Tải bản đầy đủ - 22 (trang)
NỘI DUNG CỦA SKKN

NỘI DUNG CỦA SKKN

Tải bản đầy đủ - 22trang

được thời gian dạy học đồng thời vẫn tăng được khối lượng và chất lượng thông

tin.

Từ cơ sở lí luận như trên,SKKN này được viết ra sẽ:

• Làm rõ về khái niệm dạy học tích hợp và tầm quan trọng của dạy học tích

hợp.

• Cung cấp một số nội dung về dạy học tích hợp cho một số bài trong

chương trình THPT môn tiếng Anh.

• Đưa ra bài soạn tham khảo về dạy học tích hợp và sản phẩm của học sinh.

2.2.Thực trạng của việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường:

Trong những năm qua việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường đã và

đang có những thay đổi đáng kể lớp.

 Về phía giáo viên

Đa số giáo viên của trường có chuyên môn cao, nhiệt tình trong công tác,

ham học hỏi…. Các thầy cô giáo trong nhà trường đã tích cực đổi mới phương

pháp dạy học theo định hướng giao tiếp. Chẳng hạn, trong vài năm qua nhóm

Anh đã tổ chức ngoại khóa tiếng Anh cho học sinh, tổ chức thi nói các khối.Tuy

nhiên một số giáo viên còn rụt rè trong đổi mới phương pháp, không dám thay

đổi hoặc thiết kế lại sách giáo khoa, chưa tìm ra được nhiều phương pháp khác

nhau để làm mới các bài giảng. Hơn nữa, để đáp ứng mục đích thi cử thì đa số

giáo viên còn tập trung vào dạy từ vựng, ngữ pháp, đọc hiểu cho học sinh và

việc dành thời gian cho kỹ năng nghe nói ít nhiều còn hạn chế.

 Về phía học sinh:

 Ưu điểm:

Thứ nhất: Các em học sinh lớp đã tiếp cận 7 năm học với môn tiếng Anh.

Không còn bỡ ngỡ, lạ lẫm với những hình thức kiểm tra, đánh giá mà giáo viên

đề ra.

Thứ hai: Các em đã có kiến thức rất sâu, rộng về các vấn đề tài nguyên

thiên nhiên, môi trường, xã hội, và các vấn đề về kinh tế chính trị trong nước

cũng như ngoài nước thông qua các môn như Địa lý, Lịch sử, Văn học, ....

Thứ ba: Trong các môn học như môn Văn học, Lịch sử, Địa lí… các em

đã được tìm hiểu về kiến thức nhiều môn được tích hợp trong các bài học. Vì

vậy khi cần thiết kết hợp kiến thức của một môn học nào đó vào bộ môn Ngoại

Ngữ để giải quyết một vấn đề trong bài học, các em sẽ không cảm thấy bỡ ngỡ.

 Nhược điểm:

Do trường THPT Hoằng Hóa là trường tư thục, chất lượng đầu vào của

các em học sinh rất thấp, là những " hạt gạo dưới sàn". Một bộ phận khá lớn học

sinh có vốn từ rất yếu và khả năng nói tiếng Anh rất thiếu tự tin.

Theo thống kê từ đợt khảo sát đầu năm, đa số học sinh cho rằng Tiếng

Anh là một môn học khó, muốn học giỏi bộ môn này cần phải học thuộc nhiều từ

vựng và cấu trúc và chỉ cần học đơn lẻ không cần tích hợp đối với môn học nào.

4



Từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên tôi thấy tích hợp trong giảng dạy

sẽ giúp học sinh phát huy sự suy nghĩ, tư duy, sự sáng tạo trong học tập và ứng

dụng vào thực tiễn. Vì vậy đối với bản thân tôi, trong những năm vừa qua năm

học 2015 – 2016 này tôi đã mạnh dạn áp dụng một số giải pháp dạy học tích hợp

liên môn để nhằm tạo hứng thú cũng như giúp các em biết vận dụng kiến thức

của các môn học khác như Lịch Sử, Địa Lý,…. vào học Ngoại Ngữ để giờ học

Ngoại Ngữ đạt được hiệu quả cao hơn. Đồng thời qua mỗi chủ đề tôi có tích hợp

giáo dục nhiều kỹ năng trong cuộc sống như tích hợp giáo dục môi trường, dân

số, hướng nghiệp, bảo vệ di sản văn hóa địa phương….

2.3. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề: Dạy học tích hợp

2.3.1. Khái niệm dạy học tích hợp

Khái niệm dạy học tích hợp được đưa ra dưới nhiều tiếp cận khác nhau.

Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO, Paris 1972 có đưa ra

định nghĩa: Dạy học tích hợp các khoa học là một cách trình bày các khái niệm

và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng

khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực

khoa học khác nhau. Với quan niệm trên, dạy học tích hợp nhằm các mục tiêu:

(1) Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống

hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này,

hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống; (2) Phân biệt cái cốt yếu

với cái ít quan trọng hơn. Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh

vận dụng vào xử lý những tình huống có ý nhĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cơ sở

không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo; (3) Dạy sử dụng kiến thức trong

tình huống thực tế, cụ thể, có ích cho cuộc sống sau này; (4) Xác lập mối liên hệ

giữa các khái niệm đã học. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống

phải càng cao, có như vậy học sinh mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới

vận dụng được kiến thức đã học khi gặp một tình huống bất ngờ, chưa từng gặp.

Quan điểm của Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau

2015 cho rằng: Dạy học tích hợp được hiểu là giáo viên tổ chức để học sinh huy

động đồng thời kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải

quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kỹ

năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết.

Như vậy, dạy học tích hợp có thể hiểu đó là một quan điểm dạy học nhằm

hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực cần thiết trong đó có năng

lực vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các tình huống thực tiễn. Điều

đó cũng có nghĩa là để đảm bảo cho mỗi học sinh biết vận dụng kiến thức được

học trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ; qua đó trở

thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực.Dạy

học tích hợp đòi hỏi việc học tập ở nhà trường phổ thông phải được gắn với các

tình huống của cuộc sống sau này mà học sinh có thể phải đối mặt và chính vì

thế nó trở nên có ý nghĩa đối với học sinh. Như vậy, dạy học tích hợp sẽ phát

huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi học sinh, giúp các em thành

công trong vai trò người chủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai.

5



2.3.2.Một số quan điểm dạy học trong tổ chức dạy học tích hợp

Hai quan điểm dạy học chủ đạo trong tổ chức dạy học tích hợp:

Dạy học giải quyết vấnđề

Khái niệm: Dạy học giải quyết vấn đề là cách thức, con đường mà giáo

viên áp dụng trong việc dạy học để làm phát triển khả năng tìm tòi khám phá

độc lập của học sinh bằng cách đưa ra các tình huống có vấn đề và điều khiển

hoạt động của học sinh nhằm giải quyết các vấn đề.

Đặc trưng của dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề gồm có bốn đặc trưng sau:

(1) Đặc trưng cơ bản của dạy học giải quyết vấn đề là xuất phát từ

thuống có vấn đề (THCVĐ):

- THCVĐ luôn chứa đựng nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải

quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ... và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu và

giải quyết THCVĐ sẽ là tri thức mới hoặc phương thức hành động mới đối với

chủ thể.

- THCVĐ được đặc trưng bởi một trạng thái tâm lý xuất hiện ở chủ thể

trong khi giải quyết một bài toán, mà việc giải quyết vấn đề đó cần đến tri thức

mới, cách thức hành động mới chưa biết trước đó.

(2) Quá trình dạy học theo quan điểm GQVĐ được chia thành những

giai đoạn có mục đích chuyên biệt:

* Thực hiện dạy học giải quyết vấn đề theo 3 bước:



Hình 1.1: Cấu trúc dạy học giải quyết vấn đề theo 3 bước

Bước 1: Tri giác vấn đề

- Tạo tình huống gợi vấn đề

- Giải thích và chính xác hóa để hiểu đúng tình huống

- Phát biểu vấn đề và đặt mục đích giải quyết vấn đề đó

Bước 2:Giải quyết vấn đề

6



- Phân tích vấn đề, làm rõ những mối liên hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm

- Đề xuất và thực hiện hướng giải quyết, có thể điều chỉnh, thậm chí bác

bỏ và chuyển hướng khi cần thiết. Trong khâu này thường hay sử dụng những

qui tắc tìm đoán và chiến lược nhận thức như sau: Qui lạ về quen; Đặc biệt hóa

và chuyển qua những trường hợp giới hạn; Xem tương tự; Khái quát hóa; Xét

những mối liên hệ và phụ thuộc; Suy ngược (tiến ngược, lùi ngược) và suy xuôi

(khâu này có thể được làm nhiều lần cho đến khi tìm ra hướng đi đúng)

- Trình bày cách giải quyết vấn đề

Bước 3: Kiểm tra và nghiên cứu lời giải

- Kiểm tra sự đúng đắn và phù hợp thực tế của lời giải

- Kiểm tra tính hợp lý hoặc tối ưu của lời giải

- Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả

- Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa,

lật ngược vấn đề và giải quyết nếu có thể.

* Thực hiện dạy học giải quyết vấn đề theo 4 bước



Hình 1.2: Cấu trúc dạy học giải quyết vấn đề theo 4 bước

Bước 1: Đưa ra vấn đề: Đưa ra các nhiệm vụ, tình huống và mục đích của hoạt

động

Bước 2: Nghiên cứu vấn đề: Thu thập hiểu biết của học sinh, nghiên cứu tài liệu

Bước 3: Giải quyết vấn đề: Đưa ra lời giải, đánh giá chọn phương án tối ưu

Bước 4: Vận dụng: Vận dụng kết quả để giải quyết bài tình huống, vấn đề

tương tự.

(3) Quá trình dạy học theo quan điểm GQVĐ bao gồm nhiều hình thức tổ

chức đa dạng: Quá trình học tập có thể diễn ra với những cách tổ chức đa dạng

lôi cuốn người học tham gia cùng tập thể, động não, tranh luận dưới sự dẫn dắt,

gợi mở, cố vấn của giáo viên; ví dụ:

- Làm việc theo nhóm nhỏ (trao đổi ý kiến, khuyến khích tìm tòi…).

- Thực hiện những kỹ thuật hỗ trợ tranh luận (ngồi vòng tròn, chia nhóm

nhỏ theo những ý kiến cùng loại...).

- Tấn công não (brain storming), đây thường là bước thứ nhất trong sự

tìm tòi giải quyết vấn đề (người học thường được yêu cầu suy nghĩ, đề ra những

ý hoặc giải pháp ở mức độ tối đa có thể có của mình).

- Báo cáo và trình bày (thực hiện nhiều cách làm, từ cá nhân viết, trình

bày ở nhóm nhỏ, báo cáo của nhóm trước cả lớp...).

(4) Có nhiều mức độ tích cực tham gia của học sinh khác nhau: Tùy theo

mức độ độc lập của học sinh trong quá trình giải quyết vấn đề Tùy theo mức độ

7



độc lập của học sinh trong quá trình giải quyết vấn đề, người ta đề cập đến các

cấp độ khác nhau, cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của dạy học

giải quyết vấn đề như tự nghiên cứu giải quyết vấn đề, tìm tòi từng phần, trình

bày giải quyết vấn đề của giáo viên.

Dạy học định hướng hoạt động



Hình 1.3:Cấu trúc vĩ mô của hoạt động

Quan điểm đổi mới chất lượng dạy học trong dạy nghề là trang bị cho học

sinh các năng lực thực hiện nhiều hơn những tri thức có tính tái hiện lại. Để thực

hiện được định hướng đổi mới này phải cần đến các phương thức đào tạo có tính

hoạt động và có tính giải quyết vấn đề. Người học cần được trang bị một lượng

tri thức cơ bản đồng thời liên kết và định hướng tới các năng lực. Một vấn đề đặt

ra ở đây là phương pháp dạy và học nào là mang lại hiệu quả hình thành được ở

học sinh các năng lực. Đã từ lâu người ta nghiên cứu tiếp cận lý thuyết hoạt

động để thiết kế tổ chức dạy học hướng đến các năng lực trên. Bản chất của dạy

học định hướng hoạt động là hướng học sinh vào hoạt động giải quyết các vấn

đề kỹ thuật hoặc các nhiệm vụ tình huống nghề nghiệp, nhằm chuẩn bị cho học

sinh tham gia vào giải quyết các nhiệm vụ nghề nghiệp.

- Một hoạt động bao gồm nhiều hành động và bao giờ cũng nhằm vào

đối tượng để chiếm lĩnh nó, chính đối tượng đó trở thành động cơ hoạt động

của chủ thể.

- Hành động được thực hiện bằng hàng loạt các thao tác để giải quyết

những nhiệm vụ nhất định, nhằm đạt mục đích của hành động.

- Thao tác gắn liền với việc sử dụng các công cụ, phương tiện trong những

điều kiện cụ thể.

Trong bất kỳ hành động có ý thức nào, các yếu tố tâm lý đều giữ những

chức năng:

- Định hướng hành động

- Thúc đẩy hành động

- Điều khiển thực hiện hành động

- Kiểm tra, điều chỉnh hành động

8



Vận dụng lý thuyết hoạt động vào hoạt động dạy học tức là phải coi học

sinh là chủ thể của mọi hoạt động học tập (học lý thuyết, học thực hành, thực tập

sản xuất, học các hoạt động văn hóa, xã hội...), giáo viên cần phải xây dựng nên

nội dung hoạt động đáp ứng yêu cầu của mục tiêu đào tạo thể hiện thành hệ thống

những nhiệm vụ cụ thể và tổ chức hoạt động của học sinh thực sự có kết quả.

Trọng tâm kiểu dạy học định hướng hoạt động là tổ chức quá trình dạy

học mà trong đó học sinh hoạt động để tạo ra một sản phẩm. Thông qua đó phát

triển được các năng lực hoạt động nghề nghiệp. Các bản chất cụ thể như sau:

- Dạy học định hướng hoạt động là tổ chức học sinh hoạt động mang tính

trọn vẹn, mà trong đó học sinh độc lập thiết kế kế hoạch qui trình hoạt động,

thực hiện hoạt động theo kế hoạch và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động.

- Tổ chức quá trình dạy học, mà trong đó học sinh học thông qua hoạt

động độc lập ít nhất là theo qui trình cách thức của họ.

- Học qua các hoạt động cụ thể mà kết quả của hoạt động đó không nhất

thiết tuyệt đối mà có tính chất là mở (các kết quả hoạt động có thể khác nhau).

- Tổ chức tiến hành giờ học hướng đến mục tiêu hình thành ở học sinh kỹ

năng giải quyết nhiệm vụ nghề nghiệp.

- Kết quả bài dạy học định hướng hoạt động tạo ra được sản phẩm vật

chất hay ý tưởng.

Về khía cạnh phương pháp dạy học. Giờ học theo kiểu định hướng hoạt

động được tổ chức theo qui trình 4 giai đoạn sau:



Hình 1.4: Cấu trúc dạy học định hướng hoạt động

Giai đoạn 1: Đưa ra vấn đề nhiệm vụ bài dạy - Trình bày yêu cầu về kết quả học

tập (sản phẩm)

Ở giai đoạn này, giáo viên đưa ra nhiệm vụ bài dạy để học sinh ý thức

được sản phẩm hoạt động cần thực hiện trong bài dạy và yêu cầu cần đạt được.

9



Hình thức trình bày rất phong phú và đa dạng, tùy thuộc vào điều kiện và khả

năng của giáo viên.

Nếu có điều kiện thì tổ chức tình huống học tập (THHT) ngay tại lớp học.

Nếu tình huống quá phức tạp thì tổ chức cho lớp học tiếp cận ngay tại hiện

trường (tham quan hoc tập), hoặc ghi hình hiện trường rồi trình chiếu lại trên

lớp. Nếu không có điều kiện thì đơn giản chỉ là lời kể lại, mô tả lại của giáo viên

bằng lời, bằng hình vẽ hay tranh ảnh tượng trưng. Việc này không đơn giản chỉ

để dẫn nhập mà còn có nhiều tác động xuyên suốt bài dạy.

Sản phẩm hoạt động càng phức tạp thì độ khó đối với học sinh càng lớn.

Thông thường, các bài học được bắt đầu với các nhiệm vụ đơn giản. Trong giai

đoạn này giáo viên không chỉ giao nhiệm vụ mà còn thống nhất, quán triệt với

học sinh về kế hoạch, phân nhóm và cung cấp các thông tin về tài liệu liên quan

để học sinh chủ động lĩnh hội trong quá trình thực hiện.

Giai đoạn 2: Tổ chức lập kế hoạch hoạt động giải quyết vấn đề

Trong giai đoạn này, giáo viên tổ chức cho học sinh thu thập thông tin qua

tình huống học tập (THHT), những gì quan sát được, thâu lượm được, rồi đối

chiếu với điều kiện hiện tại. Từ đó xác định cái gì mới chưa biết cần phải học,

cái gì đã biết cần vận dụng cái nào khó cần phải hỏi... Như vậy ta thấy THHT

đóng vai trò hết sức quan trọng, cho nên xây dựng THHT không phải đơn giản.

Trên cơ sở phân tích THHT giáo viên tổ chức cho HS lập kế hoạt hành

động để giải quyết vấn đề đã xuất hiện trong THHT.

Sản phẩm thu được của giai đoạn này là bản kế hoạch thực hiện, mà bản

thân nó đã được GV chuẩn bị trước khi vào giờ giảng. Thông thường nó bao

gồm danh sách các kỹ năng cần hình thành, qui trình thực hiện từng kỹ năng,

định lượng thời gian làm việc cho từng kỹ năng và lượng kiến thức lý thuyết

mới xen vào khi thực hiện các qui trình đó. Riêng GV cần lưu ý thời điểm xen

phần lý thuyết vào giai đoạn của quá trình hoạt động sao cho khi HS cần GV đáp

ứng đúng thời điểm mới có hiệu quả.

Với quan niệm hình thành kỹ năng nghề nghiệp là chính, nên phần hình

thành kỹ năng phân tích THHT và lập kế hoạch không dành quá nhiều thời gian

để thực hiện, GV chỉ cần trình bày qua nội dung và đưa ra sản phẩm đã chuẩn bị.

Việc này được thực hiện nhiều lần sẽ dần hình thành cho HS thói quen phân tích

THHT và lập kế hoạch cho bản thân sau này, cũng như HS biết tại sao GV phải

có những sản phẩm đó. Trường hợp đặc biệt, muốn phát huy tính tích cực của

HS, GV có thể tập trung tổ chức hoạt động này, nhưng điều đó không được

khuyến khích trong dạy học tích hợp. Bởi vì, có thể HS có thể xây dựng qui

trình khác với qui trình mà dây chuyền sản xuất đang cần.

Giai đoạn 3: Tổ chức thực hiện theo kế hoạch, qui trình đã lập

Trong giai đoạn này có những việc phải làm là:

- Thao tác mẫu của GV

- Trình bày tổng quát qui trình đã lập

- Thao tác thử của HS

- Đánh giá thao tác thử của HS

10



- Lưu ý các lỗi thường gặp, nguyên nhân và biện pháp khắc phục,

phòng tránh.

- Trang bị kiến thức lý thuyết cần thiết.

Tùy theo mức độ đơn giản hay phức tạp của vấn đề đặt ra mà các kỹ năng

cần hình thành được tổ chức hợp lý.

Giai đoạn 4: Tổ chức đánh giá

Bước cuối cùng của dạy học định hướng hoạt động là GV tổ chức đánh

giá quá trình giải quyết vấn đề. Nội dung đánh giá bao gồm:

- Về kỹ năng: Mức độ hình thành các kỹ năng của bài học. Thông qua quá

trình theo dõi HS luyện tập GV đã nắm bắt thao tác của từng HS, sản phẩm thu

được của các em so với sản phẩm mẫu.

- Về kiến thức: Mức độ lĩnh hội các kiến thức lý thuyết mới cũng như

mức độ vận dụng kiến thức đã học vào quá trình luyện tập.

- Về thái độ: GV đã quan sát thái độ học tập của HS từ giai đoạn đầu đến

giai đoạn cuối ra sao, diễn biến tâm lý có đúng như dự đoán của GV không. Thái

độ học tập của biểu hiện qua tinh thần học tập hăng say, tích cực hay thụ động,

miễn cưỡng... tò mò khoa học, muốn hỏi nhiều điều hay chỉ dừng lại ở thắc mắc

trong đầu..

Ngoài ra GV có thể đánh giá thêm về tiến độ thời gian, về độ khó của vấn

đề trên tinh thần động viên HS học tốt hơn sau này.

2.4.Sơ lược về các bài học trong sách giáo khoa Tiếng Anh lớp 10 bậc THPT

Khi xây dựng bài học của từng tiết học ở môn tiếng Anh, giáo viên sẽ dễ

dàng nhận thấy nội dung của bài học ấy liên quan đến kiến thức nào để từ đó

xây dưng giáo án theo hướng tích hợp, khai thác, mở rộng các kiến thức ở môn

khác, đồng thời những kiến thức về kỹ năng sống cũng rất dễ dàng tích hợp. Sau

đây là cụ thể hóa một số bài và nội dung tích hợp trong bài đó:

Khối

Đơn vị bài học (Unit)

Nội dung tích hợp (integration)

(Grade)

Tin học, giáo dục văn hóa sử dụng

Unit 5: Technology and you

mạng xã hội facebook hay vi tính.

Địa lý, giáo dục ý thức yêu quý và

Unit 6: An excursion

bảo vệ thiên nhiên.

KHỐI

10

Lịch sử, địa lý, giáo dục ý thức bảo

Unit 10: Conservation

vệ môi trường.

Lịch sử, văn học, giáo dục ý thức

Unit 16: Historical places

bảo tồn bảo vệ các di sản văn hóa.

2.5.Bài soạn minh họa phương pháp dạy học tích hợp (Bài dạy đã được

thực hiện năm học 2015-2016 tại lớp 10A3 - trường THPT Hoăng HóaTìm hiểu quần thể di tích đền Bà Triệu và giáo dục ý thức bảo vệ bảo tồn

di tích lịch sử văn hóa địa phương)

11



Bài soạn và quá trình thực hiện

Unit 16: Historical places (Grade 10)

OBJECTIVES: By the end of this lesson, SS will be able to:

1/ Intergaring subjects:

+ intergrate the following subjects:

-Literature 10: Period 62 : Methods of giving presentation.

- History 10 : Unit 20: Building and developing cultural people between

th

10 and 15th century

-Informatics 10 : Applying Microsoft Office Word and Microsoft Office

powerpoint

+ apply knowledge from this lesson to learn the following subjects:

- Geography 12 : Unit 31 : Developing tourism

-Civic Education 11 Unit 13 : Policies of Education and Training-ScienceTechnology-Culture

-Literature, period 74 : A story “A hanoian”.

2/ Knowledge :

+ Know about the history, architecture and special features of The Temple

of Literature

+Use the vocabularies, structures and grammar relating to historical

places.

3/ Skill and competence :

+read a passage of 150-170 words for general and specific information.

+Give a presentation about a historical plases.

+ have 21st century skills self –study, problem-solving,time

management,communication,collabration, language and uilizing high tech tools

+Experience a real life situation in students’ hometown to get crosscultural understanding.

4/ Attitudes:

+ realize the importance of historical places along with the development

of economy-society, culture-tourism both nationally and locally.

+ raise students’ awareness of protecting and preserveing historical places

through which they show their patriotism.

PROCEDURES

1.Step 1 : A lecture in class:

1.1 Organization: 10A3 : No one is absent.

1.2 Warm up and lead-in :

- Activity 1 : + SS watch a video clip about Ba Trieu temple.

+ Asks SS to tell what they know about this hisrorical places ( using what

they learn in history)- SS answer.

Today, to understand more about this , we are going to study Unit 16 :

Hisrorical places- Part A: Reading.

1.3 New lesson :

Teacher follows Powerpoint lesson plan.

A. Before you read

12



- Activity 2 : + teacher elicit some new words :

.Confucius (n)

• ememorialize (v) [mə'mɔ:riəlaiz]

• flourish (v) ['flʌri∫]

• stele (n) /’sti:li/

• representative [,repri'zentətiv](adj)

• engrave (v) [in'greiv]

- Activity 3 : SS do task 1

B. While you read.

-Activity 4 : SS work in groups to find information about Ba Trieu temple

+ History:

+ Architecture :

+ Features:

+ Festivals:

+ Preservation:

SS work in groups in 10 minutes then a leader of each group will give a

presentation in front of the class.

Teacher gives comments and summarize the way of describe a historical

places.

C. After you read

Teacher asks SS to list some historical places in or near Hoằng Hóa

district.

SS list some : Ba Trieu temple,The tomb Ba Trieu,Three generals Li

Mo,Temple Desk swear,Dinh Phu Dien,Fourth Temple

Teacher asks SS to explore Ba Trieu temple and divide the class into three

groups to collect the following information: Ba Trieu temple

History



Architecture



Features



Festivals



Preservation



Ba Trieu

temple

Criteria for groups to study Ba Trieu temple

+ History:

+ Architecture:

+ Features :

+ Festivals:

+ Preservation :

Requirements during developing the project :

- Each group needs one leader to manage and make sure that every

member is responsible for their task. After that a leader will give an oral

presentation about what they have learned

-Time allowed : Two weeks .

13



+Week 1 :investigate the real- world, collect and synthesize

information, do a powerpoint and prepare a presentation.

+ Week 2 : Check before reporting in front of class.

Teacher gives out the criteria to SS so that SS can know what and

how they should do.

2. Step 2 : SS take a trip to Hau Loc district to collect information about

Ba Trieu temple

3. Step 3 : SS give a report to class.

4. Step 4: Assessing the project.

- For members of each group : Follow the criteria (1)

- For powerpoint and presntation: Use rubics for oral presentation (2).

Teacher and the leader of group give their remaks.

2.6.The outcome of the projects

Each group has their own products: a presentation with a powerpoint to

illustrate thier research.

Results :

*For members :

80-100 points : 11 SS

70-80 points : 18 SS

50-70 points : 9 SS

* For the representative of each group : Group 1 : 70 points ; Group

2 : 85 , Group 3: 90 points

2.5.Product of group 3( as a presentation model): Ba Trieu temple

+ Powerpoint

+ Presentation: Ba Trieu temple

History :

Ba Trieu (or Trieu Thi Trinh), one of the most famous female heroes

in the history of Vietnam, is the one who led Vietnamese to resist Ngo

Regime from China in 248. She was an excellent and courageous general

that made her legacy with a famous quote” I want to ride the strong wind

and wave, I want to slash the cetacean on the East Sea, I want to expel Ngo

army out of Vietnam, and I don’t want to be a slave for them”. She won

many battles against the Ngo Army but she was killed by a wicked plot of

the nemesis when she was 23. In order to remember her contribution to the

homeland, people here have built a temple for her and each year, they

organize a festival to rememorize the hero.

Ba Trieu Festival is the series of rites and traditional activities that is

organized on 20 -23/2 (lunar calendar). It is held in a large area with the

main activities progresses from the temple to the tomb and then to the

village temples. However, most of the rite is conducted in Ba Trieu Temple.

Along with the rite is the festival section with many traditional activities

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NỘI DUNG CỦA SKKN

Tải bản đầy đủ ngay(22 tr)

×