Tải bản đầy đủ - 142 (trang)
3 Thành phần và tính chất thuốc nhuộm

3 Thành phần và tính chất thuốc nhuộm

Tải bản đầy đủ - 142trang

Chương 2: Tổng Quan



thập niên 40 của thế kỉ XX, các nhà khoa học chuyển sự quan tâm đến các đặc tính của

các thuốc nhuộm có chứa phần dư clorua cyanuric (2-1) – các phẩm nhuộm triazinyl

Cl

N



N



Cl



( 2 - 1)



N



Cl



Có thể làm cho các nguyên tử clo trong clorua cyuanuric kết hợp với một, hai

hoặc ba hợp chất chứa các nhóm hydroxyl hoặc amino gắn vào các phân tử màu. Các

phản ứng với nước, rượu và amin được tóm tắt dưới đây

OH

H2 O



N



N



Cl



N



N

Cl



N

N



N

Cl



R.OH

Cl



N



Cl



Cl



N



N



N

N



N

Cl



Cl



HO



N



N



N

OR



OR



Cl



Cl



N



N



N

N



N



(2-2)

OR



R.NH



R.NH

N



OH



OR

N



Cl



N

N



OH



N



OR



R.NH

RNH2



N



N



OR



Cl



OH



OH



R.NH



R.NH



N

N



R.NH



Một đặc tính đặc biệt quan trọng của phần dư clorua cyanuric là một hoặc hai

nguyên tử Clo bị bỏ lại không được thay thế thì chúng sẽ tác dụng với nhóm hydroxyl

của xenlulo. Phản ứng giữa thuốc nhuộm diclo-triazinyl và xenlulo xảy ra ở nhiệt độ

20oC (68oF) được minh họa dưới đây:

Cl



O Cellulose



N



N



N



NaSO3 - Dye - NH



+ HO Cellulose



NaSO3 - Dye - NH



N



+ HCl



(2-3)



N



N



Cl



Cl



và nó có thể dẫn đến giai đoạn khác để liên kết với 2 nguyên tử xenlulo như trong

(2-4), mặc dù không phải là trong tất cả mọi trường hợp nó đều có thể làm như vậy ở

nhiệt độ 20oC



-5-



Chương 2: Tổng Quan



O Cellulose

N

NaSO3 - Dye - NH



(2-4)



N

N

O Cellulose



Có thuốc nhuộm triazinyl có thể cùng một lúc tiến hành thủy phân với nước để

tạo thành hợp chất được biểu diễn bởi (2-5)

Cl

N

NaSO3 - Dye - NH



+



N



2H2O



N

Cl

OH

N

NaSO3 - Dye - NH



N



+ 2HCl



(2-5)



N

OH



Và tạo ra sản phẩm của sự thủy phân sẽ làm giảm hiệu suất của thuốc nhuộm.

hơn nữa, các hợp chất của dạng (2-5) có thể tác dụng lên xenlulo. Chúng không có độ

bền ẩm vì không có liên kết cộng hóa trị nào được tạo ra. Nếu không bị đẩy ra chúng

có thể làm giảm các đặc tính hữu dụng của hợp chất xenlulo diclo-triazinyl.

Loạt các thuốc nhuộm hoạt tính xuất hiện đầu tiên là các màu Procion của I.C.I.

và tất cả đều là các dẫn xuất Dichlorotriazinyl. Một số ví dụ là (2-6),(2-7),(2-8):

O

SO3Na



SO3Na



Cl



NH



N N



N



H 2N

SO3Na



N



CH3



( 2 - 7)



Cl

NH



O



( 2 - 6)



NH



N

NH



Cl



N

N



Cl



SO3Na



Cl

N

SO3Na



OH



NH



N

N



N N



Cl



( 2 - 8)



SO3Na



NaO3S



Các phẩm nhuộm Procion, nhờ có các nhóm acid sulphonic trong phân tử của

chúng nên dễ tan trong nước. Trong dung dịch trung tính, chúng có tính tồn tại với

xenlulo giống những thuốc nhuộm trực tiếp có ái lực thấp, có độ bền ẩm thấp và chúng

được tận trích tốt hơn khi có sự hiện diện của một chất điện phân. Độ tận trích của một

số thuốc nhuộm trực tiếp và thuốc nhuộm Procion trong các dung dịch trung tính có

chứa 5 và 30% muối ăn ở nhiệt độ 20oC và 60oC được trình bày ở bảng 2-1. Trong

dung dịch trung tính có thể xảy ra sự hấp phụ vật lý và tạo sự liên kết hydro, nhưng



-6-



Chương 2: Tổng Quan



không có sự tạo liên kết hóa trị đôi. Các liên kết này chỉ được tạo ra khi cho thêm kiềm

vào dung dịch.

Bảng 2-1 Độ tận trích của các thuốc nhuộm theo

theo nhiệt độ và nồng độ muối.

20oC



Nhiệt độ



60oC



Nồng độ muối ăn (g/l)



5



30



5



30



Chrysophenine GS



93



99



79



82



Chorazol xanh da trời FFS



99



100



96



100



Vàng Procion RS



85



91



72



75



Đỏ tươi Procion 2Bs



23



30



9



10



Xanh Procion 3 GS



30



36



11



12



Các số liệu trên đã xác định thứ tự chung của các ái lực.

Hiện tượng liên kết hóa học chỉ xảy ra sau khi cho thêm kiềm dựa trên những yếu

tố sau:

 Trước khi xử lý kiềm, màu có thể bị tẩy đi do bị tách nhiều lần với nước

trung tính, nhưng sau đó nó bền với dung dịch xà phòng sôi.

 Màu có thể bị tẩy khỏi vật liệu bằng xenlulose được nhuộm với thuốc

nhuộm trực tiếp, thuốc nhuộm azo, thuốc nhuộm hoàn nguyên bằng cách

đun sôi với pyridin, ortho-chlorophenol hay clorofom, nhưng điều này

không xảy ra với thuốc nhuộm Procion được gắn màu bằng tác dụng của

kiềm. Vì vậy, có thể kết luận là một lực liên kết với tính chất khác đã được

hình thành.

 Khi nói về hoạt tính hóa học thì có thể coi rượu polyvinyl tương tự

xenlulo. Khi một mẩu dung dịch rượu polyvinyl có chứa các thuốc nhuộm

Procion, và một mẩu chứa thuốc nhuộm anion, được rót lên bề mặt của

một dung dịch của natri hydroxit đã bão hòa với muối, chúng phản ứng

khác nhau. Khi có sự hiện diện của thuốc nhuộm Procion, một lớp màng

được tạo ra, và nó có thể sôi với nước mà không bị phân hủy, nhưng màng

được tạo ra với thuốc nhuộm anion trong điều kiện tương tự thì bị phân

hủy nhanh chóng và tan.

 Xenlulo được nhuộm với các thuốc nhuộm Procion trong những điều kiện

nhất định không tan trong dung dịch amoniac đồng vì vậy khác với sợi

được nhuộm bằng các phẩm nhuộm trực tiếp.

 Vàng Procion R chứa một nhóm azo có thể được tăng cường độ bằng sự

khử, để lại 2 thành phần với các nhóm amino ban đầu.

RN=NR’ + 4H  RNH2 + R’NH2



-7-



Chương 2: Tổng Quan



Nếu xenlulo nhuộm bằng vàng Procion R bị khử, một nửa phân tử vẫn gắn chặt

vào sợi và nó có thể bị diazo hóa và cặp với phenol hoặc một amin để tạo một thuốc

nhuộm mới và công đoạn này có thể được lặp lại nhiều lần..

Đồng thời với sự gắn màu của thuốc nhuộm lên xenlulo là một phản ứng không

mong muốn xảy ra giữa các nguyên tử Clo trong các nhóm Clorua cyanuryl và nước,

tạo ra một mono hoặc một hợp chất đihydroxyl với những hiệu ứng/ảnh hưởng xấu

như đã giải thích.

OH

N

R.C



N

N



OH



( 2 - 9)



C.Cl



N

R.C



( 2 - 10)



N

N



OH



Vì phản ứng thủy phân này nên các dung dịch của các thuốc nhuộm hoạt tính

không thể lưu giữ được trong thời gian dài mà không bị mất giá trị màu tiềm tàng. Khi

nhiệt độ tăng thì tốc độ thủy phân càng nhanh vì vậy khi hòa tan thuốc nhuộm và trong

suốt thời gian sử dụng nó trong bể nhuộm, nhiệt độ không được tăng trên 40 oC.

Dawso, Fern và Preston đã kết luận rằng trong các điều kiện nhuộm, cả hai mono- và

các hợp chất đihydroxy có xu hướng tạo ra các hợp chất đihydroxyl trong thời gian độ

kiềm trong dung dịch tăng lên. Điều này được biểu thị trên đồ thị (hình 2-2)



Hình 2-2 Sự thủy phân Vàng-Procion-R (25g Soda khan/lít ở 60oC)

Xenlulo chứa cả 2 nhóm rượu bậc một và bậc hai để xác định nhóm nào tham

gia phản ứng, người ta đã làm các thí nghiệm với n-propanol, rượu bậc một và

isopropanol là rượu bậc hai. Tốc độ của phản ứng với n-propanol nhanh gấp khoảng 7

lần so với isopropanol và vì vậy hoàn toàn hợp lý khi cho rằng với xenlulo thì sự kết

hợp dễ xảy ra hơn với các mạch bên của rượu bậc một. Các tốc độ phản ứng của ĐỏProcion G trong dung dịch NaOH 0.1N ở 20oC với các hợp chất khác nhau có chứa các

nhóm OH- được trình bày trong bảng 2-2



-8-



Chương 2: Tổng Quan



Bảng 2-2 Tốc độ phản ứng của Đỏ-Procion-G trong

dung dịch NaOH 1N với các hợp chất khác nhau.

Hợp chất



Tốc độ tương đối của

phản ứng



Nước



1.0



Rượu metyl



12.3



Rượu etyl



7.4



n-propanol



4.8



Isopropanol



0.7



Glucose



5.5



α-metyl glucosit



7



Qua bảng 2-2, ta thấy tốc độ phản ứng với nước chậm hơn nhiều so với phần lớn

các hợp chất hữa cơ và vì vậy phản ứng thủy phân không mong muốn sẽ không xảy ra

trước khi thuốc nhuộm có thời gian để kết hợp với xenlulo. Diễn thái với α- metyl

glucosit, trong đó phản ứng xảy ra nhanh gấp 7 lần so với nước.

2.3.1.2 Ứng dụng của thuốc nhuộm hoạt tính dichlorotriazinyl

Nhuộm vải coton: thuốc nhuộm được hòa tan vào nước lạnh thành bột nhão, sau

đó pha loãng với nước và nhiệt độ không vượt quá 50 oC. Một dung dịch gốc chỉ giữ

được độ ổn định khoảng hơn 4h, sau đó nó bắt đầu giảm nồng độ do thủy phân. Lượng

muối ăn, soda khan và natri bicacbonat cần thiết để cho vào trong quá trình nhuộm tùy

vào độ đậm lợt của dung dịch thuốc nhuộm

Phương pháp natri bicacbonat được sử dụng nhiều khi nhuộm những màu xẫm và

những vật liệu khó thấm vì nó cho độ đồng đều và sự tận trích thuốc nhuộm tốt hơn

với phần lớn các thuốc nhuộm. Có thể điều chỉnh gam màu bằng cách cho thêm thuốc

nhuộm hoạt tính đã hòa tan sẵn vào dung dịch kiềm, nhưng tốt nhất nên chọn những

thuốc nhuộm có tính trực tiếp tương đối thấp như: Vàng tươi Procion M-4G, vàng

procion M-4R, Đỏ nâu procion M-4R, Đỏ Procion M-G, Xanh Procion M-3G, xanh

tươi Procion M-R



-9-



Chương 2: Tổng Quan



Bảng 2-3

Lượng muối ăn, soda khan và natri bicacbonat cần thiết để

cho vào trong quá trình nhuộm

Kiềm, 40oC



Kiềm, 60oC



Độ đậm màu



Soda khan



Soda khan



Natri bicacbonat



Muối ăn



Đến 0.5%



3‰



1.5 g/l



1.5 g/l



30g/l



0.5 -2%



4‰



2g/l



2g/l



40g/l



2 - 4%



7‰



3,5g/l



3,5g/l



50g/l



Trên 4%



10‰



5g/l



5g/l



60g/l



Việc sử dụng thuốc nhuộm Hoạt Tính được chia thành 2 pha riêng biệt. trong 30

phút đầu nó hấp phụ bởi sợi bằng một cơ chế tương tự như của thuốc nhuộm trực tiếp,

kết quả là sự tận trích khác biệt từ 25-90% tùy thuộc bản chất của thuốc nhuộm.

2.3.1.3 Thuốc nhuộm Hoạt Tính có liên kết yếu

Một vài thuốc nhuộm Hoạt Tính cần có một số thay đổi từ phương pháp ứng

dụng thông thường. thuốc nhuộm liệt kê dưới đây có ái lực yếu với tỷ lệ chất lỏng cao

chỉ phản ứng hoàn toàn khi cho thêm nhiều muối vào:

Procion Brilliant Yellow M-2G

Procion Brilliant Yellow h-5G

Procion Orange Brown H-G

Procion Scarlet H-R

Cibacron Brilliant Blue C4GP

Cibacron Black RP

Với loại Procion Brilliant Blue H-5G và H-7G cũng như Cibacron Turquise BlueG là các dẫn xuất phthalocyamine nên sau khi thêm kiềm vào dung dịch nhuộm sẽ tăng

nhiệt độ lên đến 85-90oC. Do đó nên sử dụng hỗn hợp sodium hydroxite và Na 2CO3 để

cải thiện sự bền màu.

2.3.1.4 Độ bền màu của thuốc nhuộm Hoạt Tính

Độ bền màu với ánh sáng sau khi làm thí nghiệm giặt ở 85 oC thời gian 30 phút và

thực hiện trong dung dịch chứa 5g/l xà phòng ta thu được kết quả sau:



- 10 -



Chương 2: Tổng Quan



Bảng 2-4



Độ bền màu với ánh sáng sau khi làm thí nghiệm

Độ bền



Loại



Ánh sáng



Giặt



Tẩy trắng Hypochlorite



Procion Yellow M-6G



6-7



5



1



Procion Yellow M-GR



6



5



4-5



Procion Yellow M-4R



5



5



1



Procion Scarlet M-G



4



4



2



Procion Brilliant Blue M-R



6-7



4



1



Procion Brilliant Orange H-GR



4-5



4



1



Procion Brilliant Blue H-5G



5-6



5



3



Người ta nhận thấy rằng có nhiều loại thuốc nhuộm Hoạt Tính không có độ bền

màu cao vì thường bị bay màu tự nhiên theo thời gian dưới điều kiện thời tiết bình

thường. Khi để lâu ngoài không khí dưới ánh sáng thường nó phai màu nhanh hơn

nhiều so với các mẫu của phòng thí nghiệm dự đoán.

Do chỉ có ái lực thấp trong gian đoạn hấp phụ trung tính và dễ có được các loại

thuốc nhuộm bền ở giai đoạn ổn định kiềm kế tiếp nên thuốc nhuộm Hoạt Tính phù

hợp nhất với quá trình nhuộm liên tục.

Xét về khía cạnh cơ học, đơn giản nhất là dùng phương pháp bán liên tục. Theo

phương pháp này vải được cho vào dung dịch thuốc nhuộm Hoạt Tính cùng với một ít

tác nhân thấm, một lượng sodium bicarbonate vừa đủ để nồng độ thuốc nhuộm đạt

trạng thái cân bằng. Vải được cho vào từng mẻ theo trục cuốn kéo tròn, đi qua trục cán

cuộn tròn và giữ lại 24h rồi sau đó đem đi giặt.

Mỗi mẻ nhuộm, sodium bicarbonate lạnh được thêm vào để cải thiện độ ổn định

của dung dịch nhuộm vì theo qui trình trục cuốn vải sẽ phải lấy nguyên liệu liên tục từ

thùng chứa nguyên liệu vào bể nhuộm nên khó mà đảm bảo độ ổn định trong bể

nhuộm. Tính kiềm càng mạnh thì dung dịch càng mau đạt tới trạng thái ổn định vì thế

mà các nhất như tro soda, trisodium phosphate, sodium metasilicate hay sodium

hydroxite khi thêm vào dung dịch nhuộm thì mau ổn định nhưng lại kém bền hơn.



2.3.1.5 Liên kết Remazol

Năm 1949, Farkwerke HoachstA.G công bố phát minh các điều chế thuốc nhuộm

có công thức chung như (2-11) và (2-12)

D.SO2.CH2.CH2.O.SO3H

- 11 -



(2-11)



Chương 2: Tổng Quan



D.SO2.CH2.CH2Cl



(2-12)



Và nếu phân tử thuốc nhuộm D. có chứa một hay nhiều hơn nhóm hòa tan thì sản

phẩm đó là thuốc nhuộm Remazol. Loại dung dịch thuốc nhuộm này phản ứng với

kiềm theo phản ứng như sau:

D.SO2.CH2.CH2.O.SO3Na + NaOH



 D.SO2.CH=CH2 + Na2SO4 + H2O (2-13)



Hợp chất D.SO2.CH=CH2 là vinyl sulphone có nhóm –SO2- có tính phân cực

mạnh trong gốc vinyl: [CH=CH2]

Liên kết đôi được hoạt hóa phản ứng với nhóm OH - trong trong rượu và

xenlulose

D.SO2.CH=CH2 + R.OH  D.SO2.CH2.CH2.OR



(2-14)



Khả năng phản ứng của thuốc nhuộm nằm đâu đó giữa màu sắc của di- hay

monochlorotriazinyl.

Mặt khác, phản ứng phụ tạo thành hydroxyethyl sulphone mà nó luôn xảy ra ở

mức độ lớn hay nhỏ trong suốt quá trình nhuộm

D.SO2.CH=CH2 = H2O  D.SO2.CH2.CH2OH



(2-15)



Khi tăng nhiệt độ hoặc tăng pH lên cao tạo thuận lợi cho việc tạo ra các sản phẩm

thủy phân. Liên kết của thuốc nhuộm với sợi có thể bị phá vỡ bởi tác động của kiềm ở

nhiệt độ cao. Điều này có nghĩa là khi giặt ở nhiệt độ cao trong môi trường kiềm vải có

thể bị mất màu hay sau khi dùng thuốc nhuộm Remazol nhằm tạo hiệu ứng sợi nên giặt

kỹ lại với dung dịch kiềm mạnh.

Sự tạo thành liên kết hóa học với sợi khi mà xenlulo được nhuộm bằng thuốc

nhuộm Remazol có chứa một nhóm nitơ được khử bởi HSO 3- xảy ra sự diazo hóa tức là

liên kết nhóm hai nitơ của các gốc có ái lực và kết hợp lại từng cặp. Thuốc nhuộm ban

đầu có thể được tái tạo lại nếu các cặp là tương tự như trước khi nhóm nitơ phản ứng

với tác nhân khử.

Len và sợi polymide có thể nhuộm với thuốc nhuộm Remazol và dung dịch

nhuộm gồm hóa chất có cả NaOH. Khi nâng nhiệt độ lên 60 oC trong thời gian 20-30

phút và nhuộm liên tục trong 60 phút. Tại nhiệt độ nhuộm 40 oC trong 10 phút và

nhuộm liên tục trong 90 phút.



Bảng 2-5



Nhiệt độ nhuộm 60oC (thời gian thực hiện 60 phút)

- 12 -



Chương 2: Tổng Quan



Tỷ lệ dung dịch



1:3 – 1:5



1:8 – 1:12



1:15 – 1:30



1



1



1



50



50



50



20-25



10-15



5-10



5



5



5



Phụ gia polyphosphate,g/l

Sodium sulphate Duisburg “R”

hay muối ăn, g/l

Trisodium phosphate tinh thể, g/l

hay dung dịch xút 32,5% và

soda tro, g/l

Bảng 2-6



Nhiệt độ nhuộm 40oC thời gian nhuộm 90 phút



Tỷ lệ dung dịch



1:3 – 1:5



1:8 – 1:12



1:15 – 1:30



Phụ gia polyphosphate,g/l



1



1



1



Sodium sulphate Duisburg “R”

hay muối ăn g/l



50



50



50



Trisodium phosphate tinh thể, g/l

hay dung dịch xút 32,5%



30



15-20



10-15



soda tro, g/l



5



5



5



Bảng 2-7



Nhiệt độ nhuộm 20-30oC thời gian nhuộm 120 phút



Tỷ lệ dung dịch



1:3 – 1:5



1:8 – 1:12



1:15 – 1:30



Phụ gia polyphosphate,g/l



1



1



1



Sodium sulphate Duisburg “R”

hay muối ăn g/l



50



50



50



5



5



5



Dung dịch xút 32,5%

soda tro, g/l



Tại nhiệt độ nhuộm 20-30oC, không cần nhiệt độ riêng nào cả nhưng phải nhuộm

hoàn toàn trong vòng 2 giờ. Sau khi nhuộm, vải cần được đưa vào nước lạnh có pha

acid axetic, sau đó tiếp tục đưa vào nước nóng và cuối cùng giặt sạch bằng nước sôi

với bột giặt trong vòng 5 đến 10 phút rồi giũ sạch bằng một lần nước nóng và một lần

nước lạnh.

2.3.1.6 Ổn định bởi tác nhân đa nhóm chức tạo liên kết ngang



- 13 -



Chương 2: Tổng Quan



Tất cả các thuốc nhuộm Hoạt Tính tham gia kết hợp với nhóm hydroxyl trong

xenlulose ở mức độ lớn hay nhỏ và bị thủy phân bởi các ion OH - dẫn xuất từ kiềm ở

trong bể nhuộm.

Điều này dẫn đến việc làm giảm hiệu suất màu. Thực nghiệm cho thấy các tác

nhân liên kết ngang đa nhóm chức tạo thành cầu nối giữa xenlulo và sẽ gắn chặt thuốc

nhuộm vào sợi.

Theo cơ chế này có nghĩa là thuốc nhuộm nào có chứa một nhóm phản ứng thì có

thể liên kết bởi nối ngang và sau đó sự thủy phân nào xảy ra cũng coi như phân tử nối

ngang. Ví dụ nối ngang sau sẽ được tạo thành:

CO.R

N



( 2 - 16)



R.CO.N



N.CO.R



Trong đó, R có thể là:

-CH2-CH2Cl;

-CHCl-CH2Cl ;



-CCl=CH2



hay



-CH=CH2



Cơ chế phản ứng giữa thuốc nhuộm và sợi như sau:

[Cellulose] - OH



+ R.CO.N



N.CO.R



+ H - [Dye]



N

CO.R



[Cellulose] - R.CO.N



+ H - [Dye]



( 2 - 17)



N.CO.R.[Dye]

N

CO.R.[Dye]



2.3.2 Thuốc nhuộm Sulfur

2.3.2.1



Tính chất



Tính chất đặc trưng của loại phẩm nhuộm này là có chứa liên kết lưu huỳnh

trong phân tử của nó. Đặc biệt loại phẩm nhuộm này không tan trong nước nhưng tan

trong dung dịch Sulphide Sodium (Na2S) để tạo thành Sodiumcarbonat (Na2CO3). Na2S

hoạt động như một tác nhân cắt đứt liên kết Sulfur và chia phân tử thành các thành

phần nhỏ hơn có thể tan trong nước và liên kết với cellulose.

Dye.S – S.Dye + 2H  Dye.SH + HS.Dye



- 14 -



(2-18)



Chương 2: Tổng Quan



Các chất thiol chứa nhóm SH ngay lập tức oxy hóa thuốc nhuộm Sulfur không

tan trong len, sợi để tạo màu với tính chịu ẩm cao.

Dye.SH + HS.Dye + O  Dye.S – S.Dye + H2O



(2-19)



Đầu tiên thuốc nhuộm sulfur đựơc làm vào năm 1873 bởi sự nung hỗn hợp mùn

cưa với sulfur và soda kiềm. Các chất này được hấp phụ trong dung dịch kiềm lên

cotton, tiếp theo đó là sự oxy hóa với Potassium dichromate để tạo thành màu nâu có

tính chịu ẩm khá tốt, tuy nhiên màu này không đựơc giới thương mại ưa chuộng.

Người đầu tiên chế tạo ra thuốc nhuộm Vidal Black năm 1893 là Vidal bằng

cách pha trộn từ paraphenylenediamine hay para-aminophenol với sodium sulphite và

sulphur. Đây là những chất cần thiết để oxy hoá Vidal Black trên sợi với potassium

dichromate để tạo thành màu đen. Năm 1897 Kalisher đã pha chế thuốc nhuộm

Immedial Black FF bằng cách nung nóng hỗn hợp 2:4-dinitro-4’-hydroxy

diphenylamine với sodiumpoly-sulphite và đã được thành công lớn vì không cần phải

oxy hoá với dichromate. Khám phá này đã cho ra đời hàng loạt các loại thuốc nhuộm

có chứa sulphur bởi hỗn hợp sulphur và kiềm dưới tác động của nhiệt như các hỗn hợp

phenols, amines, hỗn hợp nitro và quinoneimine. Tuy nhiên đây chỉ là phương pháp

dựa trên thực nghiệm nên không ai biết cấu tạo công thức của nó ra sao. Sau này nó

được khám phá là một phức chất có chứa sulphur và tỷ lệ của nó được tính trong trạng

thái so sánh không bền của hỗn hợp vì hydrogen sulphite sẽ bị tách ra trong phản ứng

với tác nhân khử mạnh như stannous chloride và hydrochloric acid.

Thuốc nhuộm sulphur có thể nhận biết được thông qua sự tách hydrogen sulphite

khi phản ứng với các tác nhân khử theo cách như sau. Lấy một ít thuốc nhuộm cho vào

một ống nghiệm cho phản ứng với SnCl và HCl. Trên miệng ống chỉ phủ một miếng

giấy lọc ở giữa miếng giấy này có nhỏ một giọt acetate chì. Đun nhẹ ống nghiệm đến

khi sôi. Do có sự hiện diện của hydrogen sulphite giấy sẽ chuyển thành màu đen vì tạo

thành sulphite chì.

Như đã biết phân tử chất của các thuốc nhuộm sulphur là do phản ứng cộng trừ.

Ví dụ đây là một trong những phản ứng được tạo thành khi sulphur nung nóng với

para-toluidine để tạo thành dehydrothio-toluidine:

H3 C



NH2



+ H3 C



NH2



+ 3S



N

H3C



NH2



S



+



2H2



+



2H2S



( 2 - 20)



Dehydrothio-toluidine lại tiếp tục phản ứng với một phân tử khác của toluidine.

Quá trình này sẽ được lặp lại cho đến khi tất cả các phân tử phức được tạo thành.



- 15 -



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Thành phần và tính chất thuốc nhuộm

Tải bản đầy đủ ngay(142 tr)

×