Tải bản đầy đủ - 33 (trang)
Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 33trang

lĩnh vực của đời sống. Trong giáo dục, bất bình đẳng giới thể hiện ở nhiều

khía cạnh, trong đó có thể kể đến một vài biểu hiện cụ thể như: cơ hội

tham gia vào việc hệ thống giáo dục quốc dân của nam nữ học sinh không

tương đương nhau, sự chênh lệch về trình độ học vấn, trình độ chuyên

môn của nam và nữ, cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn không chia đều

cho 2 giới.

2.1.1 Cơ hội tham gia vào hệ thống giáo dục quốc dân của học sinh

nam và học sinh nữ

2.1.1.1 Sự tham gia của học sinh nam, nữ ở các cấp học có sự khác

biệt rõ rệt

Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của giáo dục đối với sự phát

triển chung của toàn xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng có

những biện pháp nhằm không chỉ nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục

về nội dung, phương pháp giảng dạy và cơ sở vật chất mà còn có những

chính sách cụ thể hướng tới hỗ trợ từng nhóm đối tượng cụ thể, nhằm

đảm bảo quyền được giáo dục của mọi công dân. Những nỗ lực đó đã có

kết quả tích cực với những thành công của các kế hoạch phổ cập giáo

dục, tỉ lệ học sinh bỏ học giảm đáng kể. Trong học kì I năm học 20072008, tỉ lệ học sinh bỏ học chỉ còn 1,2%, trong khi tỉ lệ này từ năm học

2003 – 2004 đến năm học 2005 – 2006 dao động từ 6,29% - 7,59%. Bên

cạnh những thành công đó, tỉ lệ học sinh nam và nữ trong các cấp học

cũng như trong tổng số học sinh bỏ học cho thấy, trong hệ thống giáo dục

vẫn tồn tại sự bất bình đẳng về giới.

Trước hết phải kể đến công tác xóa mù chữ đã được thực hiện ở

nước ta trong thời gian dài, và đã đạt được những con số đáng chú ý.

Theo kết quả Điều tra biến động dân số năm 2004, tỉ lệ dân số từ 10 tuổi

trở lên biết chữ trên cả nước là 92,96%, trong đó tỉ lệ nam biết chữ là

95,87%, cao hơn tỉ lệ nữ biết chữ ở độ tuổi này chiếm 90,21%. Bên cạnh

đó, tỉ lệ nữ biết chữ ở khu vực thành thị cũng cao hơn hẳn khu vực nông



thôn, tỉ lệ nữ biết chữ khu vực thành thị là 94,7% trong khi ở nông thôn

chỉ có 88,7% nữ ở khu vực nông thôn từ 10 tuổi trở lên biết chữ. Sự

chênh lệch tỉ lệ nam và nữ biết chữ cho thấy, cơ hội xóa mù chữ đối với

nam và nữ tại nước ta không bình đẳng. Không chỉ vậy, những trẻ em nữ

nói riêng ở khu vực nông thôn có ít cơ hội được xóa mù chữ hơn so với

những trẻ em nữ ở khu vực thành thị.

Tỉ lệ trẻ em học chung các bậc trong cả nước cũng đang có xu

hướng trở nên cân bằng hơn. Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự chênh lệch giữa tỉ

lệ nam và tỉ lệ nữ học chung, mức độ chênh lệch này tùy theo các bậc

học. Năm học 2003 – 2004, tỉ lệ nữ học chung 10 bậc tiểu học trên cả nước

là 102,61% và tỉ lệ nam là 107,42%. Cũng trong năm học này, kết quả

điều tra đã cho thấy sự chênh lệch của tỉ lệ nam nữ học chung bậc tiểu

học trên cả nước không giống với các bậc học khác, đồng thời cấp học

càng cao thì tỉ lệ này càng giảm. Đối với bậc học trung học cơ sở, tỉ lệ nữ

học chung là 86,46% và tỉ lệ nam là 90,21%. Bậc phổ thông trung học, tỉ

lệ nữ học chung là 45,2% và tỉ lệ nam là 45,7% trong năm học 2003 –

2004. Mặc dù khoảng cách giữa tỉ lệ nam và nữ đang có xu hướng thu

hẹp theo thời gian và theo các cấp học, nhưng tỉ lệ này vẫn còn ở mức

thấp đối với những cấp học từ phổ thông trung học trở lên. Thực tế cũng

cho thấy, tỉ lệ trẻ em nữ hoàn thành các cấp học cao hơn tỉ lệ nam. Chẳng

hạn, năm học 2003 – 2004, tỉ lệ học sinh nữ hoàn thành cấp học tiểu học

đạt 99,83%, tỉ lệ nam đạt 99,80%. Bên cạnh đó, tỉ lệ bỏ học tại các cấp

học của học sinh nữ cũng thấp hơn nam, tỉ lệ học sinh nữ bỏ học cấp tiểu

học năm 2003 – 2004 là 3,09% và tỉ lệ này ở nam là 3,16%. Thực trạng

trên cho thấy, mặc dù học sinh nữ có tỉ lệ tốt nghiệp các bậc học cao hơn

nam và tỉ lệ bỏ học ít hơn nam nhưng tỉ lệ nam nữ học chung lên các cấp

10



“Tỉ lệ nữ đi học chung bậc tiểu học là tỉ lệ học sinh nữ đang học tiểu học so với tổng số dân số nữ

trong độ tuổi đi học bậc tiểu học (từ 6 đến 10 tuổi). Tương tự như vậy đối với tỉ lệ nữ đi học ở bậc

trung học cơ sở (11-14) và bậc phổ thông (15-17)”. Trích theo: Dự án VIE 01-015-01, Số liệu thống kê

giới những năm đầu thế kỉ 21, Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và Tổng cục thống

kê, 2004, tr. 25.



học cao hơn của nữ lại thấp hơn. Một trong những nguyên nhân của tình

trạng này là do các học sinh nam bỏ học, nhưng sau đó số lượng quay trở

lại học lại, cũng như số lượng học chuyển tiếp lên chiếm tỉ lệ đông hơn

nữ. Trong khi đó, hiện tượng quay lại học sau khi bỏ học ở nữ dường như

ít xảy ra hơn. Bởi các em nữ khi càng lớn, càng cần phải đảm nhiệm

nhiều hơn những công việc gia đình. Một lý do khác cần được đề cập đến

đó là khi kinh tế gia đình không đủ khả năng chi phí cho giáo dục thì các

bậc cha mẹ thường chọn các em nữ là “vật hy sinh” trước tiên để giảm

gánh nặng về kinh tế đồng thời tăng thêm nhân công lao động cho kinh tế

gia đình. Những con số này cũng cho thấy, đối với những cấp học càng

cao thì khả năng được tiếp tục học của học sinh nữ càng giảm. Mặc dù

hiện tượng này cũng tồn tại ở những học sinh nam, nhưng tỉ lệ nam

không được học tiếp ít hơn nữ thể hiện ở tỉ lệ học chung ở các cấp học

của nam luôn cao hơn nữ.

Sự bất bình đẳng giới trong sự tham gia và hệ thống giáo dục quốc

dân được thể hiện hết sức rõ nét ở số năm học trung bình của nam và nữ.

Kết quả điều tra biến động dân số năm 2006 cho thấy sự khác nhau rõ rệt

về mức độ bất bình đẳng giới trong giáo dục giữa 2 khu vực nông thôn và

thành thị khi tiến hành điều tra về số năm học trung bình của dân số ở độ

tuổi từ 20 – 24 tuổi. Ở khu vực thành thị, số năm học trung bình của

nhóm nữ thuộc độ tuổi này là 11,5 năm cao hơn nhóm nam là 11,2 năm.

Tuy sự chênh lệch này là nhỏ nhưng cũng phần nào thể hiện sự bình đẳng

giới đang có những thay đổi theo hướng tích cực trong giáo dục. Tuy

nhiên, khi tiến hành điều tra tại khu vực nông thôn cho kết quả ngược lại,

số năm học trung bình của nhóm nữ là 8,7 năm trong khi số năm học

trung bình của nhóm nam là 9 năm. Kết quả điều tra cho thấy, số năm học

nói chung của dân số thành thị cao hơn nhiều so với dân số khu vực nông

thôn. Quan trọng hơn, thực tế cũng cho thấy, mặc dù khoảng cách số năm

học trung bình của nam và nữ chênh lệch ít (0,3 năm), nhưng điều đó



cũng thể hiện mức độ bất bình đẳng giới trong giáo dục ở khu vực nông

thôn có những biểu hiện rõ nét hơn khu vực đô thị. Nguyên nhân của tình

trạng này không chỉ do điều kiện kinh tế gia đình, mà chủ yếu là do tư

tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn ảnh hưởng nặng nề, nhận thức về ý

nghĩa quan trọng của giáo dục, đào tạo vẫn chưa đầy đủ.

Nhìn chung, cơ hội tham gia và hệ thống giáo dục quốc dân với

mục đích nâng cao dân trí của nữ luôn thấp hơn nam, sự chênh lệch này

tăng lên theo từng cấp học và tùy từng khu vực. Như đã phân tích ở trên,

trẻ em nữ ở khu vực thành thị có cơ hội được hưởng quyền được giáo dục

cao hơn những trẻ em ở khu vực nông thôn. Thực trạng này có thể do

nguyên nhân về điều kiện kinh tế gia đình và nguyên nhân khác biệt về

trình độ nhận thức. Nói chung, người dân ở khu vực thành thị có trình độ

hiểu biết cao hơn, do vậy, những biểu hiện trên của bất bình đẳng giới

trong giáo dục ở khu vực thành thị cũng có xu hướng xảy ra ở mức độ

nhẹ hơn.

2.1.1.2. Đầu tư cho giáo dục

Sự đầu tư cho giáo dục ở nước ta chủ yếu từ phía Nhà nước và phía

các gia đình. Trong những năm gần đây, mức đầu tư cho giáo dục của

Nhà nước không ngừng tăng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào

tạo chung. Mức đầu tư này dành chung cho toàn hệ thống giáo dục, với

các hình thức hỗ trợ đối với những trường hợp có những khó khăn đối với

việc tiếp cận nền giáo dục quốc dân. Những hình thức hỗ trợ này không

hề phân biệt theo giới tính mà chỉ phân biệt theo từng mức độ khó khăn

của mỗi đối tượng. Đối với các gia đình, mức chi phí cho giáo dục tăng

dần theo mức chi tiêu chung của xã hội . Ngoài những khoản chi phí khi

tham gia và hệ thống giáo dục quốc dân tại nhà trường và các trung tâm

cơ sở giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay những chi phí khác

như chi phí học thêm, hay các chi phí cho đồ dùng học tập và sách vở



cũng có xu hướng tăng, thậm chí còn có thể vượt mức chi phí cho Nhà

trường và các cơ sở giáo dục tương đương khác. Trong trường hợp này,

mức đầu tư cho giáo dục đối với mỗi gia đình không giống nhau phụ

thuộc lớn vào điều kiện kinh tế gia đình và nhận thức của gia đình về mức

độ quan trọng của giáo dục. Không những thế mức đầu tư cho giáo dục

đối với nam và nữ cũng có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng miền.

Theo kết quả Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004, mức chi phí

chung cho giáo dục đào tạo bình quân một người trong 12 tháng của nam

là 846.820 đồng, trong khi mức chi cho giáo dục dành cho nữ thấp hơn:

803.140 đồng. Mức chi này cũng có sự chênh lệch giữa khu vực đô thị và

nông thôn. Mức chi cho giáo dục trung bình dành cho 1 người trong 12

tháng của các gia đình đô thị là 1537.030 đồng, gấp hơn 2,5 lần mức chi

tại khu vực nông thôn với 602000 đồng. Kết quả này cho thấy, các gia

đình đô thị có khả năng đầu tư cho giáo dục tốt hơn các gia đình ở nông

thôn. Mặc dù vậy, nam vẫn được ưu tiên đầu tư trong giáo dục nhiều hơn

nữ.

2.1.2. Sự chênh lệch về trình độ chuyên môn và cơ hội nâng cao trình

dộ chuyên môn

Thực tế cho thấy, tỉ lệ học ở các cấp của nữ thấp hơn nam nên kết

quả tất yếu là sự chênh lệch về trình độ chuyên môn của nam và nữ, trong

đó ưu thế về trình độ chuyên môn thuộc về nam giới. Thực trạng này có

thể được nhìn nhận qua tỉ lệ số nam nữ theo trình độ chuyên môn, hay cụ

thể hơn trong chính ngành giáo dục, tỉ lệ giáo viên nam và nữ cũng không

cân bằng nhau.

Trước hết, trình độ học vấn – trình độ chuyên môn của nam trong

cơ cấu dân số nói chung cao hơn của nữ.



Chưa đi học



Phổ thông



Cao đẳng



Đại học trở

lên



- Nam



3,0



91,1



1,1



4,8



- Nữ



4,8



89,7



2,0



3,5



Tổng số



3,9



90,5



1,5



4,2



Bảng : Phân bố phần trăm dân số 5 tuổi trở lên theo cấp

giáo dục – đào tạo, chia theo giới tính11(Đơn vị %)

Tỉ lệ số nữ từ 5 tuổi trở lên chưa đi học chiếm 4,8%, cao hơn tỉ lệ

số nam chưa đi học (3%). Đồng thời, tỉ lệ nữ tham gia vào các cấp học

phổ thông nói chung thấp hơn tỉ lệ nam. Tỉ lệ nữ chỉ có 89,7%, trong khi

tỉ lệ nam là 91,1%. Tuy nhiên, kết quả điều tra cũng cho thấy sự chênh

lệch cũng thể hiện rõ nét ở các cấp học cao hơn. Có 2% dân số nữ tham

gia vào cấp giáo dục cao đẳng, cao hơn số nam chỉ có 1,1%; nhưng ở cấp

giáo dục cao hơn, cấp đại học trở lên, nam có ưu thế hơn với 4,8% và nữ

chỉ có 3,5%. Kết quả điều tra cho thấy, khoảng cách về trình độ học vấn

giữa hai giới tuy đã thu hẹp trong những năm gần đây, nhưng nam giới

nhìn chung vẫn có trình độ chuyên môn cao hơn, càng lên các cấp học

cao thì điều này càng thể hiện rõ.

Ngay trong cơ cấu đội ngũ giáo viên của ngành giáo dục cũng có

sự mất cân bằng về giới tính ở các cấp học. Số lượng nữ giáo viên trong

ngành giáo dục không ít hơn số lượng nam giáo viên, nhưng càng lên các

cấp học cao, tỉ lệ nữ giáo viên càng có xu hướng giảm.



11



Kết quả điều tra biến động dân số 1/4/2006, Tổng cục thống kê.



Biểu đồ: Cơ cấu giới tính của giáo viên theo các cấp học

(Đơn vị %)12

Nếu như ở cấp học mầm non, tỉ lệ nữ giáo viên là 100%, thì ở các

cấp học cao hơn, tỉ lệ này giảm dần. Ở cấp tiểu học, nữ giáo viên chiếm

số lượng rất lớn 78,02% trong tổng số giáo viên của cả cấp học. Cấp học

phổ thông cơ sở, số lượng nữ giáo viên đã giảm đáng kể chỉ còn chiếm

68,12% và ở cấp học phổ thông trung học, tỉ lệ này chỉ còn 54,45%.

Riêng với các cấp học trung học chuyên nghiệp và cao đẳng – đại học trở

lên, tỉ lệ nam giảng viên chiếm đa số, cấp trung học chuyên nghiệp, số

nam giảng viên chiếm 55,29%, cấp cao đẳng và đại học trở lên tỉ lệ này

tăng hơn nữa, lên tới 59,55%. Điều này cho thấy, khả năng nâng cao trình

độ chuyên môn của các giáo viên trong ngành giáo dục nói riêng cũng tồn

tại sự bất bình đẳng. Nam giáo viên có cơ hội nâng cao trình độ chuyên

môn hơn nữ giáo viên. Một số nguyên nhân có thể kể đến của thực trạng

này là những nữ giáo viên thường phải dành nhiều thời gian cho các công

việc gia đình, các công việc cộng đồng (như tham gia họp tổ dân phố, các

hoạt động của hội phụ nữ, họat động của khu phố…) nhiều hơn nam giới,

12



Báo cáo định kì của Bộ giáo dục, năm học 2004 -2005.



vì vậy khả năng đáp ứng về mặt thời gian cho những khóa đào tạo nâng

cao trình độ chuyên môn ở nữ giới khó khăn hơn nam giới.

Bất bình đẳng trong cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn không

chỉ tồn tại trong tầng lớp tri thức nói chung và đội ngũ giáo viên trong

ngành giáo dục nói riêng, mà sự bất bình đẳng giới còn tồn tại trong hầu

hết các cơ cấu nghề nghiệp khác. Đặc biệt, đối với giai cấp nông dân điều

này thể hiện khá rõ nét. Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong thành phần

kinh tế nông nghiệp tại nước ta hiện nay. Theo kết quả điều tra Lao động

và việc làm năm 2004 do Bộ Lao động – thương binh và xã hội thực hiện,

tỉ lệ nữ tham gia vào lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm

51,1%. Tuy vậy, nhưng phụ nữ lại chưa được tiếp cận đầy đủ với những

kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm, nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật

trong hoạt động kinh tế nông nghiệp và lâm nghiệp. Thực tế cho thấy, rất

nhiều lớp học bồi dưỡng kiến thức về kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm

được tổ chức nhằm giúp bà con nông dân nâng cao năng suất, nhưng

phần lớn những người tham gia lớp học này đều là nam giới. Chính điều

này, khiến người phụ nữ đã không có cơ hội tham gia đầy đủ vào hệ

thống giáo dục quốc dân nâng cao dân trí, nay lại cũng ít có cơ hội hơn

trong việc tiếp cận với những kỹ thuật chuyên môn phục vụ sản xuất.

Tình trạng không bình đẳng này là một trong những nguyên nhân

ảnh hưởng tới sự tham gia của người phụ nữ vào hoạt động kinh tế gia

đình nói riêng và hệ thống kinh tế quốc dân nói chung.



Biểu đồ: Tỉ lệ nam, nữ tham gia hoạt động kinh tế, chia theo

vị thế công việc(Đơn vị %)13

Qua đó có thể thấy, phụ nữ chủ yếu tham gia vào các công việc gia

đình không hưởng lương, trong khi nam giới chủ yếu tham gia vào các

thành phần kinh tế “ngoài xã hội” nhiều hơn, bởi vậy họ cũng có nhiều cơ

hội để nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ nhiều hơn phụ nữ.

2.2. Nguyên nhân bất bình đẳng giới trong giáo dục

Bất bình đẳng giới trong giáo dục được thể hiện bởi sự khác biệt xã

hội giữa cơ hội tham gia học tập và trình độ học vấn của nam và nữ. Nhìn

chung, phụ nữ ít có cơ hội tham gia học tập đạt trình độ cao như nam

giới. Một số yếu tố lý giải cho sự khác biệt làm phương hại đến nhu cầu

và lợi ích của phụ nữ trong giáo dục nói riêng và các mặt khác của đời

sống xã hội là định kiến, phân biệt đối xử theo giới và khuôn mẫu giới,

hình thành từ lâu đời và ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân.



13



Kết quả điều tra Lao động và việc làm, Bộ Lao động – Thương binh xã hội, 2004.



2.2.1. Định kiến giới

“Nói một cách chung nhất, định kiến được hiểu là những thái độ

tiêu cực nảy sinh trên cơ sở của những cảm nhận không có cơ sở chắc

chắn, tập hợp các quan niệm, ý kiến, niềm tin hoặc biểu tượng có tính rập

khuôn và đơn giản hoá quá mức về những đặc điểm bề ngoài, thái độ và

hành vi ứng xử xã hội, những ấn tượng xấu… về một nhóm người nào đó

tuỳ theo sự qui thuộc xã hội riêng của họ.” 14 Như vậy, định kiến xã hội

thường mang ý nghĩa tiêu cực về một nhóm đối tượng đặc thù. Cơ sở

hình thành định kiến không mang tính khoa học, nhưng được truyền đạt

thông qua giao tiếp xã hội và dễ dàng được tiếp thu. Cã hội có sự phân

hoá giữa các nhóm dựa trên những đặc điểm khác biệt, nhất là những đặc

điểm đó có sự mâu thuẫn với nhau thì chắc chắn sẽ tồn tại định kiến giữa

các nhóm.

Định kiến giới là định kiến xã hội, hình thành trong những điều

kiện lịch sử, xã hội cụ thể. Cũng như khi đề cập tới bất bình đẳng giữa

nam và nữ, định kiến giới được ngầm hiểu là định kiến về phụ nữ. 15 Đôi

khi, định kiến giới khiến ta có cái nhìn sai lệch về người khác giới và có

lúc nghi ngờ chính bản thân mình. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, định

kiến giới không hề mất đi mà vẫn tồn tại trong mọi mặt của đời sống xã

hội, không loại trừ thiết chế giáo dục. Qua phân tích thực trạng bất bình

đẳng giới, có thể thấy một số hình thức biểu hiện của định kiến giới trong

giáo dục được thể hiện rõ nét trong gia đình và trong xã hội.

Trước hết, định kiến giới như là một trong những yếu tố về mặt

nhận thức chi phối các vấn đề về giáo dục trong gia đình. Gia đình không

chỉ là “cái nôi” mà còn là “mái trường” đầu tiên để mỗi người tiếp thu

vốn kinh nghiệm và tri thức xã hội. Đó cũng là nơi trẻ hình thành và tiếp

nhận vai trò giới thông qua môi trường giáo dục phi chính thức và quá

14



Trần Thị Minh Đức (Chủ biên), Định kiến và phân biệt đối xử theo giới – Lý thuyết và thực tiễn,

NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, 2006, tr. 40

15

Trần Thị Minh Đức (Chủ biên), Định kiến và phân biệt đối xử theo giới – Lý thuyết và thực tiễn,

NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, 2006, tr. 43



trình xã hội hoá cá nhân. Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình

thành, giảm bớt hoặc “khoét sâu” định kiến giới, thông qua việc cha mẹ

quyết định cơ hội học tập và đầu tư cho giáo dục cho các bé trai và bé gái.

Chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, nhìn chung, các bậc phụ huynh

nhìn nhận việc đầu tư cho giáo dục không theo xu thế cân bằng giữa con

trai và con gái. Dường như, “con gái là con người ta” nên thực trạng bất

bình đẳng giới trong giáo dục vẫn tồn tại hiện nay. Ngoài việc không có

nhiều cơ hội được học tập ở các bậc học cao, trẻ em gái còn sớm được

định hình chức năng giới trong gia đình, định hướng nghề nghiệp theo

giới và định hướng theo khuôn mẫu hành vi mà xã hội kì vọng ở những

người phụ nữ. Sự hình thành vai trò, chức năng giới, nghề nghiệp theo

giới hay hệ thống hành vi chuẩn được cha mẹ truyền đạt và trẻ em gái

tiếp thu. Một số chức năng giới của phụ nữ bộc lộ những hạn chế đối với

phụ nữ như “thiên chức” làm vợ, làm mẹ, có chức năng tái sản xuất

những yếu tố tinh thần, tình cảm,… bó buộc họ trong phạm vi gia đình.

Vì thế, bản thân trẻ nữ, sau khi lĩnh hội một số quan điểm trên sẵn sang

“hi sinh” quyền lợi và nghĩa vụ học tập. Đó là sự thiệt thòi lớn đối với các

em.

Mặt khác, định kiến giới về giáo dục còn được biểu hiện rộng rãi

trong xã hội. Ở các bậc học, trẻ em được “phân luồng” theo giới tính bởi

một số quan điểm như: học sinh nữ có “năng khiếu” các môn khoa học xã

hội, ngược lại, học sinh nam có tài năng “bẩm sinh” về các môn khoa học

tự nhiên. Nhận định trên không có cơ sở và căn cứ khoa học, nhưng vẫn

được phổ biến rộng rãi tại các trường học. Ngay cả những hình thức kỉ

luật cũng có sự khác biệt theo giới tính. Đối với những trẻ hiếu động,

nghịch ngợm, nếu là nam, thì giáo viên dường như có xu hướng coi nhẹ

việc hình thức xử phạt, bởi “con trai thì phải hiếu động”; nhưng nếu đó là

nữ sinh, thì thông thường, họ có cái nhìn tiêu cực và không tán thành với

hành vi của nữ sinh. Như vậy, hình thức, phương pháp và nội dung giáo



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết quả nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(33 tr)

×