Tải bản đầy đủ - 72 (trang)
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 72trang

23



• Biến độc lập

- MTB: Chỉ số giá thị trường tài sản trên giá sổ sách tài sản của doanh nghiệp

Giá ghi sổ xét về mặt kế toán là giá trị tài sản hay vốn cổ đông được phản ánh trong

bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Giá ghi sổ của toàn bộ cổ phiếu được tính

bằng tổng giá trị tài sản của công ty trừ đi giá trị tài sản vô hình như các phát minh,

sáng chế, giấy phép khai thác, nhãn hiệu, bí quyết, v.v… và các khoản nợ phải trả

bao gồm cả cổ phiếu ưu đãi, cho biết giá trị tài sản công ty còn lại thực sự là bao

nhiêu nếu ngay lập tức công ty rút lui khỏi kinh doanh. Giá ghi sổ là yếu tố tương

đối ổn định, không biến đổi quá nhanh và là một thước đo chính xác giá trị của công

ty nên là chỉ tiêu phân tích thích hợp cho các nhà đầu tư mua cổ phiếu đúng giá trị

để hưởng cổ tức hàng năm hơn là cho các nhà đầu cơ mua đi bán lại để hưởng

chênh lệch. Giá ghi sổ của một cổ phiếu được tính bằng giá ghi sổ của công ty chia

cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành.

Tuy nhiên, giá trị cổ phiếu được giao dịch mua bán trên thị trường không phải là giá

được ghi nhận trên sổ sách mà là giá được người mua và người bán xác lập trên thị

trường. Mức giá này được gọi là giá thị trường hay thị giá của cổ phiếu và được xác

lập tại một thời điểm nhất định bởi quan hệ giữa cung và cầu, do vậy có thể thay đổi

thường xuyên.

Nếu cổ phiếu của một công ty đang được mua bán với giá thấp hơn giá trị ghi sổ,

tức là có tỷ lệ MTB nhỏ hơn 1, khi đó có hai trường hợp có thể xảy ra: một là thị

trường đang cho rằng giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức, hai là thu

nhập trên tài sản của công ty là quá thấp. Ngược lại, nếu một công ty có giá thị

trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì đây thường là dấu hiệu cho thấy công

ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao. Theo một cách tiếp cận khác, Marakon

Associates1 trong các nghiên cứu của mình đã cho rằng, giá trị cho cổ đông được đo

bởi chênh lệch giữa giá thị trường và giá ghi sổ của vốn chủ sở hữu công ty. Giá ghi



1



Marakon Assosiates là một công ty tư vấn quản trị quốc tế được thành lập năm 1978, đi đầu trong nghiên

cứu lĩnh vực quản lý dựa trên giá trị (value based management)



24



sổ của vốn chủ sở hữu (B) phản ánh tương đối phần vốn góp của cổ đông, trong khi

giá thị trường của vốn chủ sở hữu (M) phản ánh mức độ hiệu quả trong việc sử

dụng phần vốn góp của cổ đông được đánh giá bởi thị trường chứng khoán2. Vì vậy,

giá trị cho cổ đông được tạo ra nếu M > B, mất đi nếu M < B và giữ nguyên nếu M

= B.

Vì những lý do trên, MTB được xem là đại diện cho cơ hội đầu tư của doanh

nghiệp. Doanh nghiệp có chỉ số MTB lớn hơn 1 hấp dẫn nhà đầu tư và có năng lực

cạnh tranh tốt hơn vì vậy có cơ hội đầu tư và phát triển cao hơn. MTB được xác

định như sau:

Giá sổ sách của tài sản – Giá sổ sách vốn cổ phần

+ giá thị trường vốn cổ phần

MTB



=



(3.3)



Giá sổ sách của tài sản



Những nghiên cứu trên thế giới về nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp cho ra kết

quả khác nhau về mối liên hệ giữa MTB và CASH. Afza và Adnan (2007), Gill và

Shah (2011) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng những doanh nghiệp có cơ

hội đầu tư càng cao, nghĩa là có chỉ số MTB càng lớn sẽ càng giảm lượng tiền mặt

nắm giữ, trong khi Alam và cộng sự (2011) tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa

MTB và lượng tiền mặt nắm giữ ở các công ty Pakistan. Trong đề tài này, tác giả

cho rằng những công ty có nhiều cơ hội đầu tư và thu nhập trên tài sản cao sẽ tận

dụng những cơ hội đầu tư của mình và giảm thiểu lượng tiền mặt do việc nắm giữ

tiền hầu như không tạo ra thu nhập tăng thêm cho doanh nghiệp. Vì vậy, giả thuyết

thứ nhất (H1) được xây dựng như sau: Chỉ số giá thị trường trên giá ghi sổ có mối

quan hệ ngược chiều (-) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.



2



Rajnisofat and Preeti Hiro (2011), “Strategic Financial Management”, PHI Learning Private Limited, New

Dehli puslishing



25



- CF: dòng tiền của doanh nghiệp trên tài sản

Dòng tiền thể hiện sự luân chuyển tiền trong một thời kỳ của doanh nghiệp, cho

thấy tiền doanh nghiệp thu vào và chi ra trong một khoảng thời gian xác định. Dòng

tiền thuần của một công ty được xác định bằng sự thay đổi số dư tiền mặt, dòng tiền

thuần tăng lên nếu công ty gia tăng số dư tiền mặt và giảm nếu số dư tiền mặt giảm

đi. Khi lượng tiền mặt tăng hay dòng tiền hoạt động dương sẽ làm tăng tính thanh

khoản cho công ty, và giúp công ty sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu về tiền mặt.

Dòng tiền của doanh nghiệp có thể được chia làm 3 loại chính:

- Dòng tiền hoạt động: là dòng tiền được hình thành từ hoạt động kinh doanh, có

liên quan trực tiếp đến việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa dịch vụ. tính toán trên kết

quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của một doanh nghiệp.

- Dòng tiền đầu tư: là dòng tiền hình thành từ hoạt động đầu tư, gắn liền với việc

mua bán tài sản cố định và các khoản tham gia đầu tư của doanh nghiệp như góp

vốn và thu hồi vốn góp, tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận nhận được.

- Dòng tiền tài trợ: được hình thành từ hoạt động tài trợ của doanh nghiệp, liên quan

đến việc vay nợ và hoàn trả khoản vay, tiền chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu, tiền

chi cổ tức, lợi nhuận, tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp chủ sở hữu.

Dòng tiền thuần là chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, thêm vào

đó dòng tiền thuần được xem là một chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi của một

công ty tốt hơn thu nhập, vì một công ty có thể cung cấp số liệu dương về thu nhập

trên các báo cáo tài chính nhưng có thể vẫn không có khả năng trả nợ. Dòng tiền là

yếu tố giúp công ty thanh toán các hóa đơn và các khoản nợ đến hạn của mình.

Dòng tiền hoạt động sẽ tác động đến số dư tiền mặt của doanh nghiệp. Trong đề tài

này, để tính toán mức độ ảnh hưởng của dòng tiền doanh nghiệp lên việc nắm giữ

tiền mặt, tỷ số giữa dòng tiền và tài sản không kể các khoản tiền và tương đương

tiền được sử dụng. Công thức tính CF được viết như sau:



26



Lãi sau thuế + khấu hao

CF



=



(3.4)

Tổng tài sản – tiền và các khoản tương đương tiền



Với những phân tích như trên, các doanh nghiệp sẽ nắm giữ lượng lớn tiền mặt khi

dòng tiền vào của doanh nghiệp tăng. Vì vậy, giả thuyết thứ hai (H2) được xây

dựng như sau: CF có mối quan hệ cùng chiều (+) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của

doanh nghiệp.



- NWC: vốn luân chuyển ròng trên tài sản của doanh nghiệp

Vốn luân chuyển ròng là phần chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và tổng các khoản

nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Nói cách khác, vốn luân chuyển ròng biểu thị số dư

tiền còn lại sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ vay ngắn hạn hay khả năng đáp

ứng nhu cầu bằng tiền mặt của một công ty.

Một công ty có thể có tài sản và khả năng sinh lợi cao nhưng có khả năng thanh

khoản thấp nếu tài sản của công ty không thể dễ dàng được chuyển đổi thành tiền

mặt. Vốn luân chuyển lớn hơn 0 là cần thiết để đảm bảo một công ty có thể tiếp tục

các hoạt động của mình và có đủ khả năng để đáp ứng nợ các khoản nợ ngắn hạn

đến hạn cũng như các chi phí vận hành sắp tới. Chính vì vậy, vốn luân chuyển ròng

đại diện cho các tài sản có thể thay thế cho tài sản có tính thanh khoản cao của

doanh nghiệp. Với mục tiêu xác định mức độ tác động của vốn luân chuyển ròng

lên lượng tiền mặt nắm giữ ở các doanh nghiệp, tác giả kế thừa phương pháp tính

NWC đã được đề cập trong nghiên cứu của Afza và Adnan (2007), Gill và Shah

(2011) theo công thức:

NWC



=



Vốn luân chuyển ròng – tiền và các khoản tương đương tiền

Tổng tài sản – tiền và các khoản tương đương tiền



Trong đó:

Vốn luân chuyển ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn



(3.6)



(3.5)



27



Như đã phân tích ở trên, một doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt và có thể

trang trải được các khoản nợ ngắn hạn khi có vốn luân chuyển ròng lớn hơn 0. Vốn

luân chuyển ròng của doanh nghiệp càng lớn chứng tỏ giá trị những tài sản có thể

thay thế cho tài sản có tính thanh khoản của công ty càng lớn, doanh nghiệp có thể

giảm thiểu tích trữ tiền mặt cho các mục tiêu thanh toán và dự phòng. Chính vì vậy,

giả thuyết thứ ba (H3) được xây dựng như sau: Vốn luân chuyển ròng có mối quan

hệ ngược chiều (-) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.



- LVRG: đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp

Đòn bẩy tài chính là một trong những phương cách giúp công ty nắm giữ tiền mặt

ở một tỷ lệ cao bằng cách vay vốn khi thâm hụt tiền mặt xảy ra nếu công ty có khả

năng phát hành nợ. Baskin (1987) cho rằng chi phí của nguồn vốn đầu tư vào tài

sản có tính thanh khoản gia tăng với mức độ sử dụng đòn bẩy. Tuy nhiên, mối

tương quan này phi tuyến, vay nợ có thể làm tăng khả năng xảy ra kiệt quệ tài

chính. Trong trường hợp đó, công ty có mức độ sử dụng nợ cao nên nắm giữ mức

độ cao hơn những tài sản có tính thanh khoản.

Tuy nhiên, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và tỷ lệ nắm giữ

tiền mặt tại doanh nghiệp đi đến những kết luận khác nhau. Ferreira và Vilela

(2004) tìm thấy bằng chứng cho thấy đòn bẩy tài chính có mối quan hệ ngược chiều

trong khi Gill và Shah (2011) cho rằng đòn bẩy tài chính có mối quan hệ thuận

chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Mặc dù vậy, trong các nghiên cứu về quản trị tiền

mặt, hầu hết các tác giả đều sử dụng cách tính đòn bẩy tài chính bằng tỷ lệ nợ trên

tài sản. Tác giả đề tài này cũng áp dụng công thức tính biến độc lập LVRG như

sau:

Tổng nợ

LVRG



=



(3.7)

Tổng tài sản – tiền và các khoản tương đương tiền



28



Mặc dù các nghiên cứu cho ra kết quả trái ngược nhau về mối liên hệ giữa đòn bẩy

tài chính và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, trong đề tài này tác giả cho rằng nếu các doanh

nghiệp có tỷ lệ nợ trên tổng nguồn vốn ở mức cao, họ sẽ gia tăng tiền mặt dự trữ để

đề phòng phá sản hoặc chuẩn bị cho các chi tiêu trong tương lai thay vì đi vay nợ

bên ngoài. Nói cách khác, các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy cao sẽ nắm giữ nhiều

tiền mặt. Vì vậy, giả thuyết thứ tư (H4) được xây dựng như sau: Đòn bẩy tài chính

có mối quan hệ cùng chiều (+) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.



- SIZE: quy mô của doanh nghiệp

Quy mô của một doanh nghiệp được xác định dựa trên quy mô tài sản của doanh

nghiệp. Trong đề tài này, ký hiệu quy mô công ty là SIZE, là logarit tự nhiên của

tổng tài sản doanh nghiệp.

SIZE = LN (TỔNG TÀI SẢN) (3.8)

Đã có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa quy mô của doanh

nghiệp và việc quản trị tiền mặt. Một số nghiên cứu đặt giả thuyết về mối tương

quan âm giữa quản trị tiền mặt và quy mô công ty. Miller và Orr (1966) nói rằng

công ty lớn có lợi thế kinh tế về quy mô để quản trị tiền mặt. Do đó, những công

ty lớn sẽ nắm giữ ít tiền mặt. Peterson và Rajan (2003) cũng cho rằng vay mượn

bên ngoài ít tốn chi phí hơn với những công ty lớn vì chi phí tài chính cố định mà

họ trả cho việc huy động vốn chỉ chiếm phần trăm nhỏ trong tổng khoản huy động

vốn. Những công ty nhỏ hơn sẽ nắm giữ tiền mặt lớn hơn vì họ đối mặt với chi

phí cao hơn khi huy động vốn bên ngoài. Trái với những tranh luận này, Opler và

cộng sự (1999) lại cho rằng những công ty lớn thì có vị thế tốt hơn để tích trữ tiền

mặt vì họ có khả năng đạt được lợi nhuận cao hơn.

Tác giả cho rằng tại thị trường Việt Nam, các công ty quy mô lớn có lợi thế kinh tế

về quy mô trong quản trị tiền mặt. Các công ty quy mô lớn dễ dàng tiếp cận các

cách thức khác nhau để quản trị lượng tiền mặt của mình như phát hành nợ vay, huy

động vốn, v.v… vì vậy, nhu cầu nắm giữ tiền mặt ở những công ty này sẽ thấp hơn.



29



Giả thuyết thứ năm (H5) của đề tài được xây dựng như sau: Quy mô công ty có mối

quan hệ ngược chiều (-) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.



- DIV: việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp,

Những công ty chi trả cổ tức có thể có thêm một phương pháp quản trị tiền mặt

bằng cách hoãn chi trả cổ tức khi thâm hụt tiền mặt xảy ra. Các nghiên cứu trước

đây về mối liên hệ giữa việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp và tỷ lệ nắm giữ

tiền xác định biến chi trả cổ tức theo hai hướng: Afza và Adnan (2007) tính tỷ

lệ cổ tức được chi trả trên tổng tài sản trong khi Gill và Shah (2011) chỉ xác

định công ty có chi trả cổ tức hay không. Trong đề tài này, tác giả áp dụng

cách xác định biến DIV theo nghiên cứu của Gill và Shah (2011), DIV là biến giả,

có giá trị bằng 1 nếu doanh nghiệp trả cổ tức bằng tiền mặt, bằng 0 nếu không trả

cổ tức bằng tiền mặt.

Giả thuyết đề ra là những công ty không chi trả cổ tức sẽ nắm giữ tiền mặt lớn hơn

Giả thuyết thứ sáu (H6) được xây dựng như sau: Việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt

có mối quan hệ ngược chiều (-) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.



- BS: quy mô hội đồng quản trị của doanh nghiệp

Biến quy mô hội đồng quản trị được xác định là số lượng thành viên trong hội đồng

quản trị đó.

BS = SỐ LƯỢNG THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ



(3.9)



Việc giới hạn quy mô của một hội đồng quản trị ở một mức nhất định nào đó được

cho là sẽ cải thiện tình hình hình hoạt động của một doanh nghiệp bởi vì những lợi

ích được tạo ra từ việc tăng tính giám sát không bù lại được việc đối thoại và ra

quyết định kém hơn của một hội đồng quản trị lớn. Những nghiên cứu thực nghiệm

về quy mô hội đồng quản trị cho kết quả tương tự nhau – có mối quan hệ ngược

chiều đáng kể giữa quy mô hội đồng quản trị và giá trị doanh nghiệp. Một hội đồng



30



quản trị quá lớn dường như kém hiệu quả trong việc đưa ra quyết định về các vấn đề

quan trọng giữa các thành viên hội đồng với vai trò giám sát quản trị, hoạt động

kém hiệu quả hơn và CEO sẽ dễ dàng điều khiển hơn.

Yermark (1996) ở Phần Lan và Liang và Li (1999) ở Trung Quốc tìm thấy mối quan

hệ ngược chiều giữa quy mô hội đồng quản trị và khả năng sinh lợi. Nghiên cứu của

Eisenberg, Sundgren và Wells (1998), Mak & Kusnadi (2005), Sanda và cộng sự

(2003) cũng cho rằng hội đồng quản trị nhỏ có mối quan hệ tích cực với hiệu quả

hoạt động của doanh nghiệp. Một kết quả nghiên cứu ở Malaysia và Singapore cũng

cho thấy doanh nghiệp được định giá cao nhất khi hội đồng quản trị có 5 thành viên,

một số lượng được xem là khá nhỏ trên thị trường những nước này.

Có thể nhận thấy trên thực tế, hội đồng quản trị của các công ty ở Việt Nam cũng

không nằm ngoài những quy luật trên. Tác giả cho rằng một hội đồng quản trị nhỏ

hiệu quả hơn trong việc đưa ra các quyết định hơn là một hội đồng quản trị lớn. Khi

một hội đồng quản trị lớn, những thành viên trong hội đồng quản trị sẽ trở nên khó

khăn hơn trong việc phối hợp để hoạt động và giải quyết các vấn đề mang tính chiến

lược của công ty và có thể dẫn đến việc nắm giữ tiền quá mức trong doanh nghiệp.

Vì vậy, giả thuyết thứ bảy (H7) được xây dựng như sau: Quy mô hội đồng quản trị

có mối quan hệ cùng chiều (+) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.



- CD: vai trò kép của CEO của doanh nghiệp

Trong các công ty cổ phần luôn tồn tại nguy cơ xung đột về lợi ích giữa một bên là

cổ đông với tư cách người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều

hành công ty với tư cách người trực tiếp quản lý sử dụng vốn. Những người quản lý

là người điều hành mọi hoạt động của công ty và vì vậy có thể họ sẽ ưu tiên các

quyền lợi cá nhân, quyền lợi nhóm hơn là quyền lợi của các cổ đông. Do đó, luật về

quản trị công ty của các quốc gia cũng như những quy định của các thị trường

chứng khoán niêm yết thường yêu cầu trong cơ cấu hội đồng quản trị công ty phải

có sự tham gia của các thành viên hội đồng quản trị độc lập. Tính độc lập của thành



31



viên hội đồng quản trị rất quan trọng trong việc giám sát, làm giảm nguy cơ lạm

dụng quyền hạn của những người quản lý công ty, góp phần bảo vệ lợi ích chính

đáng của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ.

Một số nghiên cứu đã kiểm tra vai trò độc lập của CEO và chủ tịch hội đồng quản

trị và cho rằng những vấn đề đại diện sẽ xảy ra nhiều hơn khi một người nắm giữ cả

hai vị trí. Yermack (1996) đã sử dụng mẫu gồm 452 công ty lớn nhất ở Mỹ từ năm

1984 đến 1991, kết quả cho thấy những công ty có CEO và chủ tịch hội đồng quản

trị là những người khác nhau hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, Liang và Li

(1999) ở Trung Quốc không tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa vai trò độc lập

của CEO và chủ tịch hội đồng quản trị với kết quả hoạt động của doanh nghiệp.

Vai trò kép của CEO và quy mô hội đồng quản trị đóng vai trò quan trọng trong

việc duy trì mức độ nắm giữ tiền mặt của một doanh nghiệp. CEO cùng với hội

đồng quản trị thiết lập các chính sách bao gồm chính sách liên quan đến nắm giữ

tiền. Với vai trò kép của mình các CEO có thể phục vụ lợi ích của ban lãnh đạo và

một cách để bảo vệ vị thế của ban lãnh đạo là nắm giữ tiền mặt quá mức. Thêm vào

đó, khi việc bảo vệ quyền cổ đông không tốt, những nguyên nhân dẫn đến nhu cầu

nắm giữ tiền mặt như cơ hội đầu tư và thông tin bất cân xứng trở nên không còn

quan trọng. Nói tóm lại, các vấn đề đại diện là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng

đến việc nắm giữ tiền mặt.

Trong nghiên cứu này, CDi,t là biến giả, có giá trị bằng 1 nếu CEO cũng là chủ

tịch Hội đồng quản trị, nếu không bằng 0.

Với những lập luận như trên, giả thuyết thứ tám (H8) được xây dựng như sau: Vai

trò kép của CEO có mối quan hệ cùng chiều (+) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của

doanh nghiệp.



32



- Ngành: biến ngành của doanh nghiệp

Ngành có giá trị là MAN nếu là ngành sản suất, SER nếu là ngành thương mại dịch

vụ. Việc thêm biến ngành vào mô hình nhằm mục đích xác định và so sánh sự khác

nhau của những nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp ở

các ngành khác nhau.



Bảng 3.1 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

Tên biến



Kí hiệu



Mô tả biến



Kỳ vọng về dấu



Biến phụ thuộc:

Là tỷ số của các khoản tiền

mặt và tương đương tiền



Tỷ lệ nắm giữ tiền

mặt



của



doanh CASH



nghiệp



trên tài sản doanh nghiệp

không bao gồm các khoản

tiền mặt và tương đương

tiền.



Biến độc lập:

Là tỷ số giữa giá thị trường



Chỉ số giá thị trường

trên giá ghi sổ tài



MTB



sản



của tài sản (M) và giá ghi sổ

của tài sản (B) của doanh



(-)



nghiệp.

Là tỷ số giữa dòng tiền và



Tỷ lệ dòng tiền trên

tài sản



CF



tài sản không kể các khoản

tiền và tương đương tiền

của doanh nghiệp.



(+)



33



Là tỷ số giữa tài sản ngắn

hạn ròng không bao gồm

Tỷ



lệ



vốn



luân



chuyển ròng trên tài



tiền và các khoản tương

NWC



đương tiền trên và tổng tài



(-)



sản không kể các khoản tiền



sản



và tương đương tiền của

doanh nghiệp.

Là tỷ số giữa tổng nợ và tài

Đòn bẩy tài chính



LVRG



sản không kể các khoản tiền

và tương đương tiền của



(+)



doanh nghiệp.

Quy mô của doanh

nghiệp



SIZE



Là Logarite tự nhiên của

tổng tài sản doanh nghiệp.



(-)



Có giá trị bằng 1 nếu doanh

Việc chi trả cổ tức



DIV



nghiệp trả cổ tức bằng tiền



(-)



mặt, nếu không bằng 0.

Quy mô hội đồng

quản trị



Vai trò kép của

CEO



Số lượng thành viên hội

BS



đồng quản trị của doanh

nghiệp.

Có giá trị bằng 1 nếu CEO



CD



cũng là chủ tịch Hội đồng

quản trị, nếu không bằng 0.

Có giá trị là MAN nếu là



Biến ngành



(+)



Ngành



ngành sản suất, SER nếu là

ngành thương mại dịch vụ.



(+)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(72 tr)

×