Tải bản đầy đủ - 119 (trang)
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANHCỦA NHÀ MÁY THUỐC LÁ 27/7

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANHCỦA NHÀ MÁY THUỐC LÁ 27/7

Tải bản đầy đủ - 119trang

24



triệu đồng lên 7 tỷ đồng và đạt 75,5 tỷ đồng vào năm 2001.

Kể từ năm 2002, Công ty bắt đầu thực hiện chiến lược đa dạng hóa hoạt động kinh

doanh. Đến tháng 12/2008, sau nhiều nổ lực, Công ty đã xây dựng được 14 đơn vị trực

thuộc và nâng số vốn chủ sở hữu nhà nước tại công ty lên 31,805 tỷ đồng.

Nhà máy thuốc lá 27/7 là một trong những đơn vị trực thuộc đầu tiên của Công ty

27/7, được thành lập vào ngày 15/4/1995, với tên gọi là Xưởng sản xuất thuốc lá 27/7.

Hiện nay Nhà máy thuốc lá 27/7 là đơn vị hạch toán nội bộ trực thuộc Công ty 27/7, là

đơn vị kinh doanh chiến lược quan trọng nhất của công ty, nắm giữ một khối lượng lớn

tài sản cũng như tạo ra phần lớn lợi nhuận và tài trợ cho các hoạt động kinh doanh khác

của công ty.

2.1.2 Cơ cấu sản phẩm, ngành nghề:

Trong những năm đầu thế kỷ 21, hoạt động sản xuất kinh doanh thuốc lá dần đi

vào ổn định và tạo được nhiều lợi nhuận. Công ty bắt đầu chuyển dần sang đa dạng hóa

hoạt động kinh doanh nhằm tận dụng triệt để nguồn lực dư thừa đã bắt đầu xuất hiện và

nhằm làm gia tăng giá trị. Hiện nay Công ty 27/7 là đơn vị thực hiện việc sản xuất kinh

doanh với một số ngành nghề sau:

 Sản xuất thuốc lá điếu, gia công chế biến nguyên liệu thuốc lá.

 Sản xuất rượu, nước tinh khiết đóng chai.

 Gia công cơ khí và cơ khí chính xác.

 Gia công in và sản xuất bao bì giấy.

 Kinh doanh khu nghỉ dưỡng cao cấp, nhà hàng, du lịch lữ hành.

 Sản xuất, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ.

Mặc dầu đã bắt đầu thực hiện chiến lược đa dạng hóa từ năm 2002 nhưng giai đoạn

từ 2002 – 2005 chủ yếu là giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản, trang bị máy móc thiết bị,

cải tiến công nghệ và chuẩn bị đội ngũ quản lý điều hành. Vì vậy giai đoạn từ 2002 đến

2005, hoạt động kinh doanh chủ yếu cũng vẫn chỉ ở lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuốc

lá, in bao bì và may mặc. Bắt đầu từ năm 2006, các ngành sản xuất kinh doanh khác như

sản xuất, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ, du lịch lữ hành, kinh doanh nhà hàng mới

bắt đầu có doanh thu và tăng trưởng đều đặn. Tuy vậy, sản xuất và kinh doanh thuốc lá

đóng bao vẫn là lĩnh vực kinh doanh chính và đang hổ trợ tài chính cho các lĩnh vực khác

của công ty.



25



Bảng 2.1: Cơ cấu sản phẩm thuốc lá trong tổng giá trị SP của công ty (triệu đồng)



Stt

1



2



CƠ CẤU SẢN PHẨM



2006



2007



2008



2009



Giá trị sản phẩm thuốc lá :



83.646



112.306



36.290



77.801



Tỷ trọng trong tổng giá trị:



52.7%



55%



24.2%



38%



Giá trị SP phi thuốc lá:



75.046



91.744



113.791



126.770



Tỷ trọng trong tổng giá trị:



47.3%



45%



75.8%



62%



Nhìn vào bảng 2.1 có thể thấy kể từ năm 2006, một số ngành kinh doanh phi thuốc

lá của của công ty đã hoàn thành giai đoạn đầu tư, bắt đầu giai đoạn tạo ra giá trị. Giá trị

sản xuất của ngành thuốc lá vì vậy giảm dần trong tổng giá trị sản phẩm của công ty tuy

nhiên vẫn còn giữ một tỷ trọng cao và giữ ổn định ở mức bình quân 80 tỷ đồng/ năm.

2.1.3 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh, hiệu suất tài chính:

Bảng 2.2 cho thấy, ngoại trừ tăng trưởng âm vào năm 2008 do ảnh hưởng của khủng

hoảng tài chính toàn cầu, các năm khác Công ty đều có mức tăng trưởng khá.

Bảng 2.2 : MỘT SỐ CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH

STT



CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH



I



Các chỉ số về tăng trưởng

Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu

Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập

Các chỉ số về doanh lợi

Lợi nhuận biên tế (EBIT/R)

EBIT/R Nhà máy thuốc lá

Lợi nhuận trên vốn CSH (ROE)

Chỉ số về khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán hiện thời

Khả năng thanh toán nhanh

Chỉ số đòn cân nợ

Chỉ số nợ trên toàn bộ vốn



II



III



IV



2006



2007



2008



2009



129%

140%



74%

109%



136%

147%



1,97%

2,55%

9,11%



2,17%

2,64%

12,02%



2,84%

7,36%

12,05%



3,28%

3,82%

16,81%



2,039

0,873



1,821

0,831



1,956

0,712



2,039

0,910



3,81



4,31



3,61



3,6



Nguồn: Tính toán của tác giả từ Báo cáo tài chính năm 2006 – 2009

Theo các chuyên gia tài chính, khi nền kinh tế ổn định, môi trường kinh doanh tương

đối tốt, các doanh nghiệp Việt Nam thường có tỷ lệ vay trên vốn khoảng 2 lần và lợi

nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm trong khoảng



26



25% - 30%. Trong khi đó ROE của công ty 27/7 chỉ ở mức 16% là khá thấp. Tuy nhiên

hiệu suất tài chính thấp là do một số ngành kinh doanh khác đang trong quá trình đầu tư,

chưa mang lại hiệu quả. Riêng ngành thuốc lá vẫn đảm bảo được hiệu suất trung bình so

với các doanh nghiệp khác. Đòn cân nợ ở mức trung bình 3,5 là khá cao so với mức 2 lần

của ngành, cũng cho thấy tiềm ẩn nhiều rủi ro tài chính.

Nhìn vào biểu đồ lợi nhuận biên (hình 2.1) rõ ràng mặc dầu lợi nhuận biên của

công ty và nhà máy tăng đều đặn nhưng vẫn ở mức thấp. Điều này cho thấy khả năng

chịu đựng của công ty nói chung, nhà máy thuốc lá 27/7 nói riêng đối với các cú shock

về chi phí là khá thấp. Biểu đồ trên cũng cho thấy khả năng kiểm soát chi phí của nhà

máy thuốc lá luôn cao hơn so với toàn công ty và khả năng tăng lợi nhuận chủ yếu phải

dựa vào việc đẩy mạnh tăng trưởng doanh thu.

7,36



3,82

2,55



1,97



2006



2,64



2,17



2007

Nhà máy thuốc lá



3,28



2,84



2008



2009



Toàn công ty



Hình 2.1: Biểu đồ so sánh lợi nhuận biên (%)



Năm 2008, xảy ra hiện tượng đặc biệt khi lợi nhuận biên tế của nhà máy thuốc lá

tăng đột biến trong khi tăng trưởng doanh thu âm, doanh lợi trên vốn cũng giảm so với

các năm trước. Nguyên nhân của tình trạng trên là do trong năm 2008, nhà máy chuyển

chiến lược sang phân khúc sản phẩm trung cấp. Do đó, dù lượng tiêu thụ giảm, doanh thu

giảm nhưng lợi nhuận biên vẫn tăng cao. Đây cũng là một gợi ý chiến lược cần lưu ý.

2.2 Phân tích các cơ sở xây dựng chiến lược của nhà máy thuốc lá 27/7:

2.2.1 Tình hình thị trường thuốc lá điếu toàn cầu và Việt Nam:

Lịch sử sản xuất và phát triển ngành thuốc lá trên thế giới được đánh dấu vào năm

1492 khi Christopher Columbus tìm ra châu Mỹ, ông đã ghi chép lại việc người bản xứ

hút một loại lá cuộn tròn gọi là Tobaccos. Tiếp theo cuộc phát kiến địa lý tìm ra châu

Mỹ, các cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa của người châu Âu và sự phát triển nhanh



27



chóng của thương mại và công nghiệp đã đưa việc trồng và chế biến cây thuốc lá phổ

biến trên khắp thế giới. Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 sản xuất thuốc lá đã nhanh chóng

phát triển và hình thành ngành công nghiệp với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng

cao. Sang đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền. Các công ty

nhỏ lần lượt phá sản hoặc bị thâu tóm vào các tập đoàn có kỹ thuật tiên tiến, năng suất và

chất lượng sản phẩm cao, chiếm lĩnh thị trường thế giới và từ đó hình thành nên các tập

đoàn thuốc lá đa quốc gia như : Bristish American Tobacco (BAT), Phillip Moris (Hoa

Kỳ), Japan Tobacco (Nhật Bản), Imperial và Gallaher (Anh), Antadis Franco – Spanish

(Pháp – Tây Ban Nha) … Ngày nay các công ty đa quốc gia này chiếm phần lớn thị

thường thuốc lá điếu toàn cầu.

Khác

26%



Imperial Tobacco

9%

Japan Tobacco

17%



Altria

5%



Phillip Morris

International

24%



British American

Tobacco

19%



Hình 2.2: Thị phần thuốc lá điếu toàn cầu năm 2008

Nguồn: Tobacco Merchant Association

Từ giai đoạn 2000 – 2002 tổng sản lượng thuốc lá điếu toàn cầu có xu hướng giảm

từ 1 – 2%. Giai đoạn 2002 – 2007 tăng nhẹ ở mức 1,6%/ năm. Và theo Euromonitor

International tốc độ tăng trưởng của thị trường thuốc lá điếu toàn cầu giai đoạn 2007 –

2012 sẽ giảm nhẹ so với giai đoạn trước và ở mức tăng 1,2%/năm. Mặc dầu chính sách

kiểm soát thuốc lá toàn cầu ngày càng tăng như cấm hút thuốc nơi công cộng, cấm quảng

cáo thuốc lá, qui định cảnh báo sức khỏe trên bao bì cũng như việc tăng giá sản phẩm …

nhưng số lượng thuốc lá tiêu thụ toàn cầu vẫn tiếp tục tăng tương đồng với tốc độ tăng

dân số. Theo Tobacco Merchant Association tổng sản lượng thuốc lá điếu trên toàn thế

giới năm 2008 là 6.200 tỷ điếu và tỷ lệ người hút thuốc lá toàn cầu là 29,1% người

trưởng thành.



28

6.300,0

6.200,0

6.100,0

6.000,0

5.900,0

5.800,0

5.700,0

5.600,0

5.500,0

5.400,0

Tỷ điếu



2002



2003



2004



2005



2006



2007



2008



5.668,5



5.732,5



5.845,2



5.918,0



6.013,9



6.140,9



6.200,0



Hình 2.3



Tổng sản lượng thuốc lá điếu toàn cầu



Nguồn: Tobacco Merchant Association

Hiện nay châu Á là khu vực sản xuất thuốc lá điếu hàng đầu thế giới. Trong đó

Trung Quốc là quốc gia sản xuất và tiêu thụ thuốc lá lớn nhất thế giới với sản lượng năm

2007 trên 2.142 tỷ điếu, số người hút thuốc lá vào khoảng 364 triệu người với tỷ lệ

33,1% người trưởng thành.

Hoa Kỳ là nước sản xuất thuốc lá thứ 2 trên thế giới, sản lượng năm 2007 là 450 tỷ

điếu. Giai đoạn 2002-2007 sản lượng thuốc lá điếu của Hoa Kỳ giảm bình quân

5,9%/năm tuy nhiên giá trị thị trường lại tăng 3,9% trong giai đoạn này do giá bán sản

phẩm tăng trung bình 10,4%. Những nước sản xuất thuốc lá điếu nhiều nhất khu vực

châu Âu là Nga, Đức, Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha và Pháp.



2.142



450



Trung Quốc



Hoa Kỳ



410



Nga



239



Indonesia



214



Đức



189



Nhật Bản



Hình 2.4 Các quốc gia sản xuất thuốc lá điếu hàng đầu thế giới 2007 (tỷ điếu)

Nguồn: Tobacco Merchant Association

Ở Việt Nam, thuốc lá là ngành công nghiệp ra đời từ rất sớm so với các ngành



29



khác. Vào những năm đầu thế kỷ 20, nước Pháp đã tổ chức chương trình khai thác thuộc

địa, tập trung vào việc khai thác than, mở đồn điền cao su và một số nhà máy công

nghiệp nhẹ, trong đó có công nghiệp thuốc lá. Khởi đầu cho công nghiệp thuốc lá Việt

Nam là sự ra đời của hãng thuốc lá MIC – Manufacture Indochinoise de Cigarettes (1929

– Nhà máy thuốc lá Sài Gòn) và hãng J Batos (1936 – Nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội) .

Kể từ sau năm 1975, ngành thuốc lá Việt Nam bao gồm một số xí nghiệp nguyên

liệu thuốc lá và 04 nhà máy sản xuất thuốc lá điếu ở cả 2 miền Nam, Bắc. Đến năm 1981

ngành thuốc lá được tổ chức lại gồm 2 Xí nghiệp liên hợp: Xí nghiệp Liên hợp Thuốc lá

I ở miền bắc (Nhà máy thuốc lá Thăng Long và Nhà máy thuốc lá Bắc Sơn) và Xí nghiệp

Liên hợp Thuốc lá II ở miền nam (Nhà máy thuốc lá Sài Gòn (MIC) và Nhà máy thuốc lá

Vĩnh Hội (Bastos)). Tổng sản lượng thuốc lá bao toàn ngành năm 1981 là 540,3 triệu bao

Năm 1985, nhằm thực hiện thống nhất tổ chức ngành thuốc lá, tập trung đầu mối

quản lý để thực hiện chương trình mục tiêu phát triển sản xuất thuốc lá, Hội đồng Bộ

trưởng đã ban hành nghị định 108/HĐBT về việc thành lập Liên hiệp các Xí nghiệp

Thuốc lá Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Xí nghiệp Liên hợp Thuốc lá I và Xí nghiệp Liên

hợp Thuốc lá II. Tổng sản lượng thuốc lá bao toàn ngành năm 1985 là 948,7 triệu bao.

Kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ 6 (tháng 12/1986), thực hiện đường lối đổi mới, nền

kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường đã tạo cơ hội và động lực cho sự phát triển của

ngành thuốc lá, đồng thời cũng đặt ngành thuốc lá trước những thách thức to lớn của cơ

chế thị trường. Trong thời gian này, ngoài Liên hiệp thuốc lá Việt Nam, nhiều nhà máy

và xí nghiệp sản xuất thuốc lá địa phương được thành lập đã đưa sản lượng thuốc lá tăng

gần gấp đôi trong giai đoạn 1991 – 1995, đạt 2.041,02 triệu bao và đóng góp cho ngân

sách 1.461,623 tỷ đồng (1995)1. Bên cạnh những thành quả đạt được, những yếu kém bất

cập cũng bắt đầu nảy sinh như do cơ sở pháp lý về quản lý sản xuất kinh doanh thuốc lá

hầu như chưa có, dẫn đến tình trạng sản xuất thiếu kiểm soát, kém hiệu quả, chất lượng

sản phẩm không đảm bảo, việc tranh mua, tranh bán, làm hàng giả, nhập lậu tràn lan, khó

kiểm soát.

Từ năm 2000, quan điểm quản lý ngành thuốc lá của chính phủ là không đầu tư

mới, đầu tư mở rộng qui mô, nâng công suất các cơ sở sản xuất sản phẩm thuốc lá vượt



1



Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam



30



tổng năng lực sản xuất 7,214 tỷ bao/ năm1. Bên cạnh việc hạn chế tổng năng lực sản

xuất, Chính phủ đã có một loạt các biện pháp nhằm sắp xếp lại ngành thuốc lá như: (1)

ban hành một loạt các văn bản qui phạm pháp luật khẳng định : thuốc lá là mặt hàng

không khuyến khích phát triển nhưng cũng không phải là ngành cấm sản xuất, kinh

doanh. Nhà nước kiểm soát các nguồn cung cấp, độc quyền quản lý sản xuất, kinh doanh,

xuất nhập khẩu và tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá; (2) Thực hiện định hướng thu gọn và

tập trung về một vài đầu mối sản xuất kinh doanh thuốc lá trong cả nước thông qua việc

giải thể 7 doanh nghiệp sản xuất thuốc lá. Sáp nhập 5 nhà máy thuốc lá.

Kể từ năm 2005, việc sản xuất thuốc lá tại Việt Nam chủ yếu thực hiện qua 17

doanh nghiệp trong nước (trong đó có 02 doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài) thuộc

06 đầu mối: (1) Tổng công ty thuốc lá Việt Nam, (2) Tổng công ty Công nghiệp Sài gòn,

(3) Tổng công ty Khánh Việt, (4) Tổng công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai, (5)

Công ty dịch vụ công nghiệp và thuốc lá Bình Dương, (6) Công ty 27/7 thành phố Hồ

Chí Minh. Bên cạnh các nhãn hiệu nội địa truyền thống, kể từ năm 1994, thị trường

thuốc lá Việt Nam tiếp nhận sự tham gia của các nhãn hiệu thuốc lá cao cấp nước ngoài

từ các hãng danh tiếng như British American Tobacco (SE 555, Dunhill, Pall Mall),

Japan Tobacco International (Midle Seven, Winston), Philip Morris (Marlboro), RJ

Reynolds Tobacco (Gold Coast, Salem), Rothmans (Caraven”A”, White Horse,

Everest), Sieta (Fine), Imperial Tobacco (West). Do nhà nước độc quyền sản xuất thuốc

lá điếu nên các nhãn hiệu nước ngoài xâm nhập thị trường trong nước chủ yếu dưới hình

thức hợp đồng gia công hoặc nhượng quyền thương hiệu.

Đến nay, ở Việt Nam, thuốc lá đã trở thành một ngành kinh doanh rộng lớn và có

nhiều đóng góp đối với nền kinh tế. Theo thống kê của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam, năm

2009 toàn ngành đã giải quyết việc làm cho hơn 360,000 người lao động, đóng góp 9.633

tỷ đồng cho ngân sách Nhà nước, cao thứ ba, sau dầu khí và điện lực.



1



Quyết định 1959/QĐ-BCT ngày 03/12/2007 của Bộ Công Thương.



31



10.000

8.000

6.000

4.000

2.000

0

Sản lượng (triệu bao)



2005

4.497



2006

4.075



2007

4.577



2008

4.351



2009

4.893



Nộp ngân sách (tỷ đồng)



6.017



6.085



6.338



7.529



9.633



Hình 2.5 Tình hình sản xuất kinh doanh thuốc lá điếu 2005 - 2009

Nguồn Tổng công ty thuốc lá Việt Nam



2.2.2 Đặc điểm thị trường thuốc lá Việt Nam

 Thị trường: thị trường thuốc lá Việt Nam hiện nay được phân thành 3 vùng: (1)

thị trường Miền Bắc bao gồm các tỉnh từ Nghệ An trở ra. Đối với thị trường này, tâm lý

tiêu dùng tương đối ổn định, người tiêu dùng ít thay đổi khẩu vị. Ở phân đoạn thị trường

này sản phẩm của Tổng công ty thuốc lá Việt Nam đang chiếm ưu thế. Sản phẩm cao cấp

tiêu thụ chủ yếu là Vinataba. Thuốc lá nhập lậu ít, thị trường thuốc lá Menthol đang có

chiều hướng gia tăng.

(2) Thị trường Miền Trung bao gồm các tỉnh Trung bộ và các tỉnh Cao nguyên. Đây

là thị trưởng chủ yếu của nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội, Nhà máy thuốc lá Sài Gòn. Sản

phẩm cao cấp là White Horse (BAT) do Nhà máy thuốc lá Khánh Hòa sản xuất. Nhà máy

thuốc lá 27/7 cũng chiếm một thị phần tương đối vững chắc tại một số tỉnh thuộc thị

trường này. Thuốc lá nhập lậu tiêu thụ trên thị trường này nhiều chủ yếu là Zet và Hero.

(3) Thị trường Miền Nam bao gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền đông,

miền tây Nam bộ. Đây là thị trường có tâm lý tiêu dùng dễ thay đổi nhất và lượng thuốc

lá nhập lậu tiêu thụ nhiều nhất. Thị trường Miền Nam, mà đặc biệt là tại thị trường miền

tây Nam bộ, là nơi tiêu thụ sản phẩm của hầu hết các nhà máy, từ các tổng công ty đến

các nhà máy thuốc lá địa phương; là thị trường tập trung rất nhiều chủng loại sản phẩm

và là nơi cạnh tranh diễn ra khá gay gắt. Thuốc lá cao cấp sản xuất trong nước tiêu thụ

trên thị trường này chủ yếu là thương hiệu Caraven “A” (BAT) do Nhà máy thuốc lá Bến



32



Thành sản xuất; thương hiệu 555 SE (BAT) do nhà máy thuốc lá Sài gòn sản xuất và

thương hiệu Malboro (Philip Moris) do Công ty liên doanh Vinasa Cần Thơ sản xuất.

Tại mỗi vùng miền trên, thị trường còn được phân đoạn thành thị trường đô thị và

thị trường nông thôn. Trong đó phân đoạn thị trường đô thị chiếm khoảng 30% thị phần

và tiêu thụ chủ yếu là thuốc lá cao cấp và trung cấp, bao cứng. Thị trường nông thôn

chiếm khoảng 70% thị phần, tiêu thụ chủ yếu các sản phẩm thuốc lá đầu lọc giá thấp, đầu

lọc bao mềm và không đầu lọc.

 Xu hướng tiêu dùng: kể từ năm 1999 trở đi xu hướng tiêu dùng của xã hội

chuyển đổi nhanh từ việc tiêu dùng thuốc lá không đầu lọc sang thuốc lá có đầu lọc cả về

số tuyệt đối lẫn số tương đối. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của thuốc lá đầu

lọc là 16,44% trong khi đó tốc độ giảm bình quân của thuốc lá không đầu lọc là 10,5%.

Không đầu lọc



Đầu lọc



3.786

3.264



2.958

2.411

1.794



346



1999



225



2000



205



2001



108



162

2002



2003



Hình 2.6 Cơ cấu sản phẩm thuốc lá điếu Việt Nam (triệu bao)

– Nguồn : Hiệp hội thuốc lá Việt Nam

Nhìn vào bảng cơ cấu sản lượng sản phẩm của thị trường (hình 2.6) có thể thấy sản

phẩm đầu lọc tăng rất nhanh, từ 1.794 triệu bao năm 1999 trở thành 3.786 triệu bao năm

2003, tăng 2,11 lần. Trong khi đó sản lượng thuốc lá không đầu lọc giảm nhanh từ 346

triệu bao năm 1999 giảm xuống còn 108 triệu bao, giảm gần 70%. Bên cạnh đó sản

lượng sản phẩm nhãn quốc tế cũng tăng nhưng còn ở mức thấp có thể do giá bán cao

hoặc do sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm quốc tế nhập ngoại.

 Về khẩu vị (gout): khẩu vị thuốc lá điếu biểu hiện sự ưa thích của người tiêu

dùng ở những vùng miền, có điều kiện kinh tế, khí hậu, tập quán sinh hoạt khác nhau.



33



Khẩu vị của thị trường thuốc lá Việt Nam rất đa dạng và phong phú, bao gồm gu (gout)

Anh, sản xuất từ thuốc lá Virginia vàng sấy, còn gọi là gu Virginia; gu Mỹ, sản xuất từ

thuốc lá Virginia, lá Burley và lá Oriental; gu địa phương, sản xuất từ thuốc lá Virginia

vàng sấy và nâu địa phương. Hiện nay trên thị trường gu địa phương là phổ biến nhất,

chiếm khoảng 77,3% thị phần, gu Anh chiếm khoảng 17,4% còn lại 5,4% thị phần thị

trường của gu Mỹ. Tuy nhiên gần đây, giới trẻ đang có xu hướng chuyển sang sử dụng

gu Mỹ. Gu methol cũng đang có chiều hướng gia tăng, chiếm khoảng 3,79%; xu hướng

sử dụng thuốc lá Light đang được hình thành. Dự kiến, xu hướng tăng trưởng kinh tế xã

hội ngày một cao thì sản phẩm thuốc lá phổ thông giảm, sẽ tác động đến gu địa phương

cũng giảm.

 Về quy cách chủng loại: loại phổ biến nhất tại thị trường Việt Nam là loại Kingsize (chiều dài điếu thuốc 83-88mm), bao 20 điếu. Một số loại bao cứng 10 điếu, bao

mềm 6 điếu đang được phát triển để thăm dò thị trường. Bao dẹt chỉ phát triển ở một số

loại sản phẩm (Dunhill) và chưa trở thành thông dụng. Riêng loại 100’s (100mm) chỉ có

thương hiệu Hello của Nhà máy Thuốc lá 27/7 sản xuất.

2.2.3



Tình hình nội bộ của công ty 27-7



2.2.3.1 Phân tích nguồn lực:

 Nguồn lực tài sản: do hạn chế phát triển, nên Chính phủ quy định không đầu tư mở

rộng các cơ sở sản xuất thuốc lá vượt quá tổng năng lực sản xuất tại thời điểm tháng

8/2000. Vì vậy trình độ công nghệ của ngành thuốc lá Việt Nam khá lạc hậu so với thế

giới. Chỉ ngoại trừ một số nhà máy lớn liên doanh, liên kết với các tập đoàn thuốc lá

nước ngoài để sản xuất các sản phẩm nhượng quyền như SE 555, Marlboro, Everest,

Virgina, Gold... thì trang thiết bị mới ở tầm trung bình của thế giới, nhưng cũng chỉ dùng

để sản xuất các sản phẩm nhượng quyền. Hầu hết các nhà máy còn lại, thiết bị chủ yếu

được trang bị từ những năm 60 của thế kỷ trước.

Đối với Nhà máy thuốc lá 27/7, mặt dù được thành lập từ năm 1995 tuy nhiên ban

đầu chỉ là một xưởng sản xuất thuốc lá nhỏ, việc sản xuất chủ yếu là thuê gia công từ bên

ngoài. Từ năm 1999 Nhà máy thuốc lá 27-7 mới bắt đầu tư dây chuyền sản xuất thuốc lá

tự động. Năm 2000 hoàn thành và đưa vào sử dụng dây chuyền chế biến sợi, dây chuyền

vấn điếu, ghép đầu lọc và đóng bao tự động với tổng công suất 170 triệu gói/năm. Mặt

dầu đã từng bước tự động hóa và hiện đại hóa sản xuất, tuy nhiên do bị hạn chế bởi Nghị



34



quyết 12/2000/NQ-CP ngày 14.8.2000 của Chính phủ, nên từ năm 2000 đến nay, công

suất sản xuất của Nhà máy duy trì ở vị trí thứ 11/17 đơn vị trong ngành, chỉ chiếm gần

2,5% tổng năng lực sản xuất toàn ngành và chưa đến 10% Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn,

doanh nghiệp có năng lực sản xuất lớn nhất ngành. Như đã phân tích ở trên, tuy năng lực

sản xuất nhỏ nhưng trình độ công nghệ của Nhà máy cũng tương đương với các doanh

nghiệp khác cùng ngành, đang cạnh tranh trong cùng một phân khúc thị trường.



Cty LD Vinasa

1%

Cty CNTL Bình

Dương

4%



Cty TL Đà Nẵng

2%



TCT CNTP Đồng Nai

5%

TCT Khánh Việt

8%

TCT CN Sài Gòn

8%



Nhà máy TL 27/7

2%



TCT TL Viêt Nam

70%



Hình 2.7: Năng lực sản xuất thuốc lá điếu toàn ngành (phụ lục 2)



Tháng 12 năm 2001 Nhà máy hoàn thành đầu tư và đưa vào sử dụng dây chuyền

tách cọng lá thuốc nguyên liệu với công suất 2,5 tấn/giờ. Hiện nay Nhà máy thuốc lá 277 là một trong 4 nhà máy của toàn ngành, có dây chuyền tách cọng (3 nhà máy còn lại là

Công ty cổ phần Ngân Sơn ở Bắc Ninh, Công ty cổ phần Hòa Việt ở Đồng Nai và Công

ty thuốc lá Đà Nẵng). Đây là một trong những lợi thế cạnh tranh cốt lõi của nhà máy, đặc

biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi giá nguyên liệu giảm và ngành thuốc lá Việt Nam

đang trở thành cơ sở gia công tách cọng thuốc lá cho thị trường Trung Quốc và một số

quốc gia khác.

Qua quá trình phát triển, đến nay Công ty 27-7 đã tạo dựng được một hệ thống

nhà xưởng tương đối lớn, không phải đi thuê, thuận lợi cho việc dự trữ nguyên liệu, mở

rộng qui mô sản xuất, mở rộng sang lĩnh vực chế biến nguyên liệu thuốc lá cũng như tiết

kiệm chi phí sản xuất cho Nhà máy thuốc lá 27-7. Hiện nay Công ty đang sở hữu 4 khu

mặt bằng đã được Uỷ ban nhân dân thành phố giao với tổng diện tích 42.298m2. Trong



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANHCỦA NHÀ MÁY THUỐC LÁ 27/7

Tải bản đầy đủ ngay(119 tr)

×