Tải bản đầy đủ - 72 (trang)
CHƯƠNG 2: CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT CỦA DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 2: CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 72trang

8



một hệ thống phân cấp về tài chính và cần có những quyết định chính xác trước khi

vay nợ, theo lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984). Cũng theo lý

thuyết này, chi phí vay có thể tránh được nếu công ty có khả năng giữ lại tiền mặt

trong nội bộ để thực hiện các dự án đầu tư có NPV dương. Nói cách khác, các nhà

quản lý có thể tránh được vấn đề này bằng cách xác định mức tiền mặt cần nắm giữ

cho công ty. Nắm giữ tiền mặt lúc này sẽ có lợi vì công ty có thể tận dụng được các

cơ hội đầu tư, đặc biệt là cho các công ty có khó khăn trong việc tiếp cận nguồn tài

trợ bên ngoài. Ngoài ra, việc đảm bảo tính thanh khoản cũng làm giảm khả năng

phát sinh chi phí tài chính nếu hoạt động của công ty không tạo ra dòng tiền đủ để

đáp ứng việc thanh toán các khoản nợ bắt buộc (Faulkender và Wang, 2006).

Liên quan đến vấn đề lợi ích và chi phí của việc nắm giữ tiền mặt, năm 1979,

Jensen và Meckling cũng đã làm rõ những lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt. Trước

tiên, nắm giữ tiền là để phòng ngừa, việc công ty duy trì được tính thanh khoản sẽ

giúp công ty linh hoạt hơn trong việc giải quyết các tình huống bất ngờ. Thứ hai,

đối với các hoạt động giao dịch, tiền mặt có thể đáp ứng những nhu cầu từ những

hoạt động bình thường của công ty như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các

khoản chi phí cần thiết đúng hạn đảm bảo uy tín của doanh nghiệp đối với chủ nợ,

hạn chế việc gây gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh và nhiều hậu quả kéo theo

như mất thị phần, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp,…Thứ ba, công ty dự trữ tiền

mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện cơ hội đầu tư tốt, bởi sự có mặt của bất cân

xứng thông tin có thể gia tăng chi phí tài chính từ bên ngoài.

Theo Myers (1984), việc duy trì một mức dự trữ tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện

cho doanh nghiệp có cơ hội thu được chiết khấu khi mua hàng, làm tăng khả năng

thanh toán. Hơn thế nữa, sự tồn tại của chi phí đại diện có thể làm gia tăng chi phí

để các công ty có được nguồn tài trợ bên ngoài, điều này có thể dẫn đến việc các

công ty bỏ qua việc đầu tư vào các dự án có NPV dương. Vì vậy, các nhà quản lý

của công ty nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao là nhằm để giảm chi phí

phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài.



9



Nói như thế không có nghĩa là khi công ty có càng nhiều tiền mặt thì luôn tốt. Việc

đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cao cũng có những bất lợi vì phát sinh

nhiều chi phí. Một mức tiền mặt cao thể hiện trong bảng cân đối kế toán có thể

khiến cho nhà đầu tư đặt ra nhiều câu hỏi, nhất là khi lượng tiền mặt đột nhiên cao

hơn mức bình thường. Tại sao các nhà quản trị lại để tiền mặt ở đó mà không đem

đi đầu tư? Nhà đầu tư có quyền nghi ngờ vì doanh nghiệp đã bị mất các cơ hội đầu

tư hoặc là ban quản trị doanh nghiệp quá yếu kém nên đã không biết làm gì với

lượng tiền mặt đó. Việc để tiền mặt trong doanh nghiệp quá nhiều có thể làm cho

doanh nghiệp mất chi phí cơ hội, nếu công ty bỏ qua những dự án đầu tư đem lại

nhiều lợi nhuận. Chi phí cơ hội của tiền mặt trong trường hợp này được hiểu là sự

khác biệt giữa lãi suất có được khi nắm giữ tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn ở ngân

hàng và cái giá phải trả để có được tiền mặt chính là chi phí sử dụng vốn bình quân

của doanh nghiệp - WACC. Mặt khác, dự trữ tiền mặt nhiều có thể làm gia tăng

mâu thuẫn giữa nhà quản trị và cổ đông hay nói cách khác, chi phí đại diện rất dễ

xảy ra trong tình huống này. Theo đó, nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng

dòng tiền tự do một cách tùy ý, điều này sẽ gây ra mâu thuẫn với lợi ích của cổ

đông (Jensen, 1986). Khi các nhà quản trị muốn gia tăng mức tiền mặt nắm giữ

trong doanh nghiệp, các nhà quản trị luôn đưa ra những lời giải thích dường như rất

hợp lý: tiền mặt nhiều có thể giúp doanh nghiệp có tính linh hoạt về mặt tài chính

hơn; thực hiện các phi vụ thâu tóm một cách nhanh chóng hơn. Thế nhưng, với các

doanh nghiệp có lượng tiền mặt nhiều hơn mức cần thiết mà các lý thuyết đề nghị

thì sẽ nảy sinh các vấn đề đại diện. Các nhà quản trị có thể thực hiện những vụ thâu

tóm lãng phí và đầu tư vào các dự án kém hiệu quả nhằm phục vụ cho các lợi ích cá

nhân, các động cơ bên trong đó chính là việc tư lợi của các nhà quản trị. Thậm chí

trong tình huống tệ hơn, các doanh nghiệp có lượng tiền mặt quá dồi dào còn giúp

cho các nhà quản trị giảm áp lực cho quá trình vận hành doanh nghiệp. Họ không bị

sức ép phải tính toán điều hành hợp lý nhất để đáp ứng được các nghĩa vụ ngắn hạn

như các doanh nghiệp chỉ có lượng tiền mặt vừa phải theo mức cần thiết.



10



Harford (1999) đã nghiên cứu dựa trên mẫu các công ty Mỹ trong giai đoạn 1977 –

1993. Harford đã cho thấy những công ty có nhiều tiền mặt có thu nhập thấp hơn

những công ty khác, bằng chứng cho thấy thu nhập trên cổ phiếu ở các công ty có

nhiều tiền mặt giảm, cụ thể những công ty nắm giữ nhiều tiền mặt giảm 7 xu thu

nhập trên cổ phiếu với mỗi Đô la tiền mặt nắm giữ tăng thêm. Những công ty giữ

nhiều tiền mặt dường như có mục tiêu tạo ra những nguồn thu nhập đa dạng và mục

đích của họ không phải là thu hút những người mua đi bán lại. Phù hợp với bằng

chứng về thu nhập cổ phiếu, những công ty liên kết trong đó các công ty thành viên

nắm giữ nhiều tiền mặt có kết quả hoạt động sụt giảm bất thường. Nhìn chung, bằng

chứng cho thấy chi phí đại diện của dòng tiền tự do giải thích cho thu nhập của

những công ty nắm giữ nhiều tiền mặt (Harford, 1999).

Như vậy, có hai trường phái đối lập nhau liên quan đến việc nắm giữ tiền mặt.

Myers và Majluf (1984) lập luận rằng nhiều công ty nắm giữ số lượng tiền mặt lớn

để tránh việc gia tăng nguồn tài trợ bên ngoài vì số dư tiền mặt tạo ra nhiều lợi ích

tài chính, nhưng không dẫn đến chi phí đại diện. Ở một khía cạnh khác Jensen

(1986) đề xuất rằng các công ty chỉ nắm giữ số dư tiền mặt tối thiểu vì dư thừa tiền

mặt dẫn đến chi phí đại diện nhưng không tạo ra lợi ích tài chính. Vậy, nắm giữ tiền

mặt bao nhiêu là đủ đối với một doanh nghiệp?, các nhân tố tác động đến mức nắm

giữ tiền mặt của công ty là gì? DeAngelo (2007) đã thực hiện nghiên cứu của mình

về vấn đề nên nắm giữ tiền mặt bao nhiêu là đủ? Ông cho rằng số dư tiền mặt vừa

dẫn đến chi phí đại diện vừa tạo ra lợi ích tài chính, và do đó các nhà đầu tư sẽ gây

áp lực cho các công ty để hạn chế số dư tiền mặt nhằm giảm thiểu chi phí đại diện,

trong khi cũng khuyến khích các nhà quản lý nên duy trì một lượng tiền mặt đủ để

tài trợ cho các nhu cầu vốn xảy ra bất ngờ.

Bate và cộng sự (2008) đã thực hiện nghiên cứu tại Mỹ về vấn đề vì sao các công ty

tại Mỹ lại nắm giữ tiền mặt quá nhiều so với lượng tiền mặt họ sử dụng. Bằng cách

đưa ra khá nhiều bằng chứng thực tế, bài nghiên cứu của ông mang tính thuyết phục

rất cao. Ông cho rằng, tùy thuộc vào từng tình huống, tùy vào tình hình kinh doanh,

ngành nghề cũng như vị thế tài chính hiện tại của doanh nghiệp, tuỳ theo điều kiện



11



và đặc điểm của từng doanh nghiệp mà các doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết

định nắm giữ tiền mặt khác nhau. Khi xác định lượng tiền mặt doanh nghiệp thật sự

cần nắm giữ, nhà quản trị có thể xem xét đến nhiều yếu tố khác nhau, như yếu tố

dòng tiền tương lai, chu kỳ kinh doanh, các kế hoạch chi tiêu vốn, các nghĩa vụ phải

trả khẩn cấp và các nhu cầu cần tiền mặt để chi trả khác. Ông cũng cho rằng, mức

độ quan trọng của các yếu tố này là khác nhau đối với từng doanh nghiệp, từng giai

đoạn khác nhau trong chu kỳ của nền kinh tế. Nếu công ty đang mắc nợ nhiều thì

công ty nên trữ tiền để trả lãi hoặc đề phòng trường hợp phải thanh toán bất thường.

Còn nếu doanh nghiệp đang trong tình trạng dư giả thì nên đầu tư tiền mặt vào các

hoạt động sinh lời như mua lại cổ phiếu hoặc chi trả cổ tức tiền mặt cho các cổ

đông. Ông cho rằng, các doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất phần mềm và dịch

vụ, giải trí và truyền thông thường không bị đòi hỏi về chi tiêu vốn nhiều như các

công ty trong các ngành thâm dụng vốn, nên tiền mặt của các doanh nghiệp này cứ

thế tăng lên. Trong khi đó, các doanh nghiệp phải chi tiêu vốn nhiều như các nhà

sản xuất Thép, phải thường xuyên đầu tư nhiều cho các trang thiết bị, dây chuyền

sản xuất và nguyên vật liệu sản xuất. Các doanh nghiệp trong các ngành thâm dụng

vốn như vậy thường cần duy trì lượng tiền mặt cần thiết trong một thời gian dài hơn

bởi vì vòng quay tiền mặt không thể nhanh như các doanh nghiệp trong các ngành

khác. Hơn thế nữa, đối với các doanh nghiệp trong các ngành Sản xuất, Dịch vụ có

tính chu kỳ thì cần duy trì lượng tiền mặt nhiều để vượt qua giai đoạn đi xuống của

chu kỳ sản xuất. Mặt khác, quyết định nắm giữ tiền mặt hay không còn tùy thuộc

vào từng giai đoạn của nền kinh tế. Trong thời kỳ khủng hoảng, nhà quản trị thường

lo lắng về tương lai sắp tới của doanh nghiệp. Do đó, tiền mặt trở thành một tấm

chắn bảo vệ cho các công ty, tích lũy tiền mặt trong thời kỳ khủng hoảng là một lựa

chọn khôn ngoan. Hơn nữa, trong tình hình kinh tế bất ổn thì hầu hết các doanh

nghiệp đều cho rằng tiền gửi tại ngân hàng là tương đối an toàn. Do đó, điểm đến ưa

thích của các công ty tích trữ tiền là các tài khoản không sinh lãi hoặc sinh lãi ít, tuy

nhiên, ít nhất các doanh nghiệp có thể an tâm rằng họ sẽ được nhận lại đầy đủ số

tiền đã gửi. Hơn nữa, nếu lãi suất gửi ngân hàng khá cao, gửi tiền ngân hàng được



12



xem là một lựa chọn khá tốt, vừa đảm bảo tính thanh khoản cho doanh nghiệp vừa

thu về một khoản lãi tương đối.

Về vấn đề những yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp,

Nadiri (1969) trong nghiên cứu “The Determinants of Real Cash Balances in the

U.S. Total Manufacturing Sector” đăng trên tạp chí The Quarterly Journal of

Economics đã tiên phong nghiên cứu về vấn đề nắm giữ tiền bằng dữ liệu thu thập

từ khu vực sản xuất của Mỹ từ năm 1948 đến 1964 để ước đoán mô hình liên quan

đến số dư tiền mong muốn. Kết quả cho thấy nhu cầu về số dư tiền thực được quyết

định bởi sản lượng đầu ra, lãi suất, tỷ lệ thay đổi dự báo trong mức giá chung, và giá

cả của các yếu tố đầu vào.

Opler và cộng sự (1999) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nắm giữ tiền mặt

tại Mỹ. Tác giả khảo sát các yếu tố quyết định và tác động đến việc nắm giữ tiền

mặt và các chứng khoán thị trường giao dịch công khai của các công ty Mỹ trong

giai đoạn 1971-1994. Kết quả là đã tìm thấy bằng chứng ủng hộ cho lý thuyết đánh

đổi trong việc nắm giữ tiền mặt. Đặc biệt, các công ty với các cơ hội tăng trưởng

cao và dòng tiền rủi ro hơn thì thường nắm giữ một tỷ lệ thấp hơn tiền mặt trên tổng

tài sản. Những kết quả này phù hợp với quan điểm rằng "Các công ty nắm giữ tài

sản ngắn hạn để đảm bảo rằng họ có thể nắm bắt cơ hội đầu tư khi dòng tiền đang ở

mức thấp và khi nguồn vốn bên ngoài là tốn kém”. Các công ty có cơ hội cao hơn

trong việc tiếp cận thị trường vốn, chẳng hạn như những công ty lớn thì thường có

tỷ lệ vay nợ cao, do đó lượng tiền mặt nắm giữ trong công ty trên tổng tài sản

thường thấp. Tuy nhiên, tác giả cũng tìm ra bằng chứng cho thấy các công ty có xu

hướng tích lũy tiền mặt nhiều hơn so với dự đoán bởi lý thuyết đánh đổi tĩnh. Có rất

ít bằng chứng về việc nắm giữ tiền mặt quá mức có tác động nhiều đến chi phí vốn,

chi tiêu mua lại, và trả cổ tức cho cổ đông trong ngắn hạn. Phân tích của tác giả đã

cung cấp bằng chứng bác bỏ ý kiến cho rằng tiền mặt dư thừa dẫn đến việc các công

ty sẽ chi tiêu nhiều hơn hoặc sẽ thực hiện các cuộc thâu tóm có quy mô lớn hơn.

Những bằng chứng này cũng phù hợp với quan điểm rằng các nhà quản lý thường



13



có xu hướng tích lũy tiền mặt dư thừa. Opler và cộng sự cũng tìm ra rằng những

công ty hoạt động tốt có khuynh hướng tích trữ nhiều tiền mặt hơn

Vai trò kép của CEO và quy mô hội đồng quản trị đóng vai trò quan trọng trong

việc duy trì mức độ nắm giữ tiền mặt của một doanh nghiệp. Dahya và Travlov

(2000) cho rằng, với vai trò kép của mình các CEO có thể phục vụ lợi ích của ban

lãnh đạo và một cách để bảo vệ vị thế của ban lãnh đạo là nắm giữ tiền mặt quá

mức. Thêm vào đó, CEO cùng với hội đồng quản trị thiết lập các chính sách bao

gồm chính sách liên quan đến nắm giữ tiền. Yermack (1996) và Lipton & Lorsch

(1992) giải thích rằng một hội đồng quản trị nhỏ hiệu quả hơn trong việc đưa ra các

quyết định hơn là một hội đồng quản trị lớn. Một hội đồng quản trị lớn có thể dẫn

đến việc nắm giữ tiền quá mức trong doanh nghiệp.

Dittma và cộng sự (2003) đã thu thập dữ liệu của hơn 11.000 doanh nghiệp từ 45

nước và tìm ra rằng những công ty ở những nước mà quyền cổ đông không được

bảo vệ sẽ nắm giữ tiền mặt gấp 2 lần những công ty ở những nước bảo vệ quyền cổ

đông tốt. Nghiên cứu cũng tìm thấy khi việc bảo vệ quyền cổ đông không tốt,

những nguyên nhân dẫn đến nhu cầu nắm giữ tiền mặt như cơ hội đầu tư và thông

tin bất cân xứng trở nên không còn quan trọng. Thêm vào đó, nghiên cứu cho thấy

những công ty nắm giữ tiền mặt nhiều khi có thể tiếp cận các nguồn tài chính dễ

dàng. Dittma và cộng sự cũng cho rằng các vấn đề đại diện là những yếu tố quan

trọng ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt.

Ferreira và Vilela (2004) đã sử dụng mẫu gồm 400 công ty ở 12 nước thuộc Liên

minh Kinh tế và Tiền tệ (EMU) trong giai đoạn 1987 – 2000 để nghiên cứu những

nhân tố quyết định đến việc nắm giữ tiền mặt. Kết quả cho thấy lượng tiền mặt được

nắm giữ của công ty có mối tương quan dương với cơ hội đầu tư và tương quan âm

với lượng tài sản thanh khoản thay thế và đòn bẩy tài chính. Những phát hiện này

phù hợp với lý thuyết đánh đổi khi cho rằng các công ty xác định mức độ tối ưu về

lượng tiền mặt nắm giữ bởi chi phí biên và lợi ích biên của việc nắm giữ tiền mặt.

Lý thuyết trật tự phân hạng cũng phù hợp với những kết quả này, tuy nhiên, bằng



14



chứng này lại mâu thuẫn với lý thuyết dòng tiền tự do vì đã dự đoán một mối quan

hệ nghịch biến giữa các cơ hội đầu tư và lượng tiền mặt nắm giữ, theo đó, nghiên

cứu cho thấy mâu thuẫn đại diện giữa nhà quản lý và cổ đông không đóng vai trò

quyết định trong việc xác định lượng tiền mặt doanh nghiệp cần nắm giữ. Mối

tương quan nghịch biến giữa lượng tiền mặt nắm giữ và quy mô hỗ trợ cho lý thuyết

đánh đổi và mâu thuẫn với lý thuyết trật tự phân hạng. Nhìn chung, tác giả đưa đến

kết luận rằng cả hai lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết đánh đổi đóng một vai

trò quan trọng để giải thích các yếu tố quyết định nắm giữ tiền mặt của công ty.

Trong bài nghiên cứu, tác giả cũng cung cấp bằng chứng về mối tương quan nghịch

biến đáng kể giữa nợ vay ngân hàng và nắm giữ tiền mặt của các công ty. Điều này

là phù hợp với quan điểm các ngân hàng ở một vị trí tốt hơn để xác định chất lượng

tín dụng của công ty, để theo dõi cũng như kiểm soát các chính sách tài chính của

công ty, cũng như cắt giảm sự bất cân xứng thông tin và các vấn đề đại diện thường

liên quan đến việc sử dụng đòn bẩy tài chính của các công ty. Cuối cùng, phân tích

của tác giả còn cho thấy, các công ty ở các quốc gia bảo vệ nhà đầu tư tốt, theo các

quy định của pháp luật và việc thực thi pháp luật thường giữ tiền mặt nhiều hơn.

Mức độ phát triển thị trường vốn có mối tương quan âm với nắm giữ tiền mặt, đó là

mặt trái của chi phí đại diện, nhưng lại hỗ trợ cho các công ty nắm giữ tiền mặt vì

động cơ phòng ngừa.

Nguyen (2005) đã thu thập mẫu 9.168 quan sát theo năm từ thị trường chứng khoán

Tokyo trong giai đoạn 1992 – 2003. Tác giả tìm hiểu giả thuyết tỷ lệ nắm giữ tiền

mặt có mục đích dự phòng và nhằm giảm bớt những biến động thu nhập hoạt động.

Thông qua phân tích hồi quy, Nguyen tìm thấy việc nắm giữ tiền mặt có mối liên hệ

thuận chiều với rủi ro doanh nghiệp nhưng ngược chiều với rủi ro gắn với đặc thù

ngành. Tác giả cũng cho thấy nắm giữ tiền mặt giảm khi quy mô công ty và tỷ lệ nợ

tăng và tăng khi lợi nhuận, triển vọng phát triển và tỷ lệ chi trả cổ tức tăng. Nguyen

đã tìm thấy mục đích dự phòng của việc nắm giữ tiền mặt bằng cách thực hiện phân

loại theo đó việc thiếu hụt tiền mặt gây ra những chi phí khác nhau. Kết quả nghiên



15



cứu cho thấy những doanh nghiệp là thành viên tập đoàn doanh nghiệp Nhật Bản

nắm giữ tiền mặt ít hơn và có độ rủi ro thấp hơn.

Saddour (2006) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định đến việc nắm giữ tiền mặt bằng

dữ liệu từ 297 doanh nghiệp Pháp trong giai đoạn 1998 – 2002, sử dụng thuyết đánh

đổi. Thông qua phân tích hồi quy, tác giả tìm thấy những công ty Pháp tăng tỷ lệ

nắm giữ tiền mặt khi hoạt động của họ chịu nhiều rủi ro và mức độ lưu chuyển tiền

mặt cao, và giảm tỷ lệ nắm giữ tiền mặt khi công ty có tỷ lệ nợ trên tài sản cao.

Những công ty đang phát triển có mức độ nắm giữ tiền mặt cao hơn những công ty

đã phát triển. Đối với những công ty đang phát triển, có mối quan hệ ngược chiều

giữa tiền mặt và những đặc tính sau đây của công ty: quy mô, độ thanh khoản của

tài sản và nợ ngắn hạn. Mức độ nắm giữ tiền mặt của những công ty phát triển tăng

cùng chiều với quy mô, mức độ đầu tư và việc chi trả cho cổ đông dưới hình thức

cổ tức hoặc mua cổ phiếu và giảm với tín dụng thương mại và chi phí đầu tư và phát

triển (Saddour, 2006, p.1).

Afza và Adnan (2007) tập trung xác định mức độ nắm giữ tiền mặt của những công

ty phi tài chính ở Pakistan với các quy mô doanh nghiệp khác nhau và ngành khác

nhau. Các tác giả sử dụng bộ dữ liệu từ năm 1198 đến 2005 cho các biến: quy mô

công ty, cơ hội phát triển, dòng tiền, vốn luân chuyển ròng, đòn bẩy tài chính, mức

độ thay đổi của dòng tiền và chi trả cổ tức. Afza và Adnan tìm thấy mối quan hệ

ngược chiều giữa tỷ lệ giá thị trường trên giá ghi sổ, vốn luân chuyển ròng, đòn bẩy

tài chính, cổ tức và nắm giữ tiền mặt; và mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô công

ty, dòng tiền và nắm giữ tiền mặt. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty,

dòng tiền, độ dao động dòng tiền, vốn luân chuyển ròng và đòn bẩy tài chính có tác

động đáng kể đến việc nắm giữ tiền mặt ở các công ty phi tài chính Pakistan.

Drobetz và Gruninger (2007) đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến nắm giữ tiền

mặt với mẫu gồm 156 công ty phi tài chính của Thụy Sỹ từ năm 1995 đến 2004.

Thông qua phân tích hồi quy, tác giả tìm thấy tài sản hữu hình và quy mô công ty

đều có tác động ngược chiều đến nắm giữ tiền mặt. việc chi trả cổ tức và dòng tiền



16



hoạt động có tác động cùng chiều đến việc nắm giữ tiền mặt. Ngoài ra, Drobetz và

Gruninger tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa vai trò kép của CEO và nắm giữ

tiền mặt, và mối quan hệ không đáng kể giữa quy mô hội đồng quản trị và nắm giữ

tiền mặt. Điều này có nghĩa là vai trò kép của CEO dẫn đến việc nắm giữ tiền mặt

cao hơn đáng kể và quy mô hội đồng quản trị không có tác động đến việc nắm giữ

tiền mặt.

Hardin III và cộng sự (2009) đã sử dụng mẫu 1.114 quan sát hàng năm từ 194 tờ-rớt

đầu tư bất động sản (REITs) ở Mỹ từ năm 1998 đến 2006. Thông qua phân tích hồi

quy OLS, các giả cho thấy việc nắm giữ tiền mặt của REIT có quan hệ ngược chiều

với các quỹ từ hoạt động, đòn bẩy tài chính và có mối liên hệ trực tiếp với nguồn tài

chính từ bên ngoài và cơ hội phát triển. Nắm giữ tiền mặt cũng có mối quan hệ

ngược chiều với việc tiếp cận và sử dụng hạn mực tín dụng. Kết quả cho thấy những

giám đốc REIT ủng hộ nắm giữ ít tiền mặt để giảm vấn đề đại diện của dòng tiền do

đó làm tăng tính minh bạch và giảm chi phí tương lai của vốn ngoại.

Qi Luo, Toyohiko Hachiya (2009) khảo sát việc nắm giữ tiền mặt của các công ty

Nhật Bản liệt kê trên sàn chứng khoán Tokyo, Ông đã tìm thấy rằng mối quan hệ

giữa công ty và ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lượng tiền

mặt nắm giữ, thường thì những công ty có mối quan hệ rộng rãi với các ngân hàng

thì lượng tiền mặt nắm giữ thấp. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy mặt trái của

vấn đề này là vấn đề phát sinh chi phí đại diện. Tương tự Tong (2009) đã đo lường

tác động của đa dạng hóa công ty lên giá trị của nắm giữ tiền mặt. Bằng việc sử

dụng phương pháp của Faulkender và Wang (2006), Tong đã đo lường giá trị biên

của việc nắm giữ tiền mặt và đã đưa ra quan điểm rằng nắm giữ tiền mặt như là một

kênh quan trọng và tiềm năng mà thông qua đó đa dạng hóa công ty có thể ảnh

hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Theo nghiên cứu này, giá trị biên của một đồng đô

la trong các công ty đã đa dạng hóa thấp hơn so với các công ty chưa được đa dạng

hóa, ngụ ý rằng đa dạng hóa công ty làm giảm giá trị nắm giữ tiền mặt thông qua

các vấn đề đại diện.



17



Megginson và Wei (2010) đã nghiên cứu những yếu tố tác động đến nắm giữ tiền

mặt và giá trị tiền mặt ở những công ty tư nhân phát hành cổ phiếu ở Trung Quốc từ

năm 1993 đến 2007. Qua phân tích hồi quy, nghiên cứu tìm thấy những công ty nhỏ

hơn, lợn nhuận nhiều hơn và phát triển hơn sẽ nắm giữ tiền mặt nhiều hơn. Nợ và

vốn luân chuyển ròng có mối quan hệ ngược chiều với nắm giữ tiền mặt, trong khi

năm giữ tiền mặt sẽ giảm khi tỷ lệ nắm giữ của nhà nước tăng lên.

Kim và cộng sự (2011) đã nghiên cứu dựa trên bộ dữ liệu bảng bao gồm 125 doanh

nghiệp trong ngành nhà hàng niêm yết tại Mỹ từ năm 1997 đến 2008 và tìm ra rằng

những công ty có cơ hội đầu tư nhiều hơn có khuynh hướng nắm giữ tiền mặt nhiều

hơn. Trong khi đó, những doanh nghiệp nhà hàng lớn, những công ty nắm giữ nhiều

tài sản có tính thanh khoản khác tiền mặt, những công ty có chi phí vốn cao, và

những công ty chi trả cổ tức có khuynh hướng nắm giữ ít tiền mặt hơn. Kim và

cộng sự cho rằng những mục đích dự phòng và giao dịch đóng vai trò quan trọng

trong việc giải thích những yếu tố ảnh hưởng đến nắm giữ tiền mặt ở các công ty

trong ngành nhà hàng.

Rizwan và Javed (2011) đã thu thập dữ liệu từ 300 công ty Pakistan niêm yết trên

sàn giao dịch chứng khoán Karachi (KSE) trong khoảng thời gian 1998 – 2007. Các

tác giả tìm thấy nắm giữ tiền mặt ở những công ty Pakistan tăng lên cùng với dòng

tiền và tỷ lệ giá thị trường trên giá ghi sổ. Họ cũng tìm thấy vốn luân chuyển ròng

và đòn bẩy tài chính có mối quan hệ ngược chiều với nắm giữ tiền mặt ở các công

ty Pakistan.

Ở một thị trường đang phát triển khác như Chi Lê, Lawrencia và cộng sự (2012) đã

trình bày mối tương quan giữa nắm giữ tiền mặt và đặc tính công ty. Kết quả cho

thấy dòng tiền, vốn luân chuyển ròng, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận và chi tiêu đầu tư

tác động đáng kể lên việc nắm giữ tiền mặt của công ty ở Chi Lê.

Amarjit Gill và Charul Shah (2011) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng

đến việc nắm giữ tiền mặt dựa trên mẫu dữ liệu gồm 166 công ty Canada niêm yết

trên sàn chứng khoán Toronto trong 3 năm, từ 2008-2010. Tác giả sử dụng phương



18



pháp OLS để phân tích dữ liệu và kết quả cho thấy, tỷ lệ MTB, dòng tiền, vốn luân

chuyển ròng, đòn bẩy tài chính, quy mô công ty, quy mô hội đồng quản trị và vai trò

kép của CEO có tác động đáng kể đến việc nắm giữ tiền mặt ở các công ty Canada.

Trong bài nghiên cứu này, một bộ các biến đại diện bao gồm 10 biến: việc nắm giữ

tiền mặt, tỷ lệ MTB, tỷ lệ tiền mặt trên tài sản, tỷ lệ vốn luân chuyển ròng trên tài

sản, đòn bẩy tài chính, quy mô doanh nghiệp, cổ tức, quy mô hội đồng quản trị, vai

trò kép của CEO, và biến giả theo ngành. Afza và Adnan (2007) đã kiểm chứng mối

quan hệ giữa nắm giữ tiền mặt và tỷ lệ MTB, tỷ lệ tiền mặt trên tài sản, tỷ lệ vốn

luân chuyển ròng trên tài sản, đòn bẩy tài chính, quy mô doanh nghiệp, cổ tức bằng

dữ liệu thu thập từ thị trường chứng khoán Karachi (KSE). Drobetz và Gruninger

(2007) đã kiểm chứng mối liên hệ giữa quy mô hội đồng quản trị, vai trò kép của

CEO và việc nắm giữ tiền mặt bằng dữ liệu thu thập từ Thụy Sĩ. Nghiên cứu này

mở rộng những nghiên cứu trên bằng dữ liệu từ các công ty trong ngành Sản xuất và

Dịch vụ ở Canada. Theo tác giả, nghiên cứu này đóng góp cho lý thuyết về các yếu

tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt ở hai phương diện. Trước hết, nghiên cứu

tập trung và các công ty sản xuất và dịch vụ ở Canada trong khi chỉ có một số ít

nghiên cứu được thực hiện ở các công ty này. Thứ hai, nghiên cứu này củng cố một

số kết quả của các tác giả trước đây bằng việc kiểm chứng mối quan hệ giữa việc

nắm giữ tiền mặt và tỷ lệ MTB, tỷ lệ tiền mặt trên tài sản, tỷ lệ vốn luân chuyển

ròng trên tài sản, đòn bẩy tài chính, quy mô doanh nghiệp, cổ tức, quy mô hội đồng

quản trị, vai trò kép của CEO, và biến giả theo ngành trong mẫu các công ty nghiên

cứu.

Abbas và Samra (2012) đã thu thập dữ liệu từ năm 2000 đến 2010 của 876 công ty

phi tài chính ở Đức để nghiên cứu các yếu tố quyết định đến việc nắm giữ tiền mặt

ở các công ty này. Tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy và kết quả cho thấy, việc

nắm giữ tiền mặt có quan hệ ngược chiều với quy mô doanh nghiệp, thu nhập giữ

lại, vốn luân chuyển và đòn bẩy tài chính ở mức ý nghĩa 1%. Tỷ lệ nắm giữ vốn nội

bộ cũng có quan hệ ngược chiều với tiền mặt nắm giữ ở các mức ý nghĩa 1%, 5% và

10%. Nghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tiền mặt nắm giữ với



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(72 tr)

×