Tải bản đầy đủ - 72 (trang)
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 72trang

36



mặt để thực hiện đầu tư. Điều này đã kéo sản lượng sản xuất tăng lên tuy nhiên mức

độ còn thấp và chưa đạt hiệu quả cao. Từ năm 2008 đến năm 2010, tình hình lạm

phát ở mức cao khiến sản lượng giảm mạnh, chính phủ thắt chặt cung tiền và các

doanh nghiệp đã tăng cường nắm giữ các loại tài sản khác thay vì tiền mặt. Ở giai

đoạn này, tỷ lệ tài sản tiền mặt trên tổng các tài sản khác không phải tiền mặt ở mức

15% – 16%. Năm 2011 là năm chứng kiến nhiều biến động của nền kinh tế Việt

Nam như tỷ lệ lạm phát tăng cao trên 18%, thị trường bất động sản đóng băng, giá

vàng liên tiếp tăng kỷ lục, thị trường chứng khoán tiếp tục chạm đáy, khiến việc đầu

tư của các doanh nghiệp gặp khó khăn cũng là nguyên nhân giải thích lý do lượng

tiền mặt của các công ty tăng lên đáng kể so với các tài sản khác.

Đứng trên góc độ ngành, dữ liệu thu thập gồm 945 quan sát từ 189 công ty trong

mẫu nghiên cứu cho thấy, hầu như không có sự khác biệt về tỷ lệ tài sản tiền mặt

trên các tài sản không bao gồm tiền ở các công ty thuộc nhóm ngành sản xuất và các

công ty thuộc nhóm ngành dịch vụ.



Hình 4.2: Tỷ lệ tiền mặt và các khoản tương đương tiền trên tài sản doanh

nghiệp không bao gồm các khoản tiền mặt và tương đương tiền của các doanh

nghiệp sản xuất và thương mại dịch vụ tại Việt Nam giai đoạn 2009 – 2013

Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào số liệu từ các Báo cáo tài chính của các công

ty, lấy từ website của HNX và HOSE



37



4.1.2. Chỉ số giá thị trường trên giá ghi sổ của tài sản doanh nghiệp



Hình 4.3: Chỉ số giá thị trường trên giá ghi sổ của tài sản doanh nghiệp của các

doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2009 – 2013

Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào số liệu từ các Báo cáo tài chính của các công

ty, lấy từ website của HNX và HOSE

Hình 4.3 cho thấy có sự sụt giảm về chỉ số giá thị trường trên giá ghi sổ tài sản của

doanh nghiệp từ năm 2009 đến năm 2011 và giá trị năm 2011 là 0,875. Với mức

MTB nhỏ hơn 1 có hai khả năng xảy ra: thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của

doanh nghiệp đang bị thổi phòng quá mức hoặc thu nhập trên tổng tài sản cua

doanh nghiệp là quá thấp. Điều này khá tương đồng với thực tế khi trong năm

2011, thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục chạm đáy, kinh tế của Việt Nam đã

trải qua một năm cực kỳ khó khăn và biến động, các yếu tố vĩ mô đều không ủng

hộ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong năm này, đã có hơn 50.000

doanh nghiệp phải tuyên bố giải thể hoặc phá sản. Bên cạnh đó, tổ chức Standard

& Poors (S&P) đã hạ bậc tín nhiệm nợ dài hạn nội tệ của Việt Nam xuống mức

BB-, triển vọng của nhiều doanh nghiệp được đánh giá tiêu cực. Giá trị MTB

phục hồi nhẹ vào năm 2012 tuy nhiên vẫn chỉ ở mức 0,920 < 1 và tiếp tục đà phục



38



hồi đạt mức 1,044 vào năm 2013.

Nhìn vào hình 4.3 có thể nhận thấy sự biến động của MTB tương đối ngược chiều

với sự biến động của CASH, điều này góp phần bước đầu củng cố giả thuyết

nghiên cứu đã được trình bày ở Chương 3, đó là những doanh nghiệp có MTB càng

lớn sẽ càng giảm thiểu việc nắm giữ tiền mặt trong doanh nghiệp.



4.1.3. Dòng tiền của doanh nghiệp



Hình 4.4: Tỷ lệ dòng tiền trên tài sản doanh nghiệp không bao gồm các khoản

tiền mặt và tương đương tiền của các doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn

2009 – 2013

Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào số liệu từ các Báo cáo tài chính của các công

ty, lấy từ website của HNX và HOSE

Sự biến động của tỷ số dòng tiền của doanh nghiệp trên tài sản không bao gồm các

khoản tiền mặt và tương đương tiền được thể hiện trong hình 4.4. Một cách tổng

quát, CF có sự biến động tương đối cùng chiều với CASH. Năm 2010, CF có sự sụt

giảm nhẹ sau đó tăng lên đột biến vào năm 2011 ở mức 0,095 và giảm vào các năm



39



2011 và 2012. Dựa vào đồ thị có thể dự báo sự biến động của CASH cùng chiều và

chịu ảnh hưởng của sự biến động của CF.



4.1.4. Vốn luân chuyển ròng của doanh nghiệp



Hình 4.5: Vốn luân chuyển ròng của các doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn

2009 – 2013

Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào số liệu từ các Báo cáo tài chính của các công

ty, lấy từ website của HNX và HOSE

Nhìn chung giá trị vốn luân chuyển ròng của các doanh nghiệp tại Việt Nam trong

giai đoạn 2009 – 2013 tăng dần qua các năm. Giai đoạn 2009 – 2010 được xem là

giai đoạn hậu khủng hoảng của nền kinh tế, nhìn chung các doanh nghiệp hoạt động

khó khăn nên vốn luân chuyển ròng hay nói cách khác là tính thanh khoản của tài

sản ở mức khá thấp và khôi phục nhẹ. Theo kết quả thu thập được từ 189 công ty

trong mẫu nghiên cứu, bình quân mỗi năm có khoảng 15% số công ty có vốn luân

chuyển âm nhưng nhìn chung vốn luân chuyển ròng của các công ty trong mẫu lớn

hơn 0. Ở hình 4.5 cho thấy trong giai đoạn nghiên cứu, vốn luân chuyển ròng bình

quân năm 2009 ở mức thấp nhất gần 217 tỷ đồng, năm 2013 ở mức cao nhất gần



40



343 tỷ đồng, vốn luân chuyển ròng bình quân các công ty năm năm 2011 có sự tăng

trưởng mạnh nhất, đạt hơn 340 tỷ đồng và tăng 36,6% so với năm 2010.



4.1.5. Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp

Theo kết quả thu thập được từ năm 2009 đến năm 2013, tỷ số tổng nợ trên tài sản

khác tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp (LVRG) có sự biến

động tương đối giống với sự biến động của CF và CASH. Hình 4.6 cho thấy, LVRG

giảm nhẹ từ 2009 đến 2010 sau đó tăng vào năm 2011 ở mức 0,540, tăng 5,3% so

với năm 2010. Năm 2012, LVRG giảm nhẹ xuống mức 0,523 và tăng lên không

đáng kể ở mức 0,528 năm 2013. Xét về các yếu tố vĩ mô, năm 2011 tín dụng ngân

hàng tăng trưởng ở mức thấp khoảng 12% với mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn

định nền kinh tế.



Hình 4.6: Tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản không bao gồm tiền và các khoản

tương đương tiền của doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2009 – 2013

Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào số liệu từ các Báo cáo tài chính của các công

ty, lấy từ website của HNX và HOSE



41



4.1.6. Quy mô của doanh nghiệp



Hình 4.7: Quy mô của các doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2009 – 2013

Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào số liệu từ các Báo cáo tài chính của các công

ty, lấy từ website của HNX và HOSE

Quy mô của doanh nghiệp được đại diện bằng giá trị của tổng tài sản của doanh

nghiệp được thể hiện trong hình 4.7. Có thể dễ dàng nhận thấy trong khoảng thời

gian nghiên cứu, tổng tài sản bình quân của các doanh nghiệp Việt Nam tăng dần

qua các năm. Năm 2009 tổng tài sản bình quân của các doanh nghiệp Việt Nam

trong mẫu nghiên cứu là 1.227 tỷ đồng thì đến năm 2013 giá trị này đã đạt 2.315 tỷ

đồng, tăng gần gấp 2 lần so với năm 2009. Tốc độ tăng trưởng của tài sản doanh

nghiệp cũng tương đối đều qua các năm. Giá trị tổng tài sản tăng lên ở cả hạng mục

tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Trong đó, tài sản ngắn hạn đóng góp lần lượt

47%, 65%, 14% và 60% vào giá trị tăng lên của tổng tài sản qua các năm 2010,

2011, 2012 và 2013.



4.1.7. Việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp

Hình 4.3 cho thấy, đa số các công ty ở Việt Nam lựa chọn hình thức chi trả cổ tức

bằng tiền mặt qua các năm hơn các hình thức chi trả cổ tức khác như cổ phiếu, trái

phiếu, tài sản khác của công ty hoặc không chi trả cổ tức. Khoảng hơn 60% các



42



công ty trong mẫu nghiên cứu thực hiện chi trả cổ tức bằng tiền mặt và trong những

năm gần đây, việc chị trả cổ tức của các công ty có xu hướng giảm nhẹ qua các

năm.



Hình 4.8: Số lượng các công ty trong mẫu nghiên cứu chi trả cổ tức tiền mặt

Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào số liệu từ các Báo cáo tài chính của các công

ty, lấy từ website của HNX và HOSE



4.1.8. Quy mô hội đồng quản trị của doanh nghiệp

Năm 2007, Quyết định 12 ngày 13/03/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Quy chế

quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán,

Trung tâm Giao dịch Chứng Khoán quy định công ty niêm yết phải có ít nhất là 05

thành viên hội đồng quản trị và tối đa 11 thành viên hội đồng quản trị.

Kết quả thu thập trên 945 quan sát thuộc 189 công ty niêm yết tại Việt Nam cho

thấy, số lượng thành viên hội đồng quản trị bình quân là 5,6 và các công ty không

chuộng một hội đồng quản trị có đông thành viên. Cụ thể, có đến khoảng 60% các

công ty lựa chọn số lượng thành viên hội đồng quản trị tối thiểu theo quy định của

Bộ Tài chính là 5 thành viên, và chỉ có từ 3% - 5% số công ty có hội đồng quản trị

lớn (9-11 thành viên). Bên cạnh đó, kết quả khảo sát cũng cho thấy một số ít công ty

vẫn chưa thực hiện đúng quy định về số lượng thành viên trong hội đồng quản trị



43



khi có số lượng thành viên trong hội đồng quản trị không đủ năm (5) người.

Bảng 4.1: Bảng số lượng thành viên hội đồng quản trị các công ty giai đoạn

2009 - 2013

Số lượng



Số lượng công ty



thành viên

hội đồng



2009



2010



2011



2012



2013



1–4



10



10



16



9



22



5



118



123



114



114



102



6–8



55



47



51



60



60



9 – 11



6



9



8



6



5



Tổng



189



189



189



189



189



quản trị



Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào số liệu từ các Báo cáo tình hình quản trị của

các công ty, lấy từ website của HNX và HOSE



4.1.9. Vai trò kép của CEO trong doanh nghiệp

Xét trên thực tế, ở các công ty cổ phần luôn tồn tại vấn đề người đại diện do có

nguy cơ xung đột về lợi ích giữa một bên là cổ đông với một bên là những người

quản lý điều hành công ty. Những người quản lý có thể sẽ ưu tiên các quyền lợi cá

nhân, quyền lợi nhóm hơn là quyền lợi của các cổ đông. Chính vì vậy, vai trò kép

của CEO đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định mức độ nắm giữ tiền mặt

của một doanh nghiệp. Các nghiên cứu trước đây trên thế giới đã chỉ ra rằng, các

công ty có chủ tịch hội đồng quản trị cũng là CEO sẽ có tỷ lệ nắm giữ tiền mặt cao

hơn, nghĩa là vai trò kép của CEO dẫn đến việc nắm giữ tiền mặt nhiều hơn.



44



Theo mẫu thu thập của đề tài, ở Việt Nam, các công ty vẫn có xu hướng lựa chọn

CEO và chủ tịch hội đồng quản trị là những người khác nhau để tham gia điều hành

công ty. Theo thống kê tại Bảng 4.2, khoảng 2/3 số công ty trong mẫu nghiên cứu

có CEO khác chủ tịch hội đồng quản trị. Thêm vào đó, số lượng CEO có vai trò kép

trong các công ty cũng có xu hướng giảm dần qua các năm, từ 38,6% số công ty

năm 2009 xuống còn 28,6% số công ty năm 2013.

Bảng 4.2: So sánh số lượng các công ty có CEO cũng là chủ tịch hội đồng quản

trị và số lượng các công ty có CEO khác chủ tịch hội đồng quản trị ở các công

ty tại Việt Nam

Năm

Số công ty có CEO cũng

là chủ tịch hội đồng quản

trị

Số công ty có CEO khác

chủ tịch hội đồng quản

trị

Tổng



2009



2010



2011



2012



2013



73



70



69



61



54



(38,6%)



(37,0%)



(36,5%)



(32,3%)



(28,6%)



116



119



120



128



135



(61,4%)



(63%)



(63,5%)



(67,7%)



(71,4%)



189



189



189



189



189



Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào số liệu từ các Báo cáo tình hình quản trị của

các công ty, lấy từ website của HNX và HOSE



45



4.2. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT CỦA

DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 – 2013

4.2.1. Kết quả thống kê mô tả

Bảng 4.3: Kết quả thống kê mô tả

Biến độc

lập



Số quan sát



Trung



Độ lệch



Giá trị



Giá trị



bình



chuẩn



nhỏ nhất



lớn nhất



CASH



945



0.179



0.581



0.0002



16.757



MTB



945



1.062



0.459



0.345



5.152



CF



945



0.071



0,215



-0.688



5.811



NWC



945



0.107



0.226



-1.198



0.902



LVRG



945



0.525



0.242



0.003



1.856



SIZE



945



27.102



1.456



23.402



31.471



BS



945



5.566



1.207



1



11



Nguồn: Tác giả tính toán với STATA 12.0

Bảng 4.3 thể hiện kết quả thống kê mô tả các biến độc lập của 189 công ty niêm yết

tại Việt Nam giai đoạn 2009 – 2013 trong mô hình nghiên cứu, sử dụng phần mềm

thống kê Stata. Kết quả cho thấy:

- Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt trung bình (CASH) ở Việt Nam đạt 17,9% với độ lệch

chuẩn 0,58. Kết quả này khá khác biệt so với nghiên cứu của Gill và Shah (2011)

với tỷ lệ 38,7% ở Canada và nghiên cứu của Attaullah Shah (2011) với tỷ lệ 8.26%

ở Pakistan.

- MTB trung bình: 1,062, giá trị thấp nhất 0,345, giá trị cao nhất 5,152



46



- CF trung bình: 07,1, giá trị thấp nhất -68,8%, giá trị cao nhất 581,1%

- NWC trung bình: 10,7%, giá trị thấp nhất -119,8, giá trị cao nhất 90,2

- LVRG trung bình: 52,5%, giá trị thấp nhất 0,3%, giá trị cao nhất 185,6%

- SIZE trung bình: 27,1, giá trị thấp nhất 23,4, giá trị cao nhất 31,5

- BS trung bình: 5,6 người, giá trị thấp nhất 1 người, giá trị cao nhất 11 người.



4.2.2. Hệ số tương quan giữa các biến

Bảng 4.4: Hệ số tương quan giữa các biến

CASH



MTB



CF



NWC



LVRG



SIZE



CASH



1



MTB



0.076



1



CF



0.902



0.249



1



NWC



-0.217



0.068



-0.037



1



LVRG



0.193



-0.111



-0.020



-0.624



1



SIZE



-0.062



0.208



-0.063



-0.267



0.291



1



BS



-0.041



0.060



-0.041



-0.032



-0,009



0.252



BS



1



Nguồn: Tác giả tính toán với STATA 12.0

Bảng 4.4 trình bày hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu. Các

biến chỉ số giá thị trường trên giá ghi sổ của tài sản (MTB), dòng tiền (CF) có mối

tương quan dương với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH) của doanh nghiệp. Nghĩa là,

những công ty có tình hình kinh doanh tốt, thu nhập trên tài sản cao, khả năng sinh

lợi cao sẽ nắm giữ tiền mặt nhiều hơn. Điều đáng lưu ý là giữa biến CASH và CF



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(72 tr)

×