Tải bản đầy đủ - 102 (trang)
2 Các phương thức thanh toán xuất nhập khẩu

2 Các phương thức thanh toán xuất nhập khẩu

Tải bản đầy đủ - 102trang

9



 Thời gian thanh toán:

-



Trả tiền trƣớc: Sau khi ký hợp đồng hoặc sau khi bên XK chấp nhận đơn đặt



hàng bên NK, nhƣng trƣớc khi giao hàng bên NK đã trả cho bên XK toàn bộ hay

một phần số tiền hàng. Đây có thể là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn của nhà NK

cho ngƣời XK. Song cũng có thể là nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng cho ngƣời

NK.

-



Trả tiền ngay khi hoàn thành việc giao hàng: Tại nơi giao hàng quy định



hoặc sau khi ngƣời bán lập bộ chứng từ gửi hàng và chuyển đến ngƣời mua, ngƣời

mua trả tiền ngay sau khi nhận bộ chứng từ.

-



Trả tiền sau: Sau x ngày kể từ ngày ngƣời bán hoàn thành việc giao hàng tại



nơi giao hàng. Sau x ngày kể từ ngày nhận đƣợc chứng từ do ngƣời bán gửi đến.





Hình thức chuyển tiền: Có hai hình thức chuyển tiền, chuyển tiền bằng thƣ



(M/T-Mail transfers) và chuyển tiền bằng điện (T/T-Telegraphic transfers). Chuyển

tiền bằng thƣ chi phí thấp nhƣng tƣơng đối chậm, dễ bị ảnh hƣởng biến động của tỷ

giá. Ngƣợc lại, chuyển tiền bằng điện chi phí cao nhƣng nhanh chóng kịp thời nên ít

chịu ảnh hƣởng của biến động tỷ giá.





Đặc điểm: Phƣơng thức này thủ tục đơn giản, nhanh chóng, phí thanh toán



không cao. Đây là hình thức thanh toán trực tiếp giữa ngƣời chuyển tiền và ngƣời

hƣởng lợi, NH chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán, theo uỷ nhiệm để hƣởng hoa

hồng và không bị ràng buộc gì đối với cả ngƣời NK và ngƣời XK. Việc chuyển tiền

hoàn tất khi thanh toán hết số tiền cho ngƣời hƣởng lợi, trƣớc thời điểm này số tiền

trong tài khoản vẫn thuộc quyển sở hữu của ngƣời chuyển tiền và ngƣời này có

quyển hủy bỏ lệnh chuyển tiền mà ngƣời thụ hƣởng không có quyển khiếu nại gì

với NH. Nhƣ vậy việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của ngƣời mua, quyền lợi của

ngƣời XK không đƣợc đảm bảo. Điều kiện áp dụng phƣơng thức chuyển tiền là

trƣờng hợp hai bên quen biết, quan hệ thƣờng xuyên và tin tƣởng lẫn nhau. Thƣờng

đƣợc áp dụng thanh toán những khoản tƣơng đối nhỏ, các mặt hàng quen thuộc

truyền thống trong thanh toán hàng XNK.



10



1.2.2Trả tiền lấy chứng từ-CAD (Cash against document)





Khái niệm: C D là phƣơng thức thanh toán mà nhà NK yêu cầu NH mở tài



khoản ký thác để thanh toán tiền cho nhà XK với điều kiện nhà XK xuất trình

những chứng từ theo yêu cầu đã đƣợc thỏa thuận cho NH để đƣợc thanh toán tiền.

Phƣơng thức này còn đƣợc gọi là COD (Cash on delivery).





Đặc điểm: Phƣơng thức này có lợi cho nhà XK chắc chắn thu đƣợc tiền



nhanh chóng, thủ tục đơn giản. Phƣơng thức này đƣợc áp dụng trong các trƣờng

hợp ngƣời mua và ngƣời bán có quan hệ tốt, tin tƣởng lẫn nhau. Ngƣời mua phải có

đại diện bên nƣớc XK để kiểm tra giám sát chặc chẽ quá trình giao nhận hàng nhằm

tránh trƣờng hợp ngƣời bán xuất trình chứng từ không phù hợp với hàng hóa thực

giao. Tuy nhiên, phƣơng thức này có bất lợi là chƣa có cơ sở pháp lý rõ ràng nếu có

tranh chấp xảy ra thì việc xử lý rất phức tạp, nên phạm vi áp dụng còn hạn chế.

1.2.3 Phƣơng thức nhờ thu (Collection of payment)





Khái niệm: Phƣơng thức nhờ thu là phƣơng thức thanh toán trong đó ngƣời



XK sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ, uỷ thác cho NH

phục vụ mình thu hộ số tiền ngƣời NK trên cơ sở hối phiếu và chứng từ hàng hóa

liên quan (nếu có).





Các bên tham gia:



-



Ngƣời ủy thác (Principal): Là ngƣời bán (nhà XK) nhờ NH thu hộ tiền.



-



Ngƣời trả tiền (Drawee): Là ngƣời mua (nhà NK), là ngƣời đƣợc ký phát hối



phiếu.

-



NH chuyển chứng từ (The Remitting bank): Là NH phục vụ cho bên bán



(nhà XK), đƣợc bên bán ủy thác thu hộ tiền bên mua, có nhiệm vụ chuyển giao

chứng từ ra NH nƣớc ngoài để đòi tiền bên mua.

-



NH thu hộ tiền (The Collecting bank): Có nhiệm vụ thu hộ tiền bên mua (nhà



NK) thƣờng là đại lý của NH chuyển chứng từ ở nƣớc ngoài. Nếu trong trƣờng hợp,

NH thu hộ không trực tiếp xuất trình chứng từ đòi tiền nhà NK mà phải thông qua

một NH khác đó là NH xuất trình chứng từ.



11



-



NH xuất trình chứng từ (The Presenting bank): Là NH thu hộ, là NH trực



tiếp xuất trình chứng từ đòi tiền bên mua.



-



Phương thức nhờ thu được thực hiện dưới hai hình thức:

Nhờ thu phiếu trơn: Là phƣơng thức ngƣời bán uỷ thác NH thu hộ tiền ở



ngƣời mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập còn chứng từ hàng gửi thẳng cho

ngƣời mua không qua NH. Phƣơng thức này không áp dụng nhiều trong thanh toán

về mậu dịch vì nó không đảm bảo quyển lợi cho ngƣời bán do việc nhập hàng của

ngƣời mua tách rời khâu thanh toán. Ngƣời mua có thể nhận hàng nhƣng không trả

tiền không đúng hạn.

-



Nhờ thu kèm chứng từ: Là phƣơng thức thanh toán trong đó chứng từ gởi đi



nhờ thu bao gồm: hoặc chứng từ thƣơng mại kèm chứng từ tài chính hoặc chỉ có

chứng từ thƣơng mại. NH thu hộ chỉ trao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu sau khi

nhà nhập khẩu đáp ứng yêu cầu của lệnh nhờ thu, nhƣ chấp nhận trả tiền hối phiếu

(Documents against Acceptance) hoặc trả tiền để đổi lấy chứng từ (Documents

against Payment) hoặc các điều kiện khác (Documentsagainst Other Terms and

Conditions: Signed trust receipt/Bank undertakings –AVAL).





Đặc điểm: Phƣơng thức thanh toán nhờ thu không đảm bảo quyền lợi cho



ngƣời bán vì việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí của

ngƣời mua. Nhà XK có thể không nhận đƣợc tiền thanh toán dù hàng hóa đã đƣợc

giao, chịu chi phí phát sinh thuê kho lƣu hàng hóa, giải phóng tàu, điều tra nguyên

nhân bị từ chối, quảng cáo tìm khách hàng, bán đấu giá hàng hóa, nhờ NH bán

hộ…hoặc trong trƣờng hợp bên mua cố tình kéo dài thời gian thanh toán vì giá cả

hàng hóa giảm xuống, thị hiếu ngƣời tiêu dùng thay đổi. NH tham gia không chịu

trách nhiệm thanh toán mà chỉ đóng vai trò là trung gian trong thanh toán trong việc

chuyển tiếp chứng từ và yêu cầu thanh toán theo chỉ thị của ngƣời bán mà không bị

ràng buộc trách nhiệm về mặt pháp lý nên việc đồng ý hay không là do nhà NK chủ

động. Tuy nhiên, phƣơng thức này cũng có những điểm bất lợi cho ngƣời mua phải

chấp nhận trả tiền hoặc ký chấp nhận hối phiếu mà chƣa kiểm tra hàng hóa trƣớc

khi nhận hàng nên có thể hàng không đúng với hợp đồng đã ký kết.



12



Hiện nay, phƣơng thức thanh toán nhờ thu đƣợc thực hiện trên tinh thần quy

tắc thống nhất về nhờ thu chứng từ thƣơng mại URC phiên bản số 522 của Phòng

thƣơng mại quốc tế ICC, hiệu lực từ ngày 1/1/1996.

1.2.4 Phƣơng thức tín dụng chứng từ (L/C: Letter of Credit)





Khái niệm: Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó NH (NH mở



thƣ tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (ngƣời xin mở thƣ tín dụng) cam kết

thanh toán một số tiền nhất định cho ngƣời thứ ba (ngƣời thụ hƣởng) hoặc trả theo

lệnh của ngƣời này hoặc chấp nhận hối phiếu do ngƣời này ký phát trong phạm vi

số tiền đó, với điều kiện ngƣời này thực hiện đầy đủ những yêu cầu của thƣ tín dụng

và xuất trình cho NH bộ thanh toán phù hợp với các điều khoản, điều kiện đã ghi

trong thƣ tín dụng.



-



Các đối tượng liên quan đến thương thức tín dụng chứng từ:

Ngƣời xin mở thƣ tín dụng (the applicant, the importer, the buyer, accountee)



: Là ngƣời mua, nhà NK, ngƣời trả tiền.

-



NH mở thƣ tín dụng (the opening bank, the issuing bank): Là NH phục vụ



cho nhà NK.

-



Ngƣời thụ hƣởng (the beneficiary, the seller, the exporter): Là ngƣời bán,



nhà XK, hay một ngƣời bất kỳ do ngƣời hƣởng lợi chỉ định, cũng chính là ngƣời ký

phát hối phiếu (Drawer).

-



NH thông báo thƣ tín dụng (the advising bank): Là NH có nhiệm vụ thông



báo thƣ tín dụng cho nhà XK, thƣờng là NH đại lý của NH mở thƣ tín dụng ở nƣớc

ngƣời hƣởng lợi.

Ngoài ra còn có các NH sau:

-



NH xác nhận (the confirming bank): Có thể là một NH thông báo L/C hay



một NH bất kỳ do ngƣời hƣởng lợi yêu cầu, thƣờng là những NH lớn có uy tín trên

trƣờng quốc tế.

-



NH thanh toán (the paying bank): Là NH đƣợc NH mở tín dụng chỉ định



thanh toán cho ngƣời hƣởng lợi L/C. NH thanh toán có thể là NH thông báo hoặc

NH khác.



13



-



NH chấp nhận (the accepting bank): Là NH thay mặt NH mở L/C thực hiện



chấp nhận hối phiếu kỳ hạn.

-



NH chiết khấu (the negotiating bank): Là NH đƣợc NH mở cho phép thực



hiện bộ chứng từ theo L/C. NH chiết khấu có thể là NH thông báo hoặc là NH khác.

-



NH chỉ định (the Nominating bank): Là NH đƣợc ủy quyền để thanh toán



chiết khấu (honour/negotiable) hoặc bất cứ NH nào nếu thƣ tín dụng có giá trị thanh

toán đối với bất cứ NH nào có thể là NH thanh toán, NH xác nhận, NH chấp nhận…

-



NH bồi hoàn (the Reimbursing bank): NH bồi hoàn có trách nhiệm bồi hoàn



tiền cho NH đã thanh toán bộ chứng từ cho ngƣời thụ hƣởng, có thể là NH mở hoặc

đại lý của NH mở.

-



NH chuyển nhƣợng (the transferring bank): Là NH đƣợc phép chuyển



nhƣợng theo giá trị L/C đƣợc quy định trong L/C chuyển nhƣợng.



-



Có các loại thư tín dụng sau đây:

Phân theo thời hạn thanh toán gồm: Thƣ tín dụng trả ngay (At Sight payment



L/C), Thƣ tín dụng trả chậm (Deferred payment L/C).

-



Phân theo hình thức sử dụng:



+ Thƣ tín dụng không thể hủy ngang (irrevocable letter of credit): Là thƣ tín

dụng xác định trách nhiệm thanh toán của NH mở. L/C sau khi đã mở trong thời

gian hiệu lực không đƣợc hủy bỏ, sửa đổi bổ sung nếu nhƣ không có sự đồng ý của

nhà XK và các bên tham gia.

+ Thƣ tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận (the irrevocable letter of

credit): Là một L/C không hủy ngang đƣợc một NH khác xác nhận đảm bảo cam kết

thanh toán do ngƣời bán không tin tƣởng vào khả năng thanh toán của NH mở L/C.

+ Thƣ tín dụng không hủy ngang miễn truy đòi (the irrevocable without resource

L/C): Là loại L/C mà sau khi ngƣời hƣởng lợi đã nhận đƣợc tiền thanh toán từ NH

thanh toán L/C và NH thanh toán không đƣợc quyền đòi lại ngƣời thụ hƣởng trong

bất cứ trƣờng hợp nào.

+ Thƣ tín dụng chuyển nhƣợng (the transferable L/C): Là loại thƣ tín dụng

không hủy ngang trong đó cho phép ngƣời thụ hƣởng yêu cầu NH thanh toán hoặc



14



chấp nhận hối phiếu, chiết khấu hối phiếu chuyển nhƣợng một phần hay toàn bộ giá

trị L/C cho ngƣời thụ hƣởng thứ hai. Mỗi L/C chỉ đƣợc chuyển nhƣợng một lần và

chi phí chuyển nhƣợng sẽ do ngƣời thụ hƣởng đầu tiên trả.

+ Thƣ tín dụng giáp lƣng (Back to back letter of credit): Là loại L/C đƣợc mở

trên cơ sở L/C mà nhà NK đã mở cho nhà XK hƣởng. Nhà XK mua hàng từ nhà

cung cấp, căn cứ vào L/C nhận đƣợc, nhà XK yêu cầu NH phục vụ mình mở L/C

cho nhà cung cấp hƣởng với nội dung gần giống nhau, L/C mở sau gọi là L/C giáp

lƣng, L/C đầu gọi là L/C gốc.

+ Thƣ tín dụng đối ứng (Reciprocal letter of credit): Còn gọi là L/C dùng cho

mua bán đối lƣu (L/C for counter trade-transaction), là loại L/C mà khi nhà XK

nhận đƣợc L/C của nhà NK mở thì nhà XK phải mở L/C tƣơng ứng thì mới có giá

trị.

+ Thƣ tín dụng dự phòng (Stand by letter of credit): Là loại L/C đƣợc mở nhằm

đảm bảo quyền lợi cho nhà NK. Trong trƣờng hợp, nhà XK nhận đƣợc L/C nhƣng

lại không có khả năng giao hàng.

+ Thƣ tín dụng thanh toán dần (Deferred payment letter of credit): Là loại thƣ

tín dụng không thể hủy bỏ đƣợc NH mở L/C cam kết với ngƣời hƣởng lợi thanh

toán dần số tiền ghi trong L/C trong thời gian hiệu lực quy định.

+ Thƣ tín dụng ứng trƣớc (Packing letter of credit): Là loại L/C mà trong đó quy

định một khoản tiền đƣợc ứng trƣớc cho nhà XK vào một thời điểm trƣớc khi xuất

trình chứng từ. Đối với khoản ứng trƣớc này, ngƣời ta thƣờng quy định một điều

khoản đặc biệt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên liên quan gọi là L/C điều

khoản đỏ (red clause letter of credit).





Đặc điểm: Trong phƣơng thức tín dụng chứng từ, NH không chỉ là ngƣời



trung gian thu hộ, chi hộ mà còn là ngƣời đại diện cho nhà NK thanh toán tiền hàng

cho nhà XK và là ngƣời đảm bảo cho nhà NK nhận đƣợc hàng hóa theo bộ chứng từ

xuất khẩu tƣơng ứng với số tiền thanh toán. Giao dịch bằng L/C có một số đặc điểm

sau:



15



-



L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa: L/C đƣợc hình thành trên cơ sở



hợp đồng ngoại thƣơng nhƣng sau khi đƣợc thiết lập, L/C hoàn toàn độc lập với hợp

đồng cho dù trong L/C có dẫn chiếu hợp đồng hay không.

-



L/C giao dịch chủ yếu dựa trên chứng từ: Các NH dựa trên chứng từ kiểm tra



việc xuất trình để quyết định trên bề mặt chứng từ có tạo thành một xuất trình phù

hợp hay không cho nên chứng từ đóng vai trò quan trọng. Việc nhà xuất khẩu có thu

đƣợc tiền hay không phụ thuộc vào việc xuất trình chứng phù hợp.

-



L/C là công cụ thanh toán và hạn chế rủi ro: So với các phƣơng thức thanh



toán khác, L/C có đặc điểm vƣợt trội là bảo vệ cho nhà xuất khẩu nhận đƣợc tiền

thanh toán và nhà nhập khẩu đƣợc nhận hàng theo bộ chứng từ, nhƣng bên cạnh đó

cũng phát sinh nhiều rủi ro nếu các bên tham gia không tìm hiểu rõ về đối tác của

mình.

Tuy nhiên, L/C là phƣơng thức thanh toán có thủ tục phức tạp và chi phí cao.





Cơ sở pháp lý: Phƣơng thức tín dụng chứng từ là phƣơng thức thanh toán



đƣợc sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế vì đảm bảo quyền lợi của nhà XK

và NK. Hiện tại, phƣơng thức tín dụng chứng từ đƣợc thực hiện theo Quy tắc thống

nhất về tập quán và thực hành tín dụng chứng từ (Uniform Customs and Practice for

documentary credits - UCP), phiên bản số 600 của Phòng thƣơng mại quốc tế ICC,

và các văn bản pháp lý quốc tế khác nhƣ: Văn bản về thực hành kiểm tra chứng từ

theo tiêu chuẩn NH quốc tế đối với phƣơng thức tín dụng chứng từ gọi tắt là ISBP

(International Standard Banking Practice for the examination of documents under

documentary credits, 2010, ICC), Các qui tắc thống nhất về bồi hoàn chuyển tiền

giữa các NH theo tín dụng chứng từ gọi tắt là URR725 (Uniform Rules for Bank to

Bank Reimbursement under documentary credits N.725, 2010, ICC).



16



1.3 Rủi ro trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại NHTM

1.3.1 Rủi ro trong hoạt động thanh toán nhập khẩu

Rủi ro mặt đạo đức kinh doanh: Là những rủi ro khi một bên tham gia cố tình

không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hƣởng tới quyền lợi của các bên

khác.

Rủi ro không hoàn trả tín dụng: Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động

cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất cấp tín dụng khác nhƣ bảo

lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thƣơng mại. Nếu bên nhận đƣợc những hỗ trợ đó

của NH không hoàn trả đƣợc những khoản nợ thƣơng mại thì dẫn đến NH phải thực

hiện nghĩa vụ trả thay.

Rủi ro lãi suất, tỷ giá hối đoái: Việc tăng giảm lãi suất và tỷ giá hối đoái biến

động có thể dẫn đến việc nhà NK không thể thanh toán nhƣ đã cam kết, ảnh hƣởng

trực tiếp đến hoạt động thanh toán NK của NH.

Rủi ro trong phƣơng thức thanh toán L/C: Phƣơng thức L/C là phƣơng thức

thanh toán đƣợc các doanh nhiệp XNK lựa chọn nhƣ là hình thức nhận đƣợc tài trợ

từ phía NH trong quá trình thanh toán cho nên phƣơng thức này cũng là một trong

những phƣơng thức thanh toán nhiều rủi ro nhất so với các phƣơng thức thanh toán

khác.

Rủi ro đối với NH phát hành (NH mở L/C- issuing bank): NH phát hành là

NH đại diện cho ngƣời nhập khẩu, nó cung cấp tín dụng cho ngƣời nhập khẩu. Rủi

ro đối với NH phát hành là ở chỗ NH phát hành phải thực hiện thanh toán cho ngƣời

thụ hƣởng theo quy định của L/C bằng nguồn vốn của mình trong trƣờng hợp nhà

nhập khẩu chủ tâm không thanh toán hay không có khả năng thanh toán mặc dù

theo thỏa thuận giữa Applicant và NH phát hành thì “NH không cấp tín dụng mà chỉ

bảo lãnh, Applicant phải dùng tiền của mình để thanh toán”. Vì thế, trƣớc khi chấp

nhận phát hành L/C, NH cần thẩm định một cách chặt chẽ giống nhƣ việc cấp một

khoản tín dụng cho khách hàng.

Rủi ro từ phía ngƣời thụ hƣởng L/C (Beneficiary): Phƣơng thức tín dụng

chứng từ chủ yếu giao dịch trên chứng từ và căn cứ vào việc xuất trình chứng từ



17



phù hợp với các điều khoản và điều kiện trong L/C thì ngƣời thụ hƣởng mới nhận

đƣợc thanh toán. Bộ chứng từ là căn cứ duy nhất để NH trả tiền khó loại trừ khả

năng Beneficiary làm giả chứng từ hoặc thay đổi chứng từ tự đòi tiền trong khi giao

hàng không phù hợp với bộ chứng từ xuất trình và Applicant không có khả năng

thanh toán hoặc thông đồng với Beneficiary về hành vi gian lận thì NH phát hành

phải gánh chịu hoàn toàn rủi ro về việc mất tiền và không có hàng hóa.

Rủi ro từ NH phục vụ ngƣời thụ hƣởng: Đối với các giao dịch L/C cho phép

đòi tiền bằng điện, NH phát hành (hoặc NH hoàn trả) thanh toán ngay khi nhận điện

đòi tiền xác nhận chứng từ phù hợp của NH phục vụ ngƣời thụ hƣởng, rủi ro thanh

toán sẽ xảy ra nếu NH này có sự gian lận trong việc thực hiện kiểm tra chứng từ.

Rủi ro từ phía thị trƣờng hàng hóa nhập khẩu: Một điều rất rõ ràng là nếu thị

trƣờng hàng hóa nhập khẩu không thuận lợi thì ngƣời yêu cầu mở L/C sẽ gặp khó

khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa cũng nhƣ thanh toán tiền hàng, điều này tất yếu

ảnh hƣởng đến khả năng và uy tín thanh toán của NH phát hành.

Rủi ro khi mở L/C với điều khoản “Một bản vận đơn gốc ngoài tầm kiểm

soát của ngân hàng”: Khi mở L/C với một bản vận đơn gốc đƣợc ngƣời thụ hƣởng

gửi về trƣớc cho ngƣời yêu cầu mở L/C, cho dù vận đơn đƣợc lập theo lệnh của NH

(do ký quỹ không đủ 100% trị giá L/C), NH cũng không thể kiểm tra và xác định

trƣớc sự đảm bảo thanh toán của ngƣời yêu cầu mở L/C khi bộ chứng từ về đến

quầy của ngân hàng.

Rủi ro phát sinh ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng: Theo UCP600, rủi ro

xảy ra cho ngƣời yêu cầu mở L/C do việc không nhận đƣợc bộ chứng từ bản chính

do bị thất lạc trong quá trình chuyển giao từ NH xuất trình đến NH phát hành nhƣng

NH vẫn phải thực hiện thanh toán. Tuy nhiên, nếu ngƣời yêu cầu mở L/C không có

khả năng thanh toán thì NH phát hành phải gánh chịu rủi ro này.

Rủi ro khi xử lý chứng từ bất hợp lệ: NH phát hành (hoặc NH xác nhận) mất

quyền từ chối chứng từ bất hợp lệ và phải thực hiện thanh toán bất kể tính bất hợp

lệ của chứng từ khi: thông báo từ chối chứng từ nhƣng không nêu rõ các bất hợp lệ,

thông báo chứng từ bất hợp lệ bị bác bỏ bởi NH xuất trình bằng các lý do thuyết



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Các phương thức thanh toán xuất nhập khẩu

Tải bản đầy đủ ngay(102 tr)

×