa học khác nhau có trong nguyên liệu đem trích ly. Các yếu tố

ảnh hưỡng đến quá trình trích ly bao gồm:

Kích thước của nguyên liệu: kích thước nguyên liệu càng nhỏ thì diện tích

bề mặt tiếp xúc giữa nguyên liệu và dung môi sẽ càng lớn. Do đó, việc trích

ly các cấu tử từ nguyên liệu vào dung môi sẽ trở nên dễ dàng hơn. Tuy

nhiên, nếu kích thước của nguyên liệu quá nhỏ thì chi phí cho quá trình

9



-



-



-



-



-



nghiền xé nguyên liệu sẽ gia tăng. Ngoài ra, việc phân riêng pha lỏng và pha

rắn khi kết thúc quá trình trích ly sẽ trở nên khó khăn hơn. Bằng phương

pháp thực nghiệm, các nhà sản xsuất cần xác định kích thước phù hợp ứng

với từng loại nguyên liệu đem trích ly.

Tỷ lệ khối lượng giữa nguyên liệu và dung môi: với cùng một lượng nguyên

liệu, nếu ta tăng lượng dung môi sử dụng thì hiệu suất trích ly sẽ tăng theo.

Đó là do sự chênh lệch nồng độ của cấu tử cần trích ly trong nguyên liệu và

trong dung môi sẽ càng lởn. Tuy nhiên, nếu lượng dung môi sử dụng quá

lớn thì sẽ làm loãng dịch trích. Khi đó, các nhà sản xuết phải thực hiện quá

trình cô đặc hoặc xử lý dịch trích bằng phương pháp khác để tách bớt dung

môi. Như vậy, chúng ta cần xác định tỷ lệ phù hợp giữa khối lượng nguyên

liệu và dung môi. Ví dụ như trong công nghệ sản xuất thức uống từ thảo

mộc, tỷ lệ khối lượng giữa nguyên liệu và dung môí (nước) thường dao

động trong khoảng 1/6-1/10.

Nhiệt độ trích ly: khi tăng nhiệt độ, các cấu tử sẽ chuyển động nhanh hơn,

do đó sự hòa tan và khuếch tán của cấu tử từ nguyên liệu vào dung môi sẽ

được tăng cường. Ngoài ra, khi nhiệt độ tăng, độ nhớt của dung môi sẽ

giảm, dung môi dễ dàng xuyên qua lớp nguyên liệu và làm cho diện tích tiếp

xúc bề mặt giữa nguyên liệu và dung môi sẽ càng lớn. Tuy nhiên, việc tăng

nhiệt độ trích ly sẽ làm tăng chi phí năng lượng cho quá trình, đồng thời có

thể xảy ra một số phản ứng hóa học không mong muốn trong dịch trích và

sự tổn thất các cấu tử hương sẽ gia tăng. Do đó, các nhà sản xuất cần chọn

nhiệt độ trích ly tôi ưu tùy theo từng trường hợp cụ thể. Ví dụ như trong

công nghệ sản xuất saccharose từ củ cải đường, nhiệt độ trích ly thường dao

động trong khoảng 55-85°C. Còn trong công nghệ sản xuất trà hòa tan, quá

trình trích ly được thực hiện ở 70-90°C (Brennan và cộng sự, 1990).

Thời gian trích ly: khi tăng thời gian trích ly thì hiệu suất thu hồi chất chiết

sẽ gia tăng. Tuy nhiên, nếu thời gian trích ly quá dài thì hiệu suất thu hồi

chất chiết sẽ khồng tăng thêm đáng kể. Các nhà sản xuất cần xác định thời

gian tối ưu cho quá trình trích ly bằng phương pháp thực nghiệm.

Tốc độ của dòng dung môi chảy qua lớp nguyên liệu trong thiết bị trích ly:

nếu dòng dung môi được bơm với tốc độ cao vào thiết bị chứa nguyên liệu

cần trích ly thì sẽ làm giảm đi kích thước lớp biên bao bọc xung quanh

nguyên liệu, đây là nơi tập trung các cấu tử hòa tan. Do đó, tốc độ trích ly

các cấu tử từ nguyên liệu sẽ gia tăng. Tùy thuộc vào hình dạng thiết bị, kích

thước của lớp nguyên liệu trong thiết bị mà tốc độ dòng dung môi bơm vào

thiết bị sẽ được lựa chọn sao cho thời gian trích ly là ngắn nhất và hiệu suất

hồi chất chiết là cao nhất.

Áp suất: trong phương pháp trích ly bằng lưu chất siêu tới hạn, áp suất và

nhiệt độ là hai yếu tố ảnh hưởng quyết định đến hiệu suất thu hồi chất chiết.

Thông thường, khi tăng áp suất và nhiệt độ thì quá trình trích ly diễn ra càng



10



nhanh và hiệu suất trích ly sẽ tăng theo. Tuy nhiên, việc tăng áp suất sẽ làm

tàng chi phí vận hành và giá thành thiết bị cũng tăng cao.

2. CHƯNG CẤT

2.1.

BẢN CHẤT CỦA QUÁ TRÌNH

Chưng cất là một trong những quá trình được áp dụng từ lâu đời và đã được

nghiên cứu rất kĩ lưỡng. Nó được áp dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm,

sinh học và hóa chất để chế biến rượu, cồn, tinh dầu, dầu thực vật, điều chế oxi, lọc

dầu….

Chưng cất là quá trình dùng nhiệt tách các hỗn hợp lỏng thành các cấu tử riêng

biệt dựa vào sự khác nhau về độ bay hơi của các cấu tử trong hỗn hợp (▲t 0 sôi )

bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần quá trình bay hơi và ngưng tụ, trong đó vật chất

đi từ pha lỏng vào pha hơi và ngược lại.

Khi chưng cất ta thu được nhiều sản phẩm và thường có bao nhiêu cấu tử thì ta

lấy bấy nhiêu. Muốn có quá trình chưng cất đạt hiệu quả cao thì ta phải hiểu tính

chất của hỗn hợp lỏng sẽ đem chưng cất. Hỗn hợp lỏng rất đa dạng, ở đây ta đề cập

đến các hỗn hợp lỏng hai thành phần vì chúng là những đối tượng của quá trình

chưng cất gặp rất nhiều trong thực tế.

Nếu xét hệ đơn giản chỉ có 2 cấu tử thì ta thu được 2 sản phẩm:

Sản phẩm đỉnh chủ yếu gồm cấu tử có độ bay hơi lớn và một phần rất ít

các cấu tử có độ bay hơi bé

Sản phẩm đáy chủ yếu gồm cấu tử có độ bay hơi bé và một phần rất ít

Ví dụ: hệ benzen và cloroform thì:

Sản phẩm đỉnh chủ yếu là benzen

Sản phẩm đáy chủ yếu là cloroform



Hình 2.1: Thiết bị chưng cất tinh dầu.



11



Hình 2.2: Máy chưng cất nhiều cột quy mô công nhiệp.



12



2.2.

MỤC ĐÍCH

• Mục đích chuẩn



















bị: thô chế,làm sạch các tạp chất thô



Ví dụ:

Các chất keo, nhựa, bẩn…trong quy trình sản xuất rượu hoặc thô

chế các nguyên liệu có tinh dầu.

Quá trình chưng cất có mục đích công nghệ chủ yếu khai thác để tách và

nâng cao nồng độ của một cấu tử nào đó trong hỗn hợp.

Ví dụ:

Trong sản xuất ethanol, dịch sau khi lên men có nồng độ ethanol

tương đối thấp ( tùy thuộc vào chủng nấm men và thông số kĩ thuật

cũng như phương pháp lên men, nồng độ ethanol có thể đạt giá trị khác

nhau,nhưng thường không vượt quá 20% v/v). Do đó để thu hồi

ethanol có nồng độ cao, người ta thực hiện quá trình chưng cất.

Tương tự, trong sản xuất các loại rượu cao độ như whisky hay

cognac, để nâng cao nồng độ ethanol đạt giá trị như mong muốn, quá

trình chưng cất được áp dụng.

Mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm, đó là quá trình tinh chế cồn, tinh

chế các loại tinh dầu có giá trị kinh tế cao.

Ví dụ:

Thu hồi các tinh dầu từ các nguồn thực vật khác nhau như: tinh dầu

bưởi, tinh dầu hoa hồng….

Ngoài ra quá trình chưng cất có mục đích hoàn thiện sản phẩm

Ví dụ:

Trong sản xuất ethanol,dịch lên men chứa khá nhiều các tạp chất dễ

bay hơi như aldehyde,ketone, rượu bậc cao, acid hữu cơ….chúng là

sản phẩm phụ của quá trình lên men. Trong quá trình chưng cất, người

ta sẽ tách các tạp chất này để làm tăng độ tinh sạch của ethanol thành

phẩm

Trong sản ta thường gặp các phương pháp chưng sau:

 Chưng đơn giản: dùng để tách hỗn hợp gồm các cấu tử có độ bay hơi

rất khác nhau. Phương pháp này thường dùng để tách sơ bộ và làm

sạch cấu tử khỏi tạp chất.

 Chưng cất đơn giản có hồi lưu:trong phương pháp này, sản phẩm đỉnh

được hồi lưu một phần về thùng nguyên liệu nhằm nâng cao hiệu suất

thu hồi cũng như độ tinh sạch của sản phẩm.

 Chưng cất lôi cuốn bằng hơi nước: mục đích là để chưng cất lôi cuốn

tinh dầu hoặc các hợp chất tạo hương từ rau quả, trái cây…hoặc dùng

để chưng cất hai chất lỏng không hòa tan vào nhau. Nếu các cấu tử cần

thu hồi có nhiệt độ hóa hơi cao hoặc nhạy cảm với nhiệt độ, quá trình

được thực hiện ở điều kiện chân không.

 Chưng cất phân đoạn bằng hệ thống chưng cất liên tục

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

QUÁ TRÌNH TRÍCH LY

Tải bản đầy đủ ngay(24 tr)

×