Tải bản đầy đủ - 87 (trang)
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Tải bản đầy đủ - 87trang

số ngày bán hàng. Bạn cũng có thể tính bằng cách chia khoản phải thu cho

doanh số bán tín dụng bình quân mỗi ngày.

- Kỳ thanh toán bình quân: là độ dài thời gian từ khi mua nguyên vật liệu hay

thuê lao động đến khi thanh toán cho họ.

- Chu kỳ chuyển luân chuyển tiền mặt: bằng tổng thời gian từ khi chi tiền mặt

đến khi nhận tiền mặt. Kỳ chuyển hoá tiền mặt vì vậy bằng khoảng thời gian

bình quân đồng vốn được duy trì dưới hình thức tài sản lưu động.

Chu kỳ luân chuyển tiền mặt có thể được biểu diễn trong phương trình sau:

CCC = AR + INV -AP

Vai trò của vốn luân chuyển là đảm bảo các hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp được diễn ra liên tục, do đó có tác động rất lớn đến việc

ra các quyết định tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đƣợc thể

hiện bằng tỷ suất sinh lợi. Tỷ suất sinh lợi được xem xét có thể là tỷ suất sinh

lợi trên tài sản. Các yếu tố tác động tới tỷ suất sinh lợi là doanh thu, chi phí,

thuế, tổng tài sản…Tỷ suất sinh lợi được đánh giá trong một năm nhưng lại là

thành quả kinh doanh trong dài hạn của công ty.

Ở Việt Nam, tỷ trọng vốn luân chuyển nằm trong khoảng 49% đến 58% tổng tài

sản, vì vậy các thành phần của vốn luân chuyển có tác động rất lớn đến tỷ suất

sinh lợi, đặc biệt là hàng tồn kho, khoản phải thu và khoản phải trả.

2.1.2 Quản trị khoản phải thu và lợi nhuận

Khoản phải thu được xem như là các khoản tiền cho khách hàng vay trong

ngắn hạn. Tài khoản này nên được giữ ổn định, tuy nhiên nếu khoản phải thu

đang gia tăng có nghĩa là công ty đang mở rộng chính sách bán chịu, đồng nghĩa

với việc công ty có thêm khách hàng nhưng cũng sẽ gánh chịu nhiều chi phí như

là chi phí cơ hội của dòng tiền đáng lẽ phải nhận được. Từ đây chúng ta có thể

thấy quản trị khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro.

Gia tăng khoản phải thu, doanh thu có thể tăng do bán được nhiều hàng hóa hơn,



tuy nhiên có thể gặp phải rủi ro nguy cơ phát sinh nợ khó đòi,thậm chí không thu

hồi được nợ để đảm bảo cho nhu cầu tài chính đã dự tính.

Tuy nhiên, nếu thắt chặt tín dụng, thì công ty có thể mất khách hàng do chính

sách bán chịu quá khắt khe từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận công ty.

Theo Berry và Jarvis (2006), một công ty nên thiết lập chính sách khoản phải thu

tối ưu dựa trên những nguyên tắc sau:

-



Sự đánh đổi giữa tính ổn định của doanh thu và lợi nhuận với chi phí

cơ hội và chi phí quản lí khi gia tăng khoản phải thu.



- Mức độ rủi ro của công ty có thể lớn hơn khi gia tăng khoản phải

thu, vì khách hàng có thể không trả nợ khi các khoản phải thu đến hạn.

2.1.3 Quản trị hàng tồn kho và lợi nhuận

Hàng tồn kho bao gồm tất cả nguyên vật liệu và thành phẩm đang nằm

trong kho của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có chu kì hàng tồn kho dài có

nghĩa rằng doanh nghiệp đang đầu tư rất lớn vào hàng tồn kho và hy vọng trong

tương lai nguồn cầu đối với hàng hóa của mình sẽ gia tăng, làm gia tăng doanh

số, lợi nhuận.

Tuy nhiên, việc đầu tư rất lớn vào hàng tồn kho sẽ khiến công ty phải gánh chịu

rất nhiều rủi ro như sản phẩm hư hỏng, mất mát, lỗi thời và nhiều chi phí như:

chi phí lưu trữ, phí bảo hiểm.

Ngược lại, dự trữ hàng tồn kho quá ít có thể làm tăng rủi ro mất khách hàng khi

họ phát sinh nhu cầu mà công ty không đủ hàng để cung cấp, lúc này khách hàng

sẽ tìm đến những đối thủ cạnh tranh của công ty.

Do đó các nhà quản trị phải cân nhắc giữa lợi ích nhận được và chi phí cho việc

dự trữ hàng tồn kho vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp.



2.1.4 Quản trị khoản phải trả và lợi nhuận

Ngược lại với khoản phải thu, khoản phải trả lại là một nguồn vốn chiếm

dụng từ nhà cung cấp. Theo Hampton và Wagner (1989), công ty có khoản phải

trả khi công ty mua hàng hóa và thỏa thuận với nhà cung cấp trả tiền trong một

kì hạn nào đó, nghĩa vụ phải trả tiền được ghi nhận trong tài khoản khoản phải

trả cho đến khi công ty trả tiền cho nhà cung cấp. Do đó, công ty có thể

được lợi từ nguồn vốn chiếm dụng này. Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn ít tốn

kém chi phí sử dụng vốn. Việc doanh nghiệp kéo dài thời gian thanh toán sẽ làm

giảm áp lực cho dòng tiền hoạt động. Tuy nhiên với việc kéo dài thời gian thanh

toán, doanh nghiệp sẽ không được hưởng lợi ích từ những chính sách chiết

khấu khi trả tiền ngay của nhà cung cấp. Mặt khác, việc kéo dài chu kì khoản

phải trả có thể làm mất đi danh tiếng của công ty và lợi nhuận của công ty

trong dài hạn.

2.1.5 Chu kỳ luân chuyển tiền mặt và lợi nhuận

Một trong những chỉ tiêu đo lường hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển là chu

kỳ luân chuyển tiền mặt (Cash Conversion Cycle - CCC) được đưa ra bởi

Richards & Laughlin (1980).

Hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển phụ thuộc vào sự cân đối giữa tính

thanh khoản và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp (Filbeck, Krueger & Preece

- 2007; Faulender & Wang - 2006): sự thiếu hụt vốn luân chuyển có thể gây trục

trặc cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp nhưng đầu tư quá

nhiều vào vốn luân chuyển thì lại làm giảm rủi ro thanh khoản, sẽ làm tăng chi

phí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi doanh nghiệp dùng nguồn vốn từ bên ngoài để

tài trợ cho vốn luân chuyển. Nhìn chung, các công ty có chu kỳ luân chuyển tiền

mặt ngắn hơn sẽ có lợi hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn trong thời gian dài

(Mansoori vàMuhammad - 2012) thấp hơn.



Mục tiêu của công ty là rút ngắn chu kỳ chuyển hoá tiền mặt đến mức tối đa

nhưng không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của công ty. Điều này sẽ

làm tăng lợi nhuận vì nếu chu kỳ chuyển hóa tiền mặt càng dài, nhu cầu tài trợ từ

bên ngoài càng lớn và việc tài trợ lúc đó càng làm tăng phí tổn vốn và do vậy,

làm giảm giá trị kinh tế của công ty. Có thể rút ngắn chu kỳ chuyển hoá tiền mặt

bằng cách:

- Giảm chu kỳ chuyển hoá tồn kho bằng thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu thụ

hàng hoá.

- Giảm kỳ thu tiền bằng thúc đẩy chính sách bán hàng và thu nợ hợp lý.

- Hay kéo dài thời gian thanh toán bằng trì hoãn thời gian thanh toán cho các

nhà cung cấp.

Các công ty thực hiện các hoạt động này để rút ngắn chu kỳ chuyển hoá tiền

mặt nếu chúng không làm tăng chi phí và cũng không làm giảm doanh số.

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

Nhiều nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển và lợi

nhuận của công ty trong thị trường khác nhau. Có nhiều kết luận khác nhau,

nhưng đa số các nghiên cứu kết luận có một mối quan hệ tiêu cực giữa vốn luân

chuyển và lợi nhuận công ty. Các nghiên cứu đã sử dụng các biến khác nhau để

phân tích mối quan hệ, với phương pháp khác nhau như hồi quy tuyến tính và

hồi quy dữ liệu bảng. Trong phần này tác giả trình bày một vài kết luận từ kết

quả các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả.

Soenen (1993) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và

tỷ suất sinh lợi trên đầu tư ROI và tỷ suất sinh lợi trên tài sản ROA trong các

công ty Mỹ. Các kết quả của nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa

thời gian của chu kỳ luân chuyển tiền mặt và tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA).

Hơn nữa, mối quan hệ này được tìm thấy là khác nhau giữa các ngành công

nghiệp khác nhau.



Để hỗ trợ các kết quả của Soenen (1993, Jose et al. (1996) ) đã kiểm tra mối

quan hệ giữa lợi nhuận và các biện pháp quản lý nhu cầu thanh khoản trên một

mẫu lớn 2718 công ty và trong khoảng thời gian dài 20 năm bằng phương pháp

hồi quy. Kết quả nghiên cứu kết luận rằng vòng quay tiền mặt thấp làm gia tăng

tỷ suất sinh lợi.

Tác giả Shin và Soenen (1998) nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân

chuyển và khả năng tạo ra giá trị cho cổ đông. Họ kiểm tra mối quan hệ này

bằng cách phân tích tương quan và hồi quy, theo ngành công nghiệp và theo quy

mô vốn. Sử dụng 58.985 công ty từ giai đoạn 1975- 1994, họ tìm thấy mối

tương quan nghịch mạnh mẽ từ giai đoạn 1975- 1994, họ tìm thấy mối tương

quan nghịch mạnh mẽ giữa thời gian của chu kỳ luân chuyển tiền mặt và khả

năng sinh lợi của công ty. Dựa vào kết quả đó , họ cho rằng một trong những

cách làm gia tăng giá trị cổ đông là giảm thời gian luân chuyển tiền mặt.

Lyroudi và Lazaridis (2000) nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ luân chuyển

tiền mặt và chỉ số thanh toán hiện hành, tỷ số thanh toán nhanh trong ngành thực

phẩm Hy Lạp. Kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng có một mối quan hệ tích

cực giữa các chu kỳ luân chuyển tiền mặt và tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số

thanh toán nhanh.

Nghiên cứu của Wang (2002), tác giả xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn

luân chuyển và hiệu quả hoạt động của công ty, giữa quản trị tính thanh khoản

và giá trị doanh nghiệp ở Nhật Bản và Đài Loan. Tác giả đã tìm ra mối tương

quan âm giữa vòng quay tiền mặt và tỷ suất sinh lợi trên tài sản và tỷ suất sinh

lợi trên vốn cổ phần, nhưng cả hai mối tương quan khá nhạy cảm với yếu tố

ngành.

Deloof (2003) đã thực hiện một nghiên cứu ở Belgium bao gồm 1009 công ty

phi tài chính với dữ liệu nghiên cứu lấy trong giai đoạn 1992-1996, với hơn

5045 mẫu quan sát. Deloof đã tìm ra mối tương quan âm giữa tỷ suất sinh lợi



gộp và các thành phần của vòng quay tiền mặt như: kỳ thu tiền bình quân, kỳ

lưu kho bình quân, kỳ thanh toán bình quân. Kết quả này hàm ý rằng: nhà quản

trị có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách giảm vòng quay tiền mặt cụ thể là giảm

kỳ thu tiền và thời gian chuyển đổi hàng tồn kho. Deloof giải thích mối tương

quan âm giữa tỷ suất sinh lợi và khoản phải trả như sau: tỷ suất sinh lợi thấp thì

lợi nhuận thấp nên thường trì hoãn việc chi trả cho các hóa đơn của họ.

Eljelly (2004) đã nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa lợi nhuận và tính

thanh khoản, được đo bằng tỷ số thanh toán hiện hành và chu kỳ luân chuyển

tiền mặt trên một mẫu của các công ty cổ phần ở Ả Rập Saudi. Sử dụng phân

tích tương quan và phân tích hồi quy nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tiêu cực

giữa tỷ suất sinh lợi và tỷ số thanh toán hiện hành. Các mối quan hệ tiêu cực là

rõ ràng hơn trong các công ty có tỷ số thanh toán hiện hành cao và chu kỳ luân

chuyển tiền mặt dài. Biến quy mô cũng được tìm thấy có ảnh hưởng đến lợi

nhuận công ty .

Tiếp theo là nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006) về mối quan hệ giữa

quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi ở Ai Cập. Hai tác giả sử dụng mẫu

nghiên cứu gồm 131 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Athens trong giai

đoạn 2001-2004 biến giả ngành công nghiệp cũng được tác giả đưa vào mô hình

và tìm thấy mối tương quan âm giữa tỷ suất sinh lợi gộp và vốn luân

chuyển. Ngoài ra tác giả còn phát hiện thêm rằng các doanh nghiệp có quy mô

lớn thì tỷ suất sinh lợi cao. Tóm lại các nhà quản trị có thể tạo ra lợi nhuận cho

công ty bằng cách quản trị chu kỳ luân chuyển tiền mặt ở mức phù hợp và đảm

bảo duy trì các thành phần của nó ở mức tối ưu.

Trong năm đó, Padachi (2006) sử dụng lợi nhuận ròng trên tổng tài sản như một

thước đo của tỷ suất sinh lợi cho một mẫu gồm 58 công ty sản xuất nhỏ ở

Mauritius trong giai đoạn 1998-2003và cũng chỉ ra rằng khoản đầu tư lớn ở

hàng tồn kho và khoản phải thu làm cho lợi nhuận thấp hơn.



Trong thời gian này, cũng có một số nghiên cứu khác như Raheman và Nasr

(2007) đã thực hiện một nghiên cứu ở Pakistan và cung cấp nhiều bằng chứng về

mối tương quan âm giữa tỷ suất sinh lợi và vòng quay tiền mặt. Họ sử dụng phân

tích hồi quy dựa trên dữ liệu mẫu gồm 94 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán

Karachi trong giai đoạn 6 năm từ 1999-2004. Ngoài ra, hai nhà khoa học đã tìm

ra bằng chứng cho thấy tỷ suất sinh lợi thì tương quan âm với tính thanh khoản

và tương quan dương với quy mô công ty.

Cùng kết luận như trên, Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2007) đã nghiên cứu

tác động của vốn luân chuyển lên tỷ suất sinh lợi của những công ty vừa và nhỏ

ở Tây Ban Nha. Họ sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng bao gồm 8872

công ty trong giai đoạn 1996-2002. Kết quả thể hiện rằng nhà quản trị có thể

gia tăng giá trị cổ phần bằng cách làm giảm kỳ thu tiền bình quân, vòng quay

hàng tồn kho theo ngày và vòng quay tiền mặt.

Samiloglo Demirgunes (2008) đã tiến hành một nghiên cứu để xem xét mối quan

hệ giữa quản lý Vốn luân chuyển và lợi nhuận. Áp dụng phân tích hồi quy đa

biến trên một mẫu của công ty sản xuất được niêm yết trên thị trường chứng

khoán Istanbul trong giai đoạn 1998 – 2007, họ đã tìm thấy rằng kỳ thu tiền bình

quân, ky luân chuyển hàng tồn kho có tác động ngược chiều đến lãi hoạt động

kinh doanh, trong khi đó tốc độ tăng trưởng doanh thu lại tác động cùng chiều

đến lãi từ hoạt động kinh doanh.

Nghiên cứu của Zariyawati et al (2009) sử dụng dữ liệu bảng gồm 1.628 công ty

- năm trong giai đoạn 1996-2006. Kết quả cho thấy có mối tương quan nghịch

biến giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và lợi nhuận công ty. Điều này cho thấy

kết quả rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền mặt sẽ làm tăng lợi nhuận.Do đó, các

nhà quản trị công ty nên quan tâm đến việc rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền mặt

đến mức tối ưu để làm gia tăng giá trị cổ đông.



Gill, Biger & Neil (2010) cũng tìm thấy mối quan hệ tồn tại giữa nợ được sử

dụng và khả năng sinh lợi của công ty là tương quan âm có ý nghĩa thống kê

trên mẫu quan sát gồm 88 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán New York cho

giai đoạn 3 năm 2005 – 2007.

Azhar và Noriza (2010) đã nghiên cứu của tác động của quản trị vốn luân

chuyển trên hiệu suất của công ty Malaysia dựa trên dữ liệu của 172 công ty

niêm yết trên thị trường chứng khoán Bursa Malaysia trong giai đoạn từ năm

2003 – 2007. Kết quả của việc phân tích hồi quy đa biến cho thấy các nhà quản

lý có thể gia tăng giá trị thị trường công ty và hiệu suất bằng cách quản trị vốn

luân chuyển có hiệu quả.

Sharma và Kumar (2011) đã nghiên cứu tác động của vốn luân chuyển lên tỷ

suất sinh lợi ở những công ty Ấn Độ với dữ liệu nghiên cứu gồm 263 công ty phi

tài chính BSE 500 niêm yết trên sàn chứng khoán Bombay từ 2002 đến 2008.

Hai nhà khoa học đã phân tích dữ liệu bằng hồi quy đa nhân tố OLS và tìm thấy

mối tƣơng quan dương giữa vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi. Điều này có

nghĩa rằng khi các công ty Ấn Độ gia tăng vòng quay tiền mặt, tỷ suất sinh lợi có

thể cao hơn. Các tác giả suy luận rằng Ấn Độ là thị trƣờng đang phát triển,

các công ty dường như sinh lợi nhiều hơn khi mở rộng chính sách bán chịu, do

đó có nhiều khách hàng hơn, nhiều doanh thu hơn, và dẫn tới nhiều lợi nhuận

hơn.

Nobanee, Abdullatif và Al Hajjar (2011) đã nghiến cứu mối quan hệ giữa quản

lý vốn luân chuyển và lợi nhuận của các doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động trên

thị trường chứng khoán Tokyo khoảng thời gian từ 1990 đến 2004. Kết quả của

họ cho thấy rằng các nhà quản lý có thể cải thiện năng suất của doanh nghiệp

bằng cách quản lý vốn luân chuyển có hiệu quả. Hơn nữa, họ đề nghi các nhà

quản lý nên cẩn thận đối với việc kéo dài kỳ thanh toán vì có thể gây tổn hại cho

uy tín của công ty và có thể giảm lợi nhuân công ty trong dài hạn.



Garcia, Martins and Brandao (2011) đã nghiên cứu 2.974 công ty phi tài chính

niêm yết trên 11 thị trường chứng khoán châu Âu trong 12 năm 1998 – 2009,

kết quả phân tích hồi quy GLS và OLS cho rằng các công ty có thể gia tăng

khả năng sinh lợi bằng cách giảm khoảng thời gian vốn luân chuyển mà công ty

nắm giữ.

Vijay Kumar (2011) Kiểm tra mối quan hệ giữa vốn luân chuyển và lợi nhuận

công ty ở các ngành công nghiệp ôtô. Mẫu bao gồm 20 công ty tại Ấn Độ trong

giai đoạn 13 năm 1996 – 2009. Kết quả nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ ngược

chiều giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và lợi nhuận công ty.

Hasan (2011) nghiên cứu mối quan hệ về ảnh hưởng của quản trị vốn luân

chuyển và lợi nhuận của công ty trên thị trường chứng khoán Istanbul, Thổ Nhĩ

Kỳ. Mẫu nghiên cứu gồm 105 công ty thuộc 5 ngành nghề khác nhau trong giai

đoạn 2005 – 2009 tạo thành 525 quan sát. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng giảm

chu kỳ luân chuyển tiền mặt có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận công ty. Bài

nghiên cứu còn tìm thấy những doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì làm tăng

lợi nhuận do tận dụng được lợi thế thương hiệu. Những doanh nghiệp sử dụng

nhiều nợ sẽ làm giảm lợi nhuận và ngược lại.

Enqvist, Graham, và Nikkinen (2012) đã sử dụng một mẫu dữ liệu bảng gồm

1.136 năm doanh nghiệp Phần Lan niêm yết trên thị trường chứng khoán

Nasdaq OMX Helsinki từ năm 1990 đến 2008. Họ khẳng định rằng quản trị vốn

luân chuyển hiệu quả là cần thiết và có vai trò quan trọng trong hoạt động

quản trị doanh nghiệp và do vậy nên được đưa vào kế hoạch tài chính của

doanh nghiệp.

Ebrahim Manssori và Datin Muhammad (2012) đã nghiên cứu tác động quản lý

vốn luân chuyển trên lợi nhuận của doanh nghiệp. Tác giả phân tích hồi quy đa

biến OLS và FEM cho một mẫu của các công ty Singapore 2004 – 2011. Kết



quả thấy rằng các nhà quản lý có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách rút ngắn kỳ

thu tiền bình quân và kỳ luân chuyển hàng tồn kho.

Iluta A. và cộng sự (2012) nghiên cứu 182 công ty ở Latvian trong giai đoạn

2004 - 2010. Các tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tương quan Pearson,

hồi quy đa nhân tố và kết luận rằng có mối tương quan âm có ý nghĩa thống kê

giữa kỳ thu tiền bình quân và tỷ suất sinh lợi.

Nguyễn Thị Uyên Uyên và Từ Thị Kim Thoa (2014) nghiên cứu 208 công ty ở

Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2012 thuộc 8 ngành khác nhau. Kết quả hồi

quy OLS, FEM, GLS cho thấy quản trị vốn luân chuyển được đo lường bằng

chu kỳ luân chuyển tiển (CCC) có tác động âm lên tỷ suất sinh lợi hoạt động

kinh doanh của các công ty. Tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ nghịch biến

và có ý nghĩa về mặt thống kê giữa kỳ thu tiền và kỳ lưu kho và kỳ phải

trả với tỷ lệ lợi nhuận hoạt động từ hoạt động kinh doanh . Tuy nhiên, mức

độ tác động không lớn.

Bảng 2.1. Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây

Nhân tố



Kỳ thu tiền



Tương quan âm với tỷ suất



Tương quan dương với tỷ



sinh lợi



suất sinh lợi



Jose và cộng sự (1996)



Sharma và Kumar (2011)



Wang (2002)



Mathias Bernard Baveld



Deloof (2003)



(2012)



Padachi(2006)

Lazaridis& Tryfonidis(2006)

Garcia-Teruel và MartinezSolano (2007)

Raheman và Nasr (2007)

Falope và Ajilore (2009)

Nor.E và cộng sự (2010)



Enqvist, Graham, và

Nikkinen (2012)

Ebrahim Manssori và Datin

Muhammad (2012)

Iluta A. và cộng sự (2012)

Kỳ phải trả



Deloof (2003)



Mathuva (2010)



Lazaridis và Tryfonidis

(2006)

Garcia-Teruel và MartinezSolano (2007)

Raheman và Nasr (2007)

Falope và Ajilore (2009)

Sharma và Kumar (2011)

Enqvist, Graham, và

Nikkinen (2012)

Ebrahim Manssori và Datin

Muhammad (2012)

Kỳ lưu kho



Deloof (2003)

Lazaridis và Tryfonidis

(2006)

Padachi (2006)

Garcia-Teruel và MartinezSolano (2007)

Raheman và Nasr (2007)

Falope và Ajilore (2009)

Sharma và Kumar (2011)

Enqvist, Graham, và

Nikkinen (2012)



Mathuva (2010)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Tải bản đầy đủ ngay(87 tr)

×