Tải bản đầy đủ - 33 (trang)
Chương II. Những cơ sở tác động tiêu cực đến văn hóa từ chức ở Việt Nam

Chương II. Những cơ sở tác động tiêu cực đến văn hóa từ chức ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 33trang

vẫn có người sẽ trở lại quan trường khi được mời, được trọng dụng, tài sức

vẫn phụng sự cho nhân dân, tổ quốc khi cần, mộng sĩ phu vì thế đã tô điểm

thêm cho nét đẹp của văn hóa treo án từ quan mà không đánh mất sự thanh

liêm, đáng kính trong tư cách và nhân cách.

Là một nhà sử học, đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đã từng có

lời khẳng định: “xa xưa, các cụ nhà ta coi việc cáo quan hồi hương là một

cách giữ tiết tháo”. Và sau này, trong Đảng ta cũng có Tổng bí thư Trường

Chinh - người có công lớn với Cách mạng tháng Tám năm 1945, sau khi nhận

trách nhiệm chính trị về những sai lầm trong cải cách ruộng đất 1956, ông đã

từ chức và tiếp tục phấn đấu để rồi ba thập kỷ sau trở lại với cương vị Tổng bí

thư, kịp góp phần khởi động công cuộc đổi mới trước khi từ trần". Đó là

những tấm gương sáng, những tấm gương làm nên nét đẹp của Văn hóa Từ

chức của Việt Nam.

Tuy nhiên, trong thời gian hiện đại ngày nay, cùng với sự phát triển của

đất nước lại kéo theo sự suy đồi của nhân cách, đạo đức người làm cán bộ,

người làm quan. Khí chất thanh liêm không còn và trong nhiều năm trở lại

đây, văn hóa Từ chức đã trở thành một nếp sống xa xỉ trong đời sống cán bộ,

viên chức và dù có hàng ngàn sai phạm họ vấn cố giữ cho được chức vị của

mình. Lý do cho vấn đề đó là tại đâu? Và Văn hóa từ chức bao giờ mới có thể

trở thành một nếp văn hóa ở nước ta, điều đó vẫn còn là một vấn đề đáng bàn.

2. Văn hóa Từ chức Việt Nam đương đại và những tác động tiêu

cực.

2.1 Văn hóa Từ chức ở Việt nam đương đại và những trở ngại

Người ta vẫn hay quan niệm văn hóa từ chức là một hành động rất đặc

biệt trong xã hội. Khi người được giao trách nhiệm đã cố tình hay không đủ khả

năng làm tròn thì với lòng tự trọng của mình người đó sẽ tự nguyện xin từ chức.

Hiện nay, vấn đề văn hóa từ chức ở nước ta đang được nhiều nhà nghiên

cứu đề cập đến. Từ chức chỉ được xem là một hành vi có văn hóa khi người ta

10



tự nguyện và mang lại ý nghĩa tốt đẹp cho xã hội. Ở các nước phát triển, từ

chức là văn hóa hành xử của những người có chức, có quyền và đã trở thành

trách nhiệm của người có chức, có quyền, được dư luận xã hội chấp nhận.

Một đất nước văn minh thì không thể đợi đến khi bỏ phiếu bãi nhiệm

rồi mới nghỉ. Thực tế nước ta hiện nay, đã có nhiều vấn đề khiến cử tri bức

xúc, tại sao khi có những vụ việc khiến người dân bức xúc như thế nhưng

không thấy ai lên tiếng từ chức..Nêu vấn đề nhiều tập đoàn, tổng công ty của

Nhà nước thua lỗ hàng nghìn tỉ đồng, cử tri Nguyễn Văn Thanh (phường

Hàng Bột, Q.Đống Đa) cho rằng việc xem xét, nhìn nhận trách nhiệm của

người đứng đầu ở đây chưa đúng mức. “Tại sao lỗ lớn như thế, thất thoát lớn

như thế mà không thấy ai từ chức. Chúng ta khuyến khích tự giác nhưng khi

người đứng đầu thiếu tự giác thì rất cần phải rạch ròi trách nhiệm, phải rõ cơ

chế để buộc từ chức”.

Tại sao việc từ chức lại khó đến như vậy và ở ta chưa có văn hóa từ

chức? - đó là câu hỏi mà nguyên nhân có thể khái quát từ những điểm nổi bật

sau:

Thứ nhất: Ở nước ta, chức tước thường đi đôi với quyền lực, thường

gắn với lợi ích, bổng lộc, đặc quyền, đặc lợi. Nếu từ chức có nghĩa sẽ không

còn gì cả.

Thứ hai: tư tưởng học để “làm quan” đã ăn sâu, bén rễ trong tâm thức

người Việt và vì thế truyền thống coi “làm quan” là một sự thành đạt cao nhất.

Thứ ba: dư luận xã hội chưa được định hướng để đồng tình hay ủng hộ

việc tự nguyện từ chức. Nếu ai đó là đảng viên thì viện dẫn đây là nhiệm vụ

Đảng giao, nếu từ chức lại coi là không có tinh thần đảng viên, phai nhạt lý

tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu… từ chức là để trốn tránh trách nhiệm, để

thoát tội, để hạ cánh cho an toàn…

Hơn nữa, khi có chức tước, nhiều người đã nhờ có chức ấy mà cải thiện

được tình hình kinh tế, có biệt thự riêng, có ô tô đắt tiền, có điều kiện để con

cái được đi học tại nước ngoài... tuy lương bổng nhà nước trả không đáng là

11



bao nhưng “lộc” của các vị ấy lại là con số rất lớn. Vì thế, làm sai, từ chức để

mất “lộc” là một việc vô cùng khó khăn, là điều không thể nhất là với những

chiếc ghế, những chức vụ cao. Riêng nữa, có những đường dây đã được liên

kết chặt chẽ, chằng chịt về quyền lợi từ trung ương đến địa phương, thì làm gì

có chuyện “từ chức” khi các quan chức nằm trong lợi ích nhóm. Không thể có

hiện tượng “đứt dây” nửa chừng. Bởi vì lợi ích nhóm, nên họ phải bảo vệ lẫn

nhau, hoặc “ giơ cao, đánh khẽ’ cho phải lối. “đứt dây động rừng” nên chuyện

“từ chức” không phải là dễ. “Chờ ý kiến kết luận từ Trung ương, từ Ban tổ

chức”… có lẽ cũng vì thế!

Lãnh đạo ở nước ta, vai trò cá nhân trông có vẻ lớn, nhưng lớn khi

hưởng bổng lộc, còn rất nhỏ về trách nhiệm. Vì tất cả đều có sự chỉ đạo của

Trung ương, của Ban tổ chức, của kiểm tra Đảng, của sự “thống nhất cao

trong thường vụ”… Khi đương chức, không bị lộ về bổng lộc, về khuyết điểm

thì cứ an tọa, tận hưởng. Còn khi có khuyết điểm, có đủ ngàn cách bao biện

để tại vị, mà một trong những luận điểm đưa ra để bào chữa là: “ Tôi thực

hiện đúng nghị quyết của Đảng, nghị quyết của Đảng bộ, của Thường vụ…”

Trăm tội cứ đổ lên đầu “nghị quyết”, “chỉ thị”, “luật”, “Thường vụ”, “tập

thể”… và cá nhân không phải chịu trách nhiệm hoặc đã trốn tránh xong.

Một điều nguy hại nữa là cái “phao” của những loại quan tham, bất tài,

suy đồi đạo đức họ bám vào là luôn nhân danh Đảng, Nhà nước XHCN! Nếu

dư luận báo chí phê phán thì rất dễ bị họ quy vào tội : “có các thế lực phản

động đứng đằng sau kích động, phá hoại làm giảm uy tín Đảng nhằm chống

phá chế độ…”

Quan niệm chức quyền nước ta còn nặng nề. Ngoài quyền lực còn gắn

liền với danh tiếng, lợi lộc. Nhờ chức vụ, họ có thêm các mối quan hệ, tình

cảm, lương bổng.Mất chức kéo theo mất quyền lợi, thậm chí ảnh hưởng danh

dự, uy tín của người đó. Mặt khác, mỗi trường hợp từ chức thường bị gắn với

hình ảnh không tốt, nhận định chưa đúng về người đó.

12



Ở nước ngoài, người ta từ chức chức vụ này có thể sang làm các vị trí

khác, lĩnh vực khác, nhưng ở Việt Nam đã từ chức hầu như “về vườn”, hết

đường tiến thân. Do dư luận, cơ chế xã hội còn nặng nề như thế nên nhiều

người không đủ dũng khí để từ chức..

Quan trọng hơn, lâu nay chúng ta vẫn quan niệm rằng chức vụ của một

ai đó là do nhân dân uỷ thác và do Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân bố

trí hoặc giới thiệu ra ứng cử… Với quan niệm như vậy, cán bộ, công chức,

quan chức các cấp xem việc bố trí, bổ nhiệm, lên xuống, ra vào là chuyện của

tổ chức, còn bản thân chỉ biết tuân thủ.

Ngày nay, chúng ta vẫn bị ảnh hưởng nhiều bởi chế độ quan liêu bao

cấp, khi mà cơ hội của đời người chỉ tập trung vào một dãy ghế, rời vị trí ghế

thấp để đến được với chiếc ghế ở hàng cao hơn chứ ít ai chịu rời bỏ chiếc ghế

chức tước để trở về một vị trí quèn không có chút quyền lợi, địa vị gì. Khi mà

cơ hội do cơ chế thị trường mang lại chưa nhiều, chức tước vẫn đem lại nhiều

cơ hội và quyền lợi hơn.Thì từ chức rồi lấy cái gì để sống. Một nguyên nhân

nữa là vấn đề dư luận xã hội, nếu từ chức vì lương tâm nghề nghiệp nhưng

tiếng tăm, lời bàn ra tán vào của người thân, cộng đồng, xã hội vẫn gần như là

một trở ngại rất lớn. Còn khi dư luận cảm thấy chuyện từ chức là bình thường

thì sức ép và áp lực lên vai người quan chức cũng nhẹ hơn.

Tại nhiều nước, những nhân vật có tiềm năng kinh tế sau đó mới đi vào

con đường chính trị, với họ việc làm chính trị như một sự thôi thúc chứ không

phải vì lẽ kiếm sống, họ đã có nền tảng kinh tế tốt nên họ không cần nghĩ tới

làm quan vì quyền lợi, vì tham nhũng mà chuyện từ chức với họ sẽ dễ dàng

hơn rất nhiều. Ví dụ như thủ tướng của Italia, thủ tướng của Thái Lan.

Còn ở Việt Nam, nhiều khi người ta làm chính trị vì mục đích kinh tế,

chức càng cao thì tham nhũng càng lớn, có thể ban đầu người ta là người tốt,

nhưng khi có chức có quyền thì lại tham nhũng, trở thành quan tham, tha hóa

bản thân, mang nặng cái nhìn về quà cáp, lễ lạt, ơn huệ...

Một khía cạnh khác có thể làm nản lòng bất cứ ai muốn từ chức, đó là

13



thủ tục. Nhiều khi muốn từ chức, nhưng thủ tục miễn nhiệm rất phức tạp. Một

bộ trưởng muốn từ chức sẽ phải trải qua rất nhiều vòng xem xét, phê chuẩn,

có khi còn phải trình ra Quốc hội bỏ phiếu miễn nhiệm… Như vậy quá nặng

nề và quá mất thời gian, khiến ngay cả người có thiện chí xin từ chức cũng

ngại. Thêm vào đó, quan chức của Việt Nam lên chức cao thường là do Đảng

phân công, nếu từ chức thì cũng có nghĩa là chối bỏ sự phân công.

Ngày nay, không hiếm một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có

những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý cao cấp, suy thoái về tư tưởng

chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý

tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi,

tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc.

Phát biểu tại khai mạc Hội nghị TW IV Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã

nêu rõ: "Chúng ta biết rằng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc rất khó,

rất phức tạp, vì nó liên quan đến xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là

công tác con người, dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con

người. Khó nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của

Đảng và sự tồn vong của chế độ"

Trong một xã hội văn minh, khi người được giao trách nhiệm đã cố tình

hay không đủ khả năng làm tròn thì với lòng tự trọng của mình người đó

thường tự nguyện xin từ chức. Văn hóa từ chức là một thứ văn hóa phổ biến ở

các nước có nền dân chủ thật sự. Một sự từ chức đáng kính trọng.

Ông Hoàng Hữu Việt nói: "Tham nhũng của đất nước có hơn 60.000 vụ

mà số lượng phát hiện được của các cơ quan chức năng thì quá ít."Hiện nay

đang có hiện tượng biến vụ việc tham nhũng to thành nhỏ, vụ nhỏ hóa thành

không."Việc xử lý cấp trên không nghiêm, cấp dưới cũng không sợ. Điều này

chính là điều khiến người dân rất lo lắng và bức xúc."

Vấn đề đáng bàn hơn đó là khi có những viecj làm sai phạm nghiêm

trọng , gây hậu quả thiệt hại nặng nề cho nhà nước và nhân dân nhưng không

có ai từ chức (tạm tính trong khoảng 15 năm trở lại đây), hình như chưa có

14



cán bộ đầu ngành nào của Trung ương và địa phương dám thẳng thắn tuyên

bố: “Tôi chịu trách nhiệm về việc đó. Và tôi xin từ chức”. Có thể nói đến nay

“Văn hóa từ chức” vẫn là vấn đề nói dễ, làm khó.



2.2 Văn hóa từ chức ở Việt Nam cần phải có thời gian

Khi ta nói, ở nhiều nước trên thế giới đã hình thành văn hóa từ chức từ rất

lâu. Không phải ngẫu nhiên mà họ có được văn hóa từ chức, mà phải trải qua

quá trình nhận thức, sự kết tinh dân chủ và khuôn khổ pháp luật của mỗi nước.

Ở nước ta, văn hóa từ chức cần phải có thời gian thì người dân mới

quen và thực hiện được. Đây là cả một quá trình khởi điểm, có kinh nghiệm,

thành công, thất bại và được hình thành từ nhận thức, việc làm của người dân.

Việt Nam có những thể chế, luật pháp đặc thù riêng. Việc đề bạt, thăng

chức, cách chức, phê chuẩn từ chức của một cán bộ lãnh đạo nào đó phải trải

qua nhiều quy trình. Quan điểm sử dụng và đánh giá cán bộ của chúng ta khác

so với nhiều nước. Tuy nhiên, trong tương lai, Việt Nam nên và cần hình

thành văn hóa từ chức không chỉ qua những cuộc lấy phiếu tín nhiệm mà nên

mở rộng dưới nhiều hình thức khác nhau.

Có vô cùng nhiều lý do để một nhà lãnh đạo cấp cao đệ lá đơn từ chức.

Họ có thể cảm thấy không đảm đương được công việc hoặc để xảy ra những

hậu quả, làm mất lòng dân thì và vì lòng tự trọng của một người đã được tin

tưởng, họ sẵn sàng từ chức. Cũng có người từ chức vì nhận thấy rằng trong

các sự việc đáng tiếc xảy ra, dù chỉ liên quan một phần rất nhỏ, nhưng mình

phải chịu trách nhiệm với tư cách lãnh đạo cao nhất. Từ chức dù không phải

là việc làm dễ dàng nhưng đối với họ là cần thiết và nên làm. Nó đã trở thành

một nét văn hóa trong đời sống chính trị tại nhiều nước.

Xây dựng Văn hóa Từ chức phải bắt nguồn từ Văn hóa chính trị, thiếu

văn hóa chính trị thì khó có văn hóa từ chức, để có văn hóa từ chức và xác lập



15



chế độ, trách nhiệm cho cán bộ, quan chức thì chúng ta phải nhìn nhận bộ

trưởng như là một chính khách và phân biệt rõ ràng giữa các chính khách và

các quan chức thuộc hành chính-công vụ, thì việc xác lập chế độ trách nhiệm

mới đỡ khó khăn và không dễ bị lẫn lộn".

Ở một số nước trên thế giới có việc người đứng đầu ngành mình quản

lý đã từ chức để nhận trách nhiệm về một vụ việc nào đó liên quan đến ngành

mình. Ví dụ, bộ trưởng giao thông có thể từ chức khi một chiếc cầu bị sập hay

một chiếc máy bay bị rơi. Tuy nhiên, đây là trường hợp người ta từ chức để

nhận trách nhiệm đạo lý, nhiều hơn là trách nhiệm pháp lý. Bởi vì rằng vị bộ

trưởng có thể chẳng hề có lỗi gì trong việc chiếc cầu bị sập hay chiếc máy bay

bị rơi cả.

Và Từ chức làm tăng uy tín cá nhân của người từ chức. Vì đã có rất

nhiều trường hợp người từ chứ lại trúng cử với tỷ lệ phiếu cao hơn trong lần

bầu cử tiếp theo. Tuy nhiên, Từ chức để lại có thể trúng cử (chẳng cần với tỷ

lệ phiếu cao hơn) là chuyện không thể xảy ra ở Việt Nam.Sự khác biệt về môi

trường và về văn hóa chính trị như vậy có lẽ giải thích rất nhiều cho câu hỏi

tại sao những người lãnh đạo và quan chức ở ta rất ít khi từ chức.Thiết nghĩ

trước khi chúng ta xây dựng được các khuôn khổ văn hóa chính trị như nhiều

nước trên thế giới, tăng cường trách nhiệm giải trình trước Quốc hội là bước

đi phù hợp hơn.

Theo Giáo sư Văn Như Cương thì chuyện năm vị hiệu trưởng ở quận

Đống Đa, Hà Nội xin từ chức vừa qua đúng là những trường hợp hi hữu trong

ngành giáo dục. Trước đây, cũng đã từng xảy ra chuyện này nhưng không

nhiều. Giáo sư cũng nhấn mạnh: “Việc từ chức, đáng lý là bình thường. Trong

xã hội, khi không có ai từ chức, không có ai bị cách chức, đấy mới là chuyện

nguy hiểm”.

Ông Nguyễn Đình Hương cũng cho rằng: Lâu nay tôi rất đồng tình với

quan điểm về văn hóa từ chức. Bởi vì lịch sử của chế độ ta, Đảng ta trong quá

trình hình thành và phát triển, đi liền với công tác cán bộ. Trong công tác cán

16



bộ có 3 loại người. Có cán bộ làm rất tốt, có cán bộ làm không tốt nhưng mà

họ đã cố gắng hết mình, còn có cán bộ làm rất kém, hư hỏng, tham nhũng,

gây thất thoát lớn, nhân dân oán trách. Đảng ta nhận thức rõ điều đó, không

phải chỉ trong chiến tranh mà cả hòa bình, xây dựng đất nước.

Chúng ta vẫn nhớ ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú thời chống

Mỹ. Ông đã để lại tấm gương sáng trong nhândân, táo bạo, dám nghĩ, dám đổi

mới làm, dám chịu trách nhiệm. Lúc đó, ông bị kỷ luật nhưng sau này chân lý

sáng rõ thuộc về ông. Đây là điển hình của loại cán bộ tài năng và tâm huyết.

Ngược lại, có loại cán bộ yếu kém, hư hỏng, điển hình như lãnh đạo vụ

Vinashin, Vinaline... Họ đã gây thất thoát hàng nghìn tỉ, gây nên những tác hại

vô cùng lớn cho, cho đất nước, cho nhân dân. Vậy ai chịu trách nhiệm?

Công tác cán bộ quan trọng như vậy, nên trong Văn kiện của Đảng

cũng đã nêu: “Công tác cán bộ có ra có vào, có lên có xuống, coi đó là việc

bình thường trong Đảng”. Song, thực hiện thì rất khó khăn, lên thì dễ xuống

thì vô cùng khó. Và điều đó lý giải vì sao văn hóa từ chức chưa thành phổ

biến, mới chỉ là kêu gọi thôi. Đấy là vấn đề phải suy nghĩ. Chưa thành hiện

thực là vì sao. Mới có trường hợp ông Lê Huy Ngọ. Không phải mình muốn

có người từ chức, nhưng trong một nhiệm kỳ nhiều yếu kém mà không có ai

từ chức là trái quy luật tự nhiên.

Hiện nay có không ít cán bộ hư hỏng, từ nhiệm kỳ khóa 10 đáng lẽ đã có

người phải từ chức rồi. Nhưng vì sao không ai từ chức? Bởi vì, có 2 sức cản.

Thứ nhất, nhiều người đã lên rồi, họ không muốn xuống, họ sĩ diện, họ

tham quyền cố vị, cố bám chức vụ đến cùng, vì quyền đi liền với lợi ích.

Thứ hai là cơ chế trách nhiệm cá nhân không rõ. Có thành tích thì họ

nhận về mình, khi có khuyết điểm thì đổ cho tập thế, cho cơ chế. Ví dụ như

vụ Vinashin, Vinaline có ai chịu trách nhiệm đâu? Sập cầu Cần Thơ có ai

nhận trách nhiệm đâu? Chế độ trách nhiệm quan trọng lắm. Hai cái đó nó cản

trở văn hóa từ chức, muốn thực hiện văn hóa từ chức trước hết chế độ trách

nhiệm cá nhân phải rõ, có công được thưởng, có lỗi phải phạt.

Hiện tượng lộng quyền có nguồn gốc sâu xa. "Một người làm quan,cả

17



họ được nhờ” hoặc "Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình"... Tâm lý này

ăn sâu vào tiềm thức của người dân, khêu gợi con người khi có chức có

quyền, khiến cho cán cân công lý nghiêng ngả... Cùng với tâm lý đó, đồng

tiền trở thành giá trị số một, quyền lực trong tay, học cao biết rộng nhưng tỷ lệ

nghịch với trình độ nhân văn. "Nói xuôi cũng được nói ngược cũng xuôi”...

Cho nên không ít người mất đi cảm giác xấu hổ, dư luận bị vô hiệu hóa.

Đành rằng kẻ thù luôn luôn tìm cách kích động, quấy phá, xuyên tạc sự

thật để chống phá đất nước chúng ta, song hơn lúc nào hết, chúng ta cần sàng

lọc tỉnh táo, để nhìn nhận rõ đâu là lòng dân, đâu là sự phá hoại của kẻ địch.

Trước đây, dân cảnh báo: ”Mỗi người làm việc bằng hai/Để cho chủ nhiệm

mua đài mua xe”... Nếu ta có biện pháp ngăn chặn từ lúc đó thì sẽ hạn chế

nhiều tình trạng tham nhũng lan tràn như ngày nay.

"Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã bị tha hóa” là một sự

đánh giá đúng đắn. Cán bộ thiếu trách nhiệm, thiếu lương tâm, mất cảm giác

hổ thẹn trước việc làm sai trái của mình, làm mất lòng tin của dân... nhưng họ

vẫn chạy chức, chạy quyền, chạy tội... là những biểu hiện của một bộ phận

cán bộ, đảng viên đó.

Một xã hội lành mạnh thì kẻ lộng quyền sẽ bị luật pháp vào cuộc, nhẹ

thì nhắc nhở, khiển trách, miễn nhiệm... Nặng thì cách chức, buộc thôi việc,

truy tố hình sự...

Không ít người "hiện đại" rất thực dụng và khôn khéo ngụy biện với

câu: ”Lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh". Vì thế không it người trở thành "không

biết xấu hổ". Hiện trạng vì lợi ích nhóm, hành vi lộng quyền có nơi có chỗ

đang diễn ra, có khi được cấp trên che chở, bỏ qua, rồi "chìm vào im lặng

đáng sợ. thì khó nói đến chuyện "văn hóa từ chức”.

Muốn có văn hóa từ chức, cần chọn những cán bộ có tài, có tâm vào

các cơ quan công quyền, khắc phục tình trạng chạy chức, chạy quyền... suy

thoái về tư tưởng chính trị, về lối sống...

Chính vì chúng ta chưa quen với văn hóa từ chức nên việc xây dựng thế



18



chế Bỏ phiếu tín nhiệm những cán bộ do Quốc hội hay Hội đồng nhân dân các

cấp bầu ra hoặc phê chuẩn đang được chuẩn bị để Quốc hội thông qua là một

bước quan trọng và cần thiết để tiến đến Văn hóa từ chức.Nó vừa phản ánh

tính dân chủ của chế độ ta, vừa khắc phục những tồn tại, bất cập và khuyết

điểm kéo dài. Chúng ta đừng quên lới nhắc nhủ của Bác Hồ : “Đảng phải luôn

luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào.

Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà

còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng" (HCM toàn tập, 1995, t5,

tr.250).

2.3 Nuôi dưỡng văn hóa từ chức

Chúng ta nói đến văn hóa từ chức ngày một nhiều hơn và tranh cãi

xung quanh vấn đề về văn hóa từ chức cũng rất ác liệt nhưng kết quả vẫn

chưa đạt được là bao. Khi văn hóa từ chức được hình thành thì nó giúp chúng

ta đặt những người tài giỏi, có trình độ vào đúng vị trí dễ dàng hơn. Nó cũng

giúp thay thế những người ngồi ''nhầm ghế'' nhẹ nhàng và nhân bản hơn. Suy

cho cùng, chuyện miễn nhiệm, bãi nhiệm là những chuyện vừa phức tạp, vừa

tốn kém, lại thường xuyên làm mất thể diện của con người.

Để nuôi dưỡng văn hóa từ chức, điều đầu tiên là cần phát triển kinh tế

thị trường, đặc biệt là phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời cũng cần

phát triển xã hội dân sự. Nếu được như vậy, thì ngoài những dãy ghế trong hệ

thống công quyền, còn có rất nhiều cơ hội ở ngoài hệ thống đó.

Quốc hội Việt Nam trong kỳ họp vừa kết thúc đã quyết định không

thành lập ủy ban độc lập chống tham nhũng mà đồng ý với việc lập ban chống

tham nhũng dưới quyền Tổng bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng.Thủ

tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ không còn là người có vai trò cao nhất trong cuộc

chiến chống tham nhũng.

Văn hóa từ chức ra đời sẽ bảo đảm cho cán bộ, công chức giữ các chức

vụ lãnh đạo, quản lý nêu cao tinh thần trách nhiệm trong hoạt động công vụ.

19



Khi có những vấn đề xảy ra có liên quan đến trách nhiệm quản lý của mình

thì có thể xin cấp có thẩm quyền cho từ chức.

Về sau, khi cơ quan, đơn vị có nhu cầu bổ nhiệm các vị trí lãnh đạo,

quản lý, những người đã từ chức thời gian trước đó vẫn có cơ hội được giới

thiệu tham gia vào quy trình bổ nhiệm bình đẳng như những người khác để

cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Xây dựng các quy định về vấn đề từ chức chính là một trong các giải

pháp nhằm tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức theo hướng hiện đại,

thống nhất, xuyên suốt, chuyên nghiệp. góp phần thúc đẩy cán bộ, công chức

lãnh đạo, quản lý tiếp tục nâng cao ý thức trách nhiệm của mình hơn trong

hoạt động công vụ. Đồng thời tạo ra một nếp văn hóa trong hoạt động công

vụ. Các quy định về vấn đề từ chức sẽ là một giải pháp để góp phần cải cách

chế độ công vụ, công chức, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,

công chức.

Khi tại một cơ quan, đơn vị nào đó có vụ việc xảy ra liên quan đến

trách nhiệm hoặc khi thấy bản thân mình thiếu năng lực để hoàn thành nhiệm

vụ thì người lãnh đạo, quản lý nơi đó cần tự thấy rằng việc từ chức là sự lựa

chọn sáng suốt.

Các quy định về vấn đề từ chức cũng không khép lại các cơ hội phát

triển đối với cán bộ, công chức đã từ chức mà sẽ mở ra các cơ hội khác cho

họ trong tương lai.

Nếu sau khi từ chức, cán bộ, công chức tiếp tục rèn luyện tu dưỡng,

đáp ứng yêu cầu của cơ quan thì họ vẫn có cơ hội tiếp tục được giao nhiệm vụ

tương xứng, phù hợp phẩm chất, trình độ và năng lực của họ. Vì vậy, không lý

gì họ phải “tham quyền cố vị”, nếu họ biết rút lui đúng lúc để có thể xuất hiện

lại đúng lúc.

Để có nét văn hóa từ chức đẹp, điều kiện quan trọng là dư luận đúng

đắn của xã hội, nhận xét đúng và công bằng của số đông. Số đông có hàng

vạn con mắt, vạn cái tai để nhìn, để xem, để nghe, để biết và hiểu rõ nhân



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương II. Những cơ sở tác động tiêu cực đến văn hóa từ chức ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(33 tr)

×