Tải bản đầy đủ - 87 (trang)
2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

Tải bản đầy đủ - 87trang

Để hỗ trợ các kết quả của Soenen (1993, Jose et al. (1996) ) đã kiểm tra mối

quan hệ giữa lợi nhuận và các biện pháp quản lý nhu cầu thanh khoản trên một

mẫu lớn 2718 công ty và trong khoảng thời gian dài 20 năm bằng phương pháp

hồi quy. Kết quả nghiên cứu kết luận rằng vòng quay tiền mặt thấp làm gia tăng

tỷ suất sinh lợi.

Tác giả Shin và Soenen (1998) nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân

chuyển và khả năng tạo ra giá trị cho cổ đông. Họ kiểm tra mối quan hệ này

bằng cách phân tích tương quan và hồi quy, theo ngành công nghiệp và theo quy

mô vốn. Sử dụng 58.985 công ty từ giai đoạn 1975- 1994, họ tìm thấy mối

tương quan nghịch mạnh mẽ từ giai đoạn 1975- 1994, họ tìm thấy mối tương

quan nghịch mạnh mẽ giữa thời gian của chu kỳ luân chuyển tiền mặt và khả

năng sinh lợi của công ty. Dựa vào kết quả đó , họ cho rằng một trong những

cách làm gia tăng giá trị cổ đông là giảm thời gian luân chuyển tiền mặt.

Lyroudi và Lazaridis (2000) nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ luân chuyển

tiền mặt và chỉ số thanh toán hiện hành, tỷ số thanh toán nhanh trong ngành thực

phẩm Hy Lạp. Kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng có một mối quan hệ tích

cực giữa các chu kỳ luân chuyển tiền mặt và tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số

thanh toán nhanh.

Nghiên cứu của Wang (2002), tác giả xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn

luân chuyển và hiệu quả hoạt động của công ty, giữa quản trị tính thanh khoản

và giá trị doanh nghiệp ở Nhật Bản và Đài Loan. Tác giả đã tìm ra mối tương

quan âm giữa vòng quay tiền mặt và tỷ suất sinh lợi trên tài sản và tỷ suất sinh

lợi trên vốn cổ phần, nhưng cả hai mối tương quan khá nhạy cảm với yếu tố

ngành.

Deloof (2003) đã thực hiện một nghiên cứu ở Belgium bao gồm 1009 công ty

phi tài chính với dữ liệu nghiên cứu lấy trong giai đoạn 1992-1996, với hơn

5045 mẫu quan sát. Deloof đã tìm ra mối tương quan âm giữa tỷ suất sinh lợi



gộp và các thành phần của vòng quay tiền mặt như: kỳ thu tiền bình quân, kỳ

lưu kho bình quân, kỳ thanh toán bình quân. Kết quả này hàm ý rằng: nhà quản

trị có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách giảm vòng quay tiền mặt cụ thể là giảm

kỳ thu tiền và thời gian chuyển đổi hàng tồn kho. Deloof giải thích mối tương

quan âm giữa tỷ suất sinh lợi và khoản phải trả như sau: tỷ suất sinh lợi thấp thì

lợi nhuận thấp nên thường trì hoãn việc chi trả cho các hóa đơn của họ.

Eljelly (2004) đã nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa lợi nhuận và tính

thanh khoản, được đo bằng tỷ số thanh toán hiện hành và chu kỳ luân chuyển

tiền mặt trên một mẫu của các công ty cổ phần ở Ả Rập Saudi. Sử dụng phân

tích tương quan và phân tích hồi quy nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tiêu cực

giữa tỷ suất sinh lợi và tỷ số thanh toán hiện hành. Các mối quan hệ tiêu cực là

rõ ràng hơn trong các công ty có tỷ số thanh toán hiện hành cao và chu kỳ luân

chuyển tiền mặt dài. Biến quy mô cũng được tìm thấy có ảnh hưởng đến lợi

nhuận công ty .

Tiếp theo là nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006) về mối quan hệ giữa

quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi ở Ai Cập. Hai tác giả sử dụng mẫu

nghiên cứu gồm 131 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Athens trong giai

đoạn 2001-2004 biến giả ngành công nghiệp cũng được tác giả đưa vào mô hình

và tìm thấy mối tương quan âm giữa tỷ suất sinh lợi gộp và vốn luân

chuyển. Ngoài ra tác giả còn phát hiện thêm rằng các doanh nghiệp có quy mô

lớn thì tỷ suất sinh lợi cao. Tóm lại các nhà quản trị có thể tạo ra lợi nhuận cho

công ty bằng cách quản trị chu kỳ luân chuyển tiền mặt ở mức phù hợp và đảm

bảo duy trì các thành phần của nó ở mức tối ưu.

Trong năm đó, Padachi (2006) sử dụng lợi nhuận ròng trên tổng tài sản như một

thước đo của tỷ suất sinh lợi cho một mẫu gồm 58 công ty sản xuất nhỏ ở

Mauritius trong giai đoạn 1998-2003và cũng chỉ ra rằng khoản đầu tư lớn ở

hàng tồn kho và khoản phải thu làm cho lợi nhuận thấp hơn.



Trong thời gian này, cũng có một số nghiên cứu khác như Raheman và Nasr

(2007) đã thực hiện một nghiên cứu ở Pakistan và cung cấp nhiều bằng chứng về

mối tương quan âm giữa tỷ suất sinh lợi và vòng quay tiền mặt. Họ sử dụng phân

tích hồi quy dựa trên dữ liệu mẫu gồm 94 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán

Karachi trong giai đoạn 6 năm từ 1999-2004. Ngoài ra, hai nhà khoa học đã tìm

ra bằng chứng cho thấy tỷ suất sinh lợi thì tương quan âm với tính thanh khoản

và tương quan dương với quy mô công ty.

Cùng kết luận như trên, Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2007) đã nghiên cứu

tác động của vốn luân chuyển lên tỷ suất sinh lợi của những công ty vừa và nhỏ

ở Tây Ban Nha. Họ sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng bao gồm 8872

công ty trong giai đoạn 1996-2002. Kết quả thể hiện rằng nhà quản trị có thể

gia tăng giá trị cổ phần bằng cách làm giảm kỳ thu tiền bình quân, vòng quay

hàng tồn kho theo ngày và vòng quay tiền mặt.

Samiloglo Demirgunes (2008) đã tiến hành một nghiên cứu để xem xét mối quan

hệ giữa quản lý Vốn luân chuyển và lợi nhuận. Áp dụng phân tích hồi quy đa

biến trên một mẫu của công ty sản xuất được niêm yết trên thị trường chứng

khoán Istanbul trong giai đoạn 1998 – 2007, họ đã tìm thấy rằng kỳ thu tiền bình

quân, ky luân chuyển hàng tồn kho có tác động ngược chiều đến lãi hoạt động

kinh doanh, trong khi đó tốc độ tăng trưởng doanh thu lại tác động cùng chiều

đến lãi từ hoạt động kinh doanh.

Nghiên cứu của Zariyawati et al (2009) sử dụng dữ liệu bảng gồm 1.628 công ty

- năm trong giai đoạn 1996-2006. Kết quả cho thấy có mối tương quan nghịch

biến giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và lợi nhuận công ty. Điều này cho thấy

kết quả rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền mặt sẽ làm tăng lợi nhuận.Do đó, các

nhà quản trị công ty nên quan tâm đến việc rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền mặt

đến mức tối ưu để làm gia tăng giá trị cổ đông.



Gill, Biger & Neil (2010) cũng tìm thấy mối quan hệ tồn tại giữa nợ được sử

dụng và khả năng sinh lợi của công ty là tương quan âm có ý nghĩa thống kê

trên mẫu quan sát gồm 88 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán New York cho

giai đoạn 3 năm 2005 – 2007.

Azhar và Noriza (2010) đã nghiên cứu của tác động của quản trị vốn luân

chuyển trên hiệu suất của công ty Malaysia dựa trên dữ liệu của 172 công ty

niêm yết trên thị trường chứng khoán Bursa Malaysia trong giai đoạn từ năm

2003 – 2007. Kết quả của việc phân tích hồi quy đa biến cho thấy các nhà quản

lý có thể gia tăng giá trị thị trường công ty và hiệu suất bằng cách quản trị vốn

luân chuyển có hiệu quả.

Sharma và Kumar (2011) đã nghiên cứu tác động của vốn luân chuyển lên tỷ

suất sinh lợi ở những công ty Ấn Độ với dữ liệu nghiên cứu gồm 263 công ty phi

tài chính BSE 500 niêm yết trên sàn chứng khoán Bombay từ 2002 đến 2008.

Hai nhà khoa học đã phân tích dữ liệu bằng hồi quy đa nhân tố OLS và tìm thấy

mối tƣơng quan dương giữa vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi. Điều này có

nghĩa rằng khi các công ty Ấn Độ gia tăng vòng quay tiền mặt, tỷ suất sinh lợi có

thể cao hơn. Các tác giả suy luận rằng Ấn Độ là thị trƣờng đang phát triển,

các công ty dường như sinh lợi nhiều hơn khi mở rộng chính sách bán chịu, do

đó có nhiều khách hàng hơn, nhiều doanh thu hơn, và dẫn tới nhiều lợi nhuận

hơn.

Nobanee, Abdullatif và Al Hajjar (2011) đã nghiến cứu mối quan hệ giữa quản

lý vốn luân chuyển và lợi nhuận của các doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động trên

thị trường chứng khoán Tokyo khoảng thời gian từ 1990 đến 2004. Kết quả của

họ cho thấy rằng các nhà quản lý có thể cải thiện năng suất của doanh nghiệp

bằng cách quản lý vốn luân chuyển có hiệu quả. Hơn nữa, họ đề nghi các nhà

quản lý nên cẩn thận đối với việc kéo dài kỳ thanh toán vì có thể gây tổn hại cho

uy tín của công ty và có thể giảm lợi nhuân công ty trong dài hạn.



Garcia, Martins and Brandao (2011) đã nghiên cứu 2.974 công ty phi tài chính

niêm yết trên 11 thị trường chứng khoán châu Âu trong 12 năm 1998 – 2009,

kết quả phân tích hồi quy GLS và OLS cho rằng các công ty có thể gia tăng

khả năng sinh lợi bằng cách giảm khoảng thời gian vốn luân chuyển mà công ty

nắm giữ.

Vijay Kumar (2011) Kiểm tra mối quan hệ giữa vốn luân chuyển và lợi nhuận

công ty ở các ngành công nghiệp ôtô. Mẫu bao gồm 20 công ty tại Ấn Độ trong

giai đoạn 13 năm 1996 – 2009. Kết quả nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ ngược

chiều giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và lợi nhuận công ty.

Hasan (2011) nghiên cứu mối quan hệ về ảnh hưởng của quản trị vốn luân

chuyển và lợi nhuận của công ty trên thị trường chứng khoán Istanbul, Thổ Nhĩ

Kỳ. Mẫu nghiên cứu gồm 105 công ty thuộc 5 ngành nghề khác nhau trong giai

đoạn 2005 – 2009 tạo thành 525 quan sát. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng giảm

chu kỳ luân chuyển tiền mặt có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận công ty. Bài

nghiên cứu còn tìm thấy những doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì làm tăng

lợi nhuận do tận dụng được lợi thế thương hiệu. Những doanh nghiệp sử dụng

nhiều nợ sẽ làm giảm lợi nhuận và ngược lại.

Enqvist, Graham, và Nikkinen (2012) đã sử dụng một mẫu dữ liệu bảng gồm

1.136 năm doanh nghiệp Phần Lan niêm yết trên thị trường chứng khoán

Nasdaq OMX Helsinki từ năm 1990 đến 2008. Họ khẳng định rằng quản trị vốn

luân chuyển hiệu quả là cần thiết và có vai trò quan trọng trong hoạt động

quản trị doanh nghiệp và do vậy nên được đưa vào kế hoạch tài chính của

doanh nghiệp.

Ebrahim Manssori và Datin Muhammad (2012) đã nghiên cứu tác động quản lý

vốn luân chuyển trên lợi nhuận của doanh nghiệp. Tác giả phân tích hồi quy đa

biến OLS và FEM cho một mẫu của các công ty Singapore 2004 – 2011. Kết



quả thấy rằng các nhà quản lý có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách rút ngắn kỳ

thu tiền bình quân và kỳ luân chuyển hàng tồn kho.

Iluta A. và cộng sự (2012) nghiên cứu 182 công ty ở Latvian trong giai đoạn

2004 - 2010. Các tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tương quan Pearson,

hồi quy đa nhân tố và kết luận rằng có mối tương quan âm có ý nghĩa thống kê

giữa kỳ thu tiền bình quân và tỷ suất sinh lợi.

Nguyễn Thị Uyên Uyên và Từ Thị Kim Thoa (2014) nghiên cứu 208 công ty ở

Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2012 thuộc 8 ngành khác nhau. Kết quả hồi

quy OLS, FEM, GLS cho thấy quản trị vốn luân chuyển được đo lường bằng

chu kỳ luân chuyển tiển (CCC) có tác động âm lên tỷ suất sinh lợi hoạt động

kinh doanh của các công ty. Tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ nghịch biến

và có ý nghĩa về mặt thống kê giữa kỳ thu tiền và kỳ lưu kho và kỳ phải

trả với tỷ lệ lợi nhuận hoạt động từ hoạt động kinh doanh . Tuy nhiên, mức

độ tác động không lớn.

Bảng 2.1. Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây

Nhân tố



Kỳ thu tiền



Tương quan âm với tỷ suất



Tương quan dương với tỷ



sinh lợi



suất sinh lợi



Jose và cộng sự (1996)



Sharma và Kumar (2011)



Wang (2002)



Mathias Bernard Baveld



Deloof (2003)



(2012)



Padachi(2006)

Lazaridis& Tryfonidis(2006)

Garcia-Teruel và MartinezSolano (2007)

Raheman và Nasr (2007)

Falope và Ajilore (2009)

Nor.E và cộng sự (2010)



Enqvist, Graham, và

Nikkinen (2012)

Ebrahim Manssori và Datin

Muhammad (2012)

Iluta A. và cộng sự (2012)

Kỳ phải trả



Deloof (2003)



Mathuva (2010)



Lazaridis và Tryfonidis

(2006)

Garcia-Teruel và MartinezSolano (2007)

Raheman và Nasr (2007)

Falope và Ajilore (2009)

Sharma và Kumar (2011)

Enqvist, Graham, và

Nikkinen (2012)

Ebrahim Manssori và Datin

Muhammad (2012)

Kỳ lưu kho



Deloof (2003)

Lazaridis và Tryfonidis

(2006)

Padachi (2006)

Garcia-Teruel và MartinezSolano (2007)

Raheman và Nasr (2007)

Falope và Ajilore (2009)

Sharma và Kumar (2011)

Enqvist, Graham, và

Nikkinen (2012)



Mathuva (2010)



Ebrahim Manssori và Datin

Muhammad (2012)

Chu



kỳ



luân Jose và cộng sự (1996)



chuyển tiền mặt



Wang (2002)

Deloof (2003)

Padachi(2006)

Lazaridis& Tryfonidis(2006)

Garcia-Teruel và MartinezSolano (2007)

Falope và Ajilore (2009)

Raheman và Nasr (2007)

Nor.E và cộng sự (2010)

Enqvist, Graham, và

Nikkinen (2012)

Ebrahim Manssori và Datin

Muhammad (2012)

Iluta A. và cộng sự (2012)



2.3 Kỳ vọng dấu giữa biến giải thích với biến phụ thuộc:

Bảng 2.2 Bảng kỳ vọng về dấu

Định nghĩa biến



Biến nghiên cứu



Dấu kỳ vọng



AR



(Khoản phải thu/Doanh thu thuần)*365



-



AP



(Phải trả người bán/Giá vốn hàng



+



bán)*365

INV



(Hàng tồn kho/Giá vốn hàng bán)*365



-



CCC



Khoản phải thu + Hàng tồn kho – Phải trả



-



người bán

CR



Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn



+



SIZE



Logarit tự nhiên của tổng tài sản



+



LEV



Tổng nợ/Tổng tài sản



-



GROWTH



(Doanh thu nămt - Doanh thu nămt-1) /



+



Doanh thu nămt-1



CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mô hình nghiên cứu

Profitability = β0 + β1AR + β2CR + β3SIZE+ β4 LEV+ β5GROWTH+ u (1)

Profitability = β0 + β1AP + β2CR + β3SIZE+ β4 LEV+ β5GROWTH+ u (2)

Profitability = β0 + β1INV+ β2CR + β3SIZE+ β4 LEV+ β5GROWTH+ u (3)

Profitability =β0 + β1CCC+ β2CR + β3SIZE+ β4 LEV+ β5GROWTH+ u (4)

Trong đó:

ROA:



Tỷ suất sinh lợi trên tài sản



CCC:



Chu kỳ luân chuyển tiền mặt



AR:



Kỳ phải thu



AP:



Kỳ phải trả



INV:



Kỳ tồn kho



CR:



Tỷ số thanh toán hiện hành



SIZE:



Quy mô công ty



LEV:



Tỷ số nợ



GROWTH: Tốc độ tăng trưởng doanh thu

3.2 Mô tả biến sử dụng cho mô hình

Việc lựa chọn biến cơ bản dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm đã thực hiện

chủ yếu là từ công trình nghiên cứu của Sharma và Kurma (2011).

3.2.1. Biến phụ thuộc



Theo Lancaster, và Stevens (1996), Wang (2002), Jose, và Garcia-Teruel và

Martinez-Solano (2007), trong bài nghiên cứu sử dụng tỷ số lợi nhuận trên tài

sản (ROA), được xác định bằng tỷ lệ thu nhập ròng trên tổng tài sản, như đại

diện cho lợi nhuận công ty. ROA tập trung vào đo lường tổng thể lợi nhuận của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

Tải bản đầy đủ ngay(87 tr)

×