Tải bản đầy đủ - 80 (trang)
CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIS VÀ VIỄN THÁM TRONG NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG LỚP PHỦ MẶT ĐẤT HUYỆN KINH MÔN – TỈNH HẢI DƯƠNG.

CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIS VÀ VIỄN THÁM TRONG NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG LỚP PHỦ MẶT ĐẤT HUYỆN KINH MÔN – TỈNH HẢI DƯƠNG.

Tải bản đầy đủ - 80trang

Hình 3.1: Tượng đài Trần Hưng Đạo - Núi An Phụ - Kinh Môn



3.1.2. Vị trí địa lý.

Huyện Kinh Môn nằm ở phần lãnh thổ phía đông của tỉnh Hải Dương, phía bắc giáp

tỉnh Quảng ninh, phía đông giáp thành phố Hải Phòng, phía tây nam giáp huyện Kim

thành, phía tây bắc giáp huyện Nam sách và Chí linh của Tỉnh Hải Dương. Huyện nằm

kề bên 2 tuyến đường quốc lộ 5A và 18 là 2 tuyến giao thông quan trọng của quốc gia

và vùng trọng điểm kinh tế phía bắc. Huyện được bao bọc và chia cắt bởi 4 song lớn

(sông Kinh Môn, sông Kinh thầy, sông Đá vách, sông Hàn mấu).

Nhìn chung vị trí địa lý của huyện khá lý tưởng: cách Hà nội khoảng 80 km, nằm trong

vùng Kinh tế trọng điểm phía bắc, lại nằm kế bên 2 trung tâm kinh tế lớn là Quảng

ninh và Hải phòng, giao thông thuỷ bộ tương đối thuận lợi nên có điều kiện giao lưu

kinh tế với bên ngoài và đón nhận các cơ hội đầu tư.

+ Địa hình : Huyện có địa hình đồi núi xen kẽ đồng bằng, nhiều sông ngòi chia cắt nên

nơi cao, nơi thấp. Hiện còn khoảng 300 ha đất canh tác ven đồi thuộc địa hình cao và

700 ha đất ruộng trũng thường bị ngập úng vào mùa mưa

Địa hình như vậy cho phép huyện phát triển một nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá đa

dạng, toàn diện.

+ Khí hậu - thuỷ văn : Hàng năm được chia làm 2 mùa rõ rệt : mùa khô từ tháng 11

61



đến tháng 4 năm sau thường mưa ít (chiếm 15% tổng lượng mưa tong năm), nhiệt đọ

thấp, nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình 13,8oc. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10

thường nhiệt độ cao ( nhất tháng 7 nhiệt độ trung bình 32,4oc), mưa nhiều chiếm 85%

lượng mưa cả năm tập trung vào tháng 7, 8. Tổng lượng mưa trung bình hàng năm từ

1500 - 1700mm, nhiệt độ trung bình cả năm 23,5oc. Thuỷ văn nước lên xuống trong

ngày, hàng năm từ tháng 7 đến tháng 9 có từ 2-3 lần xuất hiện lũ ở mức báo động cấp

3.

Khí hậu-thuỷ văn đã tạo cho Kinh Môn có tập đoàn cây trồng phong phú cả cây nhiệt

đới, ôn đới.

3.1.3. Các tài nguyên.

+ Tài nguyên đất : Kinh Môn có diện tích tự nhiên 16.326,31 ha trong đó đất nông

nghiệp 8900 ha (chiếm 55%) có 7300 ha đất trồng cây hàng năm còn lại là đáat trồng

cây ăn quả lâu năm và nuôi trồng thuỷ sản. đất thuộc phù sa cổ của sông Thái Bình có

độ PH từ 5,5 - 6,5, đồ phì thấp.

+ Tài nguyên nước : Huyện có 4 sống lớn chảy qua lên nguồn nước mặt phong phú đủ

đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân. Nguồn nước ngầm bị nhiễm

mặn, hàm lượng sắt cao không sử dụng được.

+ Tài nguyên rừng : Kinh Môn có 1812 ha rừng trồng trên các đồi núi đất trong đó có

khoảng 300 ha ven các đồi trồng cây ăn quả (nhãn, vải, na) và hơn 15.000 ha rừng đặc

dụng đã bắt đầu khép tán.

+ Tài nguyên khoáng sản :

Đá vôi : Trữ lượng khoảng 300 - 400 triệu tấn trong đó khoảng 200 triệu tấn chất

lượng tốt (hàm lượng caco3 đạt 90 - 97%) có thể khai thác làm xi măng, số còn lại làm

vôi và đá xây dựng.

Cao lanh trữ lượng khoảng 40.000 tấn, bô xít 20 vạn tấn. Đất sét và đá phiến sét trữ

lượng hạng chục triệu tấn khai thác phục vụ cho sản xuất xi măng, ngoài ra còn hàng

triệu m3 cát ở các dòng sông.

Tiềm năng khoáng sản của huyện khá phong phú đặc biệt là vật liệu xây dựng là ưu

thế lớn của huyện làm tiền cho để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây

dựng nhất là sản xuất vật liệu xây dựng (đá, xi măng, cát).

+ Tài nguyên nhân văn : Kinh Môn có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử

được xếp hạng quốc gia như đến An Phụ, Động Kính Chủ, Động Hàm Long, Tâm

Long, Đình Huề Trì, Đình Ngư Uyên. Hàng năm thu hút hàng chục vạn du khách thập

phương thăm viếng.

Nhìn chung vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên của Kinh Môn rất thuận lợi cho phát

triển kinh tế toàn diện. Song do địa hình bị chia cắt bởi sông ngòi, đồi núi nên cần 1

lượng vốn đầu tư ban đầu khá lớn để làm đường, làm cầu, trạm bơm tưới, tiêu.

3.1.4. Kinh tế.

+ Tốc độ tăng trưởng (KV huyện quản lý) 2001 ; 2002 tăng 10,7%/năm (năm 2001

tăng 9,24%; 2002 tăng 12,42% đạt, dự kiến năm 2003 tăng 12,5%.

+ Cơ cấu kinh tế :

62



Trên địa bàn Huyện Kinh Môn năm 2002 có cơ cấu nông nghiệp 12,2%, công nghiệp

xây dựng 79%, dịch vụ 8,8%

Khu vực huyện quản lý năm 2002 là nông nghiệp 48,6%, công nghiệp-xây dựng

25,2%, dịch vụ 26,2%. Năm 2003 dự kiến nông nghiệp 45,7%, công nghiệp-xây dựng

27,45%, dịch vụ 26,85%. Trong nông nghiệp năm 2002 trồng trọt 56,2%, chăn nuôithuỷ sản 39,6%, dịch vụ 4,2%, năm 2003 dự kiến trồng trọt 55,5%, chăn nuôi-thuỷ sản

39,9%, dịch vụ 4,6%.

+ Giá trị sản xuất:

Trên địa bàn năm 2002 đạt 2.989.777 triệu đồng (giá hiện hành) tăng 20,1% so với

năm 2001.

Khu vực huyện quản lý năm 2002 đạt 837.417 triệu đồng tăng 13,2% so với năm 2002,

năm 2003 ước đạt 923.341 triệu đồng.

a/ Nông-Lâm-Thuỷ sản:

Diện tích gieo trồng hàng năm từ 17.300 - 17.500 ha, hệ số sử dụng ruộng đất từ 2,3 2,4 lần. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 2 năm 2001 ; 2002 tăng 5,41%

(năm 2001 tăng 4,13%; năm 2002 tăng 6,86%; năm 2003 dự kiến tăng 5,2%. Giá trị

sản xuất năm 2002 đạt 371.356 triệu đồng (hh). (cố định 302.321 triệu đồng), năm

2003 ước đạt 374.000 triệu đồng (hh) (cố định 318.000 triệu đồng). Giá trị thu được/ha

đất canh tác năm 2002 đạt 28,4 triệu đồng, năm 2003 ước đạt 30,5 triệu đồng, năm

2005 dự kiến đạt trên 37 triệu đồng, lương thực 70.000 - 72.000 tấn/năm. Đàn lợn xấp

xỉ 8 vạn con, đàn bò gần 4.000 con trong đó 60% là bì lai sin, đàn gia cầm khoảng 80

vạn con, diện tích nuôi thuỷ sản 450 ha xu hướng nuôi lợn, gia cầm, thả cá, trồng cây

ăn quả theo mô hình kinh tế trang trại ngày càng phát triển. Phong trào nuôi đặc sản có

giá trị kinh tế cao phát triển nhanh như nuôi Ba Ba toàn huyện đã có 462 hộ nuôi. Diện

tích cây ăn quả 1100 ha trong đó vải 270 ha, nhãn 165 ha.

Bước đầu hình thành 4 vùng sản xuất hàng hoá tập trung : Khu nam An phụ là gạo tẻ,

hành tỏi, bò, khu Tam lưu gạo nếp hoa vàng, cá tôm, rau, thịt lợn, khu Bắc An phụ gạo

tẻ, gạo nếp, thịt gia cầm, bò, cây ăn quả, khu đảo rau, cây cảnh, thuỷ sản, dê ...

b/ Sản xuất công nghiệp :

Tốc độ tăng trưởng (KV huyện quản lý) năm 2001 tăng 15,11%, năm 2002 tăng

31,9%, năm 2003 ước tăng 28%.

Giá trị sản xuất :

Trên địa bàn năm 2002 đạt 2.134.226 triệu đồng (giá cố định đạt 2.318.228 triệu đồng)

chiếm 40% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Hải Dương. Với những sản

phẩm chính xi măng 2,5 triệu tấn, đá xây dựng 1,5 triệu m3.

Khu vực huyện quản lý năm 2002 đạt 142.678 triệu đồng (giá cố định 115.628 triệu

đồng). Năm 2003 ước đạt 183.000 triệu đồng (giá cố định 148.000 triệu đồng) với

những sản phẩm chính như xi măng 14 vạn tấn, đá xây dựng 245.000m3, vôi, gạch

nung, quặng si líc ...

c/ Xây dựng :

Hàng năm huyện đầu tư hơn 100 tỷ đồng vào lĩnh vực xây dựng cơ bản từ nguồn vốn

ngân sách tỉnh cấp, huyện tiết kiệm chuẩn bị thường xuyên chuyển sang xây dựng cơ

63



sở hạ tầng, ngân sách các xã và nguồn chủ yếu do dân đóng góp tập trung vào kiên cố

cao tầng trường học các cấp, đường giao thông, kênh mương, trạm xá, đường điện ...

kết quả đã kiên cố, cao tầng được 44,04% phòng học mầm non, 94,93 phòng học tiểu

học, 94,87% phòng học trung học cơ sở, 100% phòng học trung học phổ thông, xây

dựng xong đường điện hạ thế tới tất cả các cụm dân cư trên địa bàn, bê tông hoá, nhựa

hoá được 24,8 km, trên 60km bê tông hoá đường giao thông, 7 xã bê tông hoá các trục

chính liên thôn ( Hiệp Sơn, Minh Tân, Phú Thứ, Phạm Mệnh, Thất Hùng, Hiến Thành,

An Phụ) 50 km kênh mương, trong đó 42 km kênh cấp 3

d/ Các ngành dịch vụ :

Ngành dịch vụ năm 2002 tăng trưởng 11,7% đạt giá trị 194.513 triệu đồng (giá cố định

127.204 triệu đồng). năm 2003 ước tăng 12,2% đạt giá trị 222.000 triệu đồng (giá cố

định 142.720 triệu đồng), trong đó : các dịch vụ bưu điện có tốc độ phát triển nhanh

nhất toàn huyện đã có 4437 máy điện thoại đạt 2,8 máy/trăm dân với 21 bưu cục và

điểm văn hoá xã, số báo phát hành hàng ngày dứng thứ 2 toàn tỉnh. Toàn huyện có hơn

400 phương tiện vận tải thuỷ và hơn 700 phương tiện vận tải bộ ..., các hoạt động tài

chính, ngân hàng bảo đảm đúng chế độ chính sách của nhà nước.

3.1.5. Du lịch.

Kinh Môn nổi tiếng với Đền Cao - là nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và

danh lam thắng cảnh động Kính Chủ - nơi có nhiều hang động đá vôi tuyệt đẹp và gắn

với cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Hải Dương cũng như của Việt Nam trong

thời kỳ chống ngoại xâm.

Động Kính Chủ nằm trong quần thể núi đá xanh cách An Phụ vài ba cây số. Chắc rằng

thời Lý, Kính Chủ là nơi trung tâm Phật giáo, trước khi các nhà tu hành phát hiện ra

An Tử. Chính sử chép nơi đây có 49 hang động, lầu son gác tía. Lý Thần tông được

nhà Trần cho tu ở đó, thực chất là an trí. Nay di tích này không còn nhiều, hầu như chỉ

còn phế tích. Vấn đề của Kính Chủ cũng là vấn đề chung nan giải của cả nước.

Khu vực đồi núi Kinh Môn còn có những di tích lịch sử và thắng cảnh được Nhà nước

xếp hạng với đỉnh An Phụ có đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu - thân phụ của Hưng

Đạo Vương Trần Quốc Tuấn; với động Kính Chủ có nhiều hang động tạo nên phong

cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, nơi đây còn bút tích của danh nhân Phạm Sư Mệnh đề thơ

"Đặng thạch môn sơn lưu đề".

Những dãy núi đá Kinh Môn là nơi đã diễn ra các cuộc chiến đấu của ông cha ta chống

giặc ngoại xâm như thời vua Trần Nhân Tông đã đóng quân ở núi Kính Chủ để chống

quân Nguyên. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã diễn ra các cuộc chiến

đấu rất oanh liệt của quân dân Kinh Môn tại các khu núi đá với các địa danh: Kính

Chủ, Áng Sơn, Thung Sanh mãi mãi còn ghi đậm dấu tích kiên cường trong ký sức của

người dân Kinh Môn.

3.1.6.Văn hóa – Giáo dục.

Cơ sở vật chất : 44,04% phòng học mầm non được xây dựng kiên cố, 94,93% phòng

học tiểu học, 94,87% phòng học trung học cơ sở, 100% phòng học trung học phổ

thông được xây dựng kiên cố cao tầng.

Chất lượng giáo viên 48,8% giáo viên mầm non, 90,8% giáo viên tiểu học, 94,14%

giáo viên trung học cơ sở và 100% giáo viên trung học phổ thông đạt chuẩn.

64



Chất lượng giáo dục mọi mặt ngày càng được nâng cao tỷ lệ học sinh cuối cấp tốt

nghiệp đạt từ 98 - 100%, toàn huyện đã phổ cập song trung học cơ sở.

3.2. Sử dụng phần mềm ENVI và ArcGIS thành lập bản đồ biến động lớp phủ

mặt đất huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

3.2.1. Dữ liệu thu thập.

+ Gồm 2 ảnh vệ tinh LANDSAT tải từ trang web https://earthexplorer.usgs.gov/



Bảng 3.1. Thông số ảnh vệ tinh.

Loại ảnh



Bộ cảm



Ngày thu ảnh



LANDSAT 7



ETM+



10/3/2006



Độ phân giải

không gian

30m x 30m



LANDSAT 8



OLI/TIRS



18/1/2016



30m x 30m



Kênh phổ sử

dụng

1,2,3,4,5,6,7

2,3,4,5,6,7



+ File danh giới

3.2.2. Quá trình thực nghiệm.

1. Nhập ảnh.

Để xử lý ảnh số thì dữ liệu phải được lưu trong hình thức số, đây là công đoạn

chuyển đổi các ảnh tương tự trắng đen hay màu về dạng ảnh số. Trong viễn thám, tùy

theo sự bố trí thông tin của từng pixels của các kênh phổ mà người ta chia ra thành 3

loại khuôn dạng ảnh chính:

- Dạng BSQ: Thông tin của từng kênh bố trí theo lần lượt từng hàng.

- Dạng BIP: Thông tin của các kênh bố trí theo lần lượt từng pixel.

- Dạng BIL: Thông tin của từng kênh phân bố trí theo lần lượt từng pixel.

→ Ảnh em sử dụng thuộc dạng BSQ

2. Cắt ảnh theo file danh giới huyện Kinh Môn trên phần mềm ENVI.

Ảnh của khu vực thực nghiệm cho phép chồng chính xác lớp ranh giới hành chính

huyện Kinh Môn, nhờ đó có thể cắt ảnh theo ranh giới hành chính nhằm thu gọn tờ

ảnh, loại bỏ những vùng không có dữ liệu những vùng không quan tâm (để giảm sai số

và nhiễu), giảm thời gian và công sức phân loại ảnh vệ tinh.



65



Hình 3.2: Ảnh năm 2006 và năm 2016 sau khi tổ hợp kênh ảnh.



Hình 3.3: Ảnh sau khi cắt năm 2006 và năm 2016.

3. Phân loại ảnh.

-Phân loại ảnh vệ tinh là quá trình tách hay gộp thông tin dựa trên các tính chất phổ,

không gian vào thời gian cho bởi ảnh của đối tượng.



66



-Trong nội dung phần thực nghiệm em áp dụng phương pháp phân loại có kiểm định.

Đây là một hình thức phân loại mà các chỉ tiêu phân loại được xác lập trên các vùng

mẫu và dùng luật quyết định dựa trên thuật toán thích hợp để gán nhãn các pixel ứng

với từng vùng ảnh cụ thể. Việc chọn mẫu dựa vào kết quả đi khảo sát thực địa và từ

các nguồn thông tin liên qua khác như các bản đồ có sẵn (bản đồ hiện trạng sử dụng

đất, bản đồ địa hình, bản đồ địa chính…), các tài liệu, các bao cáo…

a.Phân tích, phân loại các đối tượng trên ảnh viễn thám

Phân tích, phân loại các lớp đối tượng có trên ảnh là thao tác đầu tiên cần phải tiến

hành trước khi bước vào quá trình phân loại ảnh vệ tinh. Thông qua phương pháp giải

đoán ảnh bằng mắt, dựa vào các chuấn giải đoán, sự hiểu biết những đặc điếm chung

của các loại lớp phủ, để bước đầu xác định được các lớp đối tượng trên ảnh. (Bảng

2.2)

b. Chọn các vùng mẫu trên ảnh

Để chọn các vùng mẫu cần phải hiển thị các ảnh cần phân loại, chọn các vùng trên

ảnh tương ứng với các lớp đối tượng đã được xác định. Tùy vào chất lượng ảnh vệ tinh

hiện có mà mỗi lớp đối tượng trên có thế dc phân thành các lớp nhỏ hơn. Và sau khi

phân loại sẽ gộp các lớp nhỏ của cùng tính chất thành các lớp đối tượng chính đã được

xác định.



Hình 3.4: Kết quả lấy mẫu năm 2006 và năm 2016.

c. Đánh giá độ chính xác khi phân loại.

Các mẫu sau khi được chọn phải được kiểm tra độ lệch chuẩn và độ tách biệt giữa

chúng. Việc này giúp ta kiểm tra các vùng mẫu được chọn có tách biệt nhau hay lẫn.

-Nếu độ tách biệt giữa các mẫu chọn nằm trong khoảng 1.9 ÷ 2.0 thì mẫu có độ tách

biệt tốt.

67



-Nếu độ tách biệt nằm trong khoản 1.0 ÷ 1.9 thì nên chọn lại mẫu cho tốt hơn do

mẫu có độ tách biệt chưa rõ ràng.

-Nếu độ tách biệt < 1.0 thì chứng tỏ ta chọn mẫu không tốt và nên gộp các mẫu lại

do độ tách biệt không cao. Nếu vẫn để mẫu đó thì các pixel của các lớp mẫu lẫn vào

nhau làm cho pixel không được phân loại đúng vào lớp đối tượng dẫn đến làm sai kết

quả phân loại.



Hình 3.5: Kết quả tính toán độ tách biệt của mẫu ảnh 2006 và ảnh 2016.

Từ bảng độ tách biệt ta thấy các mẫu nằm trong khoảng 1.7 ÷ 2.0 các mẫu có sự

tách biệt tương đối tốt.

Một số loại độ tách biệt thấp như Dân cư – Đất nông nghiệp : 1.4 ÷ 1.6 ; 1.6 ÷ 1.3

; 1.1 ÷ 1.4 do các khu dân cư xen lẫn đất nông nghiệp với mật độ dày nên trên ảnh vệ

tinh hiển thị dải màu tương đối giống nhau,khó phân biệt.

Ta có thể kiểm tra trực quan độ tách biệt giữa các mẫu:



68



Hình 3.6: Độ trực quan độ tách biệt giữa các mẫu năm 2006 và năm 2016.



d. Tiến hành phân loại.

Trong phương pháp có kiểm định gồm có 4 thuật toán phân loại sau:

-Maximum Likelihood (Xác xuất cực đại)

-Minimum Distance (Khoảng cách tối thiểu)

-Parallelepiped ( Hình hộp)

-Mahalanobis (Sử dụng khoảng cách Mahalanobis)

→ Trong quá trình phân loại ảnh em dùng thuật toán Maximum Likelihood do

phương pháp này cho độ chính xác cao hơn.

Độ chính xác của kết quả phân loại là yếu tố quyết định đến việc phân tích các

nội dung chuyên đề đúng hay sai. Kiểm tra độ chính xác của kết quả phân loại bằng

ma trận sai số và hệ số Kappa.

Hệ số Kapa được tính toán theo công thức:



Trong đó:

• r là số hàng trong ma trận (số lớp đối tượng phân loại).

• N là tổng số các pixel lấy mẫu.

• xi là tổng pixel theo hàng thứ i (lớp thứ i của mẫu).

• x+i là tổng pixel theo cột thứ i (lớp thứ i sau phân loại).

• xii là số giá trị trong hàng i cột i (số pixel đúng trong lớp thứ i).

- Để đánh giá độ chính xác kết quả phân loại ta dùng ma trận Kappa:

69



Hình 3.7: Bảng ma trận kappa năm 2006 và năm 2016.

Phương pháp Maxximum Likelihood có các kênh phổ được coi là có sự phân bố

chuẩn và các pixel sẽ được phân loại vào lớp mà nó có xác suất cao nhất. Việc tính

toán không chỉ dựa vào khoảng cách mà còn dựa vào xu thế biến thiên độ xám trong

mỗi lớp. Ảnh phân loại được phân loại đầy đủ, không bỏ sót khu vực, chỉ có ít chỗ bị

phân loại sai. Phương pháp này phân loại chính xác nhưng mất nhiều thời gian do khối

lượng tính toán và phụ thuộc vào sự phân bố chuẩn của dự liệu.

Giá trị của hệ số Kappa thể hiện độ chính xác của kết quả phân loại như sau:

Độ chính xác rất thấp: < 0.20

Độ chính xác thấp: 0.20 – 0.40

Độ chính xác trung bình: 0.40 - 0.60

Độ chính xác cao: 0.60 - 0.80

Độ chính xác rất cao: 0.80 – 1.00

Từ bảng ta có nhận xét :

Độ chính xác toàn cục ảnh 2006 : 92.8721% và hệ số kappa K= 0.9027.

Độ chính xác toàn cục ảnh 2016 : 97.2464% và hệ số kappa K= 0.9558.

Kết quả phân loại tốt, các mẫu có sự tách biệt cao và ít bị nhầm lẫn, có một số

đối tượng bị lẫn và bị bỏ sót.



70



Hình 3.8: Ảnh sau khi được phân loại năm 2006 và năm 2017.

*Sau khi phân loại trên ENVI ta xuất ảnh đã phân loại và ảnh gốc đã cắt của 2 năm

sang ARCGIS để sửa những vùng bị khoanh nhầm lẫn bằng cách gán 5 lớp đối tượng

theo mã :

+ dancu : 1

+ datnongnghiep : 2

+ datrung: 3

+ matnuoc: 4

+dattrong: 5

Sau đó cắt sửa từng lớp đối tượng của từng năm.



Hình 3.9: Sửa lớp dân cư bị nhầm lẫn năm 2006.



71



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIS VÀ VIỄN THÁM TRONG NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG LỚP PHỦ MẶT ĐẤT HUYỆN KINH MÔN – TỈNH HẢI DƯƠNG.

Tải bản đầy đủ ngay(80 tr)

×