Tải bản đầy đủ - 47 (trang)
1 Phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế.

1 Phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế.

Tải bản đầy đủ - 47trang

mún với sản xuất hàng hóa lớn, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, mở

cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.

Kinh tế tập thể là hình thức kinh tế mang tính hợp tác, xã hội hóa, là nhân tố

quan trọng để xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân

chủ, công bằng, văn minh. Nó giáo dục ý thức cộng đồng, tinh thần hợp tác hỗ

trợ lẫn nhau giữa các thành viên xã hội, giữa các thành phần kinh tế để sản xuất,

kinh doanh đúng pháp luật.

Hợp tác xã kiểu mới đã khắc phục những hạn chế của hợp tác xã kiểu cũ.

Nó do các thành viên bao gồm cả thể nhân và pháp nhân (người lao động, hộ gia

đình, trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ…), cả người ít vốn và người nhiều

vốn, người góp sức hoặc góp vốn xây dựng nên, trên cơ sở tự nguyện, tôn trọng

các nguyên tắc, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Hợp tác xã không

tập thể hóa mọi tư liệu sản xuất của các thành viên mà dựa trên sở hữu của các

thành viên và sở hữu tập thể. Tổ chức và hoạt động của hợp tác xã không bị giới

hạn bởi quy mô, lĩnh vực và địa bàn, hoàn toàn tự chủ trong sản xuất, kinh

doanh và tự chịu trách nhiệm trong cơ chế thị trường. Hình thức phân phối vừa

theo lao động, vừa theo cổ phần và mức độ tham gia, dịch vụ…

Với những ưu việt như vậy, Đại hội IX của Đảng xác định: Kinh tế tập thể

phát triển với nhiều hình thức hợp tác xã đa dạng. Nhà nước phải giúp đỡ hợp

tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học – công nghệ, nắm bắt thông tin, mở

rộng thị trường… để cùng với kinh tế nhà nước ngày càng giữ vai trò nền tảng

vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

* Kinh tế cá thể , tiểu chủ

Trong chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa, Đại hội IX của Đảng coi kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu

dài. Loại hình kinh tế này xuất hiện và phát huy tác dụng ở cả thành thị và nông

thôn, cả trong nông nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Sự

38



phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa gắn với

thị trường có vai trò quan trọng trước mắt cũng như lâu dài trong việc thúc đẩy

sản xuất, kinh doanh phát triển.

Qua thực tế hơn 20 năm đổi mới cho thấy, kinh tế hộ cá thể, tiểu chủ là loại

hình tổ chức sản xuất, kinh doanh mang tính chất của một xí nghiệp gia đình

chứa đựng những khả năng lớn của sáng kiến cá nhân. ở đây, nguyên tắc kinh

doanh, theo đuổi mục tiêu doanh lợi kết hợp hài hòa với các giá trị gia đình.

Những thành viên trong hộ gắn bó với nhau bằng quan hệ ruột thịt, nên có tính

cộng đồng, trách nhiệm cao dễ thống nhất. Ngoài các hoạt động sản xuất, kinh

doanh, chủ hộ còn quan tâm đến việc học hành, giáo dục truyền thống, đạo đức,

pháp luật cho các thành viên để hướng tới sự thành đạt. Quan hệ sản xuất ở đây

là trực tuyến, bỏ qua các khâu trung gian, nên việc quản lý rất chặt chẽ, hiệu

quả. Chất lượng sản phẩm, thương hiệu hàng hóa được quan tâm đầu tiên, bởi

nó tạo nên chữ tín của gia đình. Mọi tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm quản lý, tay

nghề, bí quyết, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh… được tích lũy qua nhiều đời

là tiềm năng" chất xám" quan trọng của kinh tế cá thể, tiểu chủ được phát huy.

Quy mô của kinh tế cá thể, tiểu chủ vừa và nhỏ nên dễ tổ chức sản xuất, kinh

doanh, ít tốn kém, dễ thích nghi. Nó có khả năng huy động mọi nguồn lực phân

tán như vốn, lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thiết bị kỹ thuật… kết

hợp lại với nhau, qua đó giải quyết việc làm cho đông đảo người lao động, tăng

thu nhập, tăng tích lũy, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,

nông thôn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo cơ hội cho người lao

động tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất và hưởng thụ các thành quả

tăng trưởng nền kinh tế. Kinh tế cá thể, tiểu chủ góp phần tích cực xóa đói giảm

nghèo, nâng cao mặt bằng kinh tế – xã hội, cải thiện đáng kể bộ phận đông đảo

dân cư ở thành thị và nông thôn.

* Kinh tế tư bản tư nhân



39



Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất, kinh doanh dựa

trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao

động làm thuê.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta, thành phần kinh tế này

có vai trò quan trọng xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, về phát

triển nền sản xuất hàng hóa, về giải quyết các vấn đề xã hội. Đại hội VIII của

Đảng khẳng định: "Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất

nước. Khuyến khích kinh tế tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu

dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với

tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân

sinh". Văn kiện Đại hội IX của Đảng cũng khẳng định rõ hơn vai trò vị trí của

kinh tế tư bản tư nhân và Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX, xác định: "Kinh tế

tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển

kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi

nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng

cao năng lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế".

* Kinh tế tư bản nhà nước

Theo V.I. Lê-nin, chủ nghĩa tư bản nhà nước là con đường hữu hiệu nhất để

cải tạo các quan hệ tiểu nông, để phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ

nghĩa. Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các hình thức hợp

tác, liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác

liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài. V.I. Lê-nin cũng nhấn

mạnh: Chủ nghĩa tư bản nhà nước là chủ nghĩa phục tùng sự điều tiết của nhà

nước (giám sát, kiểm tra, quy định các hình thức trật tự, v.v)



(1)



. Chủ nghĩa tư



bản nhà nước gắn liền với nhà nước, phụ thuộc vào bản chất của nhà nước, khả

năng điều tiết của nhà nước và phụ thuộc vào sự vững mạnh của nhà nước.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, chúng ta hoàn toàn có khả

40



năng làm được những điều nêu trên. Vì vậy, Đảng ta chủ trương phát triển đa

dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh

tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước trong việc khai thác

các nguồn vốn, máy móc, thiết bị, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tổ chức sản

xuất kinh doanh, mở rộng thị trường v.v.., để mang lại lợi ích thiết thực cho đất

nước.

* Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Từ Đại hội IX Đảng ta khẳng định thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư

nước ngoài, phản ánh đúng thực tế đang diễn ra trong nền kinh tế nước ta hiện

nay.

Việc triển khai thực hiện các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra một

khối lượng đáng kể năng lực sản xuất, đã tiếp nhận được một số kỹ thuật, công

nghệ tiên tiến trong một số ngành kinh tế như thông tin viễn thông, thăm dò dầu

khí, sản xuất phụ tùng, lắp ráp xe máy, hóa chất, trồng trọt theo công nghệ tiên

tiến, nuôi tôm nước lợ theo công nghệ mới, xây dựng khách sạn cao cấp, sản

xuất một số mặt hàng tiêu dùng, thực phẩm có chất lượng cao… Đồng thời đã

tiếp thu được một số phương pháp quản lý tiến bộ, một số kinh nghiệm về tổ

chức sản xuất, kinh doanh.

Đảng, Nhà nước ta đã tạo điều kiện thông thoáng nhằm khuyến khích đầu tư

nước ngoài vào những mục tiêu trọng điểm và lĩnh vực ưu tiên phục vụ công

cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, như sản xuất hàng xuất khẩu; nuôi

trồng, chế biến nông – lâm – thủy sản; sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện

đại, bảo vệ môi trường sinh thái, đầu tư, chế biến nguyên liệu và sử dụng có

hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; tập trung ở các địa bàn miền núi, vùng sâu,

vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.

Trong xu thế toàn cầu hóa, để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, với chính

sách kinh tế mở, chúng ta đang tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư

41



nước ngoài. Dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam ngày một tăng, chiếm tỷ trọng

ngày càng lớn trong cơ cấu GDP. Cho nên việc tạo điều kiện để kinh tế có vốn

đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu

kinh tế – xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm là

chủ trương đúng của Đảng, phù hợp với yêu cầu khách quan của quá trình phát

triển nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

2.3 Những vấn đề cần tháo gỡ để phát triển các thành phần kinh tế.

Lý luận cũng như qua thực tiễn hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh sức

sống và vai trò to lớn của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội ở nước ta. Các thành phần kinh tế ấy không tồn tại biệt lập với

nhau mà bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau, cạnh tranh với nhau, thúc đẩy nhau

cùng phát triển.

Song để khắc phục những khó khăn, phát huy những thuận lợi, tiếp tục thúc

đẩy phát triển các thành phần kinh tế, phát huy các nguồn lực xây dựng nền

kinh tế quốc dân vững mạnh trước hết cần tập trung tháo gỡ những vướng mắc

chính sau:

1. Nhận thức đúng về sự cần thiết tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Phải thực sự giải phóng tư tưởng cho

các chủ thể các thành phần kinh tế, tạo "sân chơi" bình đẳng, lành mạnh cho các

thành phần kinh tế. Khắc phục tâm lý mặc cảm, kỳ thị, sợ chệch hướng xã hội

chủ nghĩa, mất độc lập chủ quyền, đi theo hướng tư bản chủ nghĩa… Từ đó ngại

ngùng, không dám cho các thành phần kinh tế phát triển với mọi năng lực của

nó. Thực tế chúng ta có Đảng vững mạnh; có Nhà nước với hệ thống pháp luật

và các cấp quản lý chặt chẽ; ý thức độc lập tự chủ của nhân dân rất cao nên

không dễ gì chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội khiến ta phải băn

khoăn, lo ngại không dám chấp nhận nó. Phải coi đây là hình thức quá độ cần

thiết, tạo sức mạnh vật chất cho nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội.



42



2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật để định hướng, điều chỉnh, quản lý kinh tế

vĩ mô đối với các thành phần kinh tế bằng pháp luật; xây dựng hệ thống cơ chế,

chính sách, thích hợp, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế bình đẳng, tự

chủ, tự do phát triển lâu dài. Đổi mới nội dung, phương thức quản lý của Nhà

nước sao cho đúng, hiệu quả, thực sự "chặt" mà không gò ép, cứng nhắc;

"thoáng" mà không buông. Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, chúng ta có cơ chế

"thoáng" song vẫn giữ được độc lập tự chủ của đất nước để tăng tính hấp dẫn

đối với các nhà đầu tư nước ngoài giúp ta phát triển nhanh, mạnh, vững chắc ở

một số ngành, lĩnh vực, địa bàn trọng tâm trọng điểm như một số nước đã làm.

3. Thực hiện công khai, công bằng, dân chủ trong chính sách đầu tư, quản

lý, thuế, tài chính v.v.. đối với các thành phần kinh tế. Xóa cơ chế "xin – cho";

ngăn chặn hữu hiệu xu hướng quay lại bao cấp trong một số ngành, lĩnh vực,

thành phần kinh tế. Khắc phục mọi biểu hiện đặc quyền đặc lợi, ban phát, chạy

chọt, tham nhũng, hối lộ v.v.. trong các khâu của quá trình vận hành nền kinh tế

nhiều thành phần gắn với thị trường.

4. Chăm lo đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ các loại cho các thành phần

kinh tế. Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại vào quá

trình sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Mở rộng thông tin và tăng

khả năng lãnh đạo của Đảng và định hướng của Nhà nước đối với các thành

phần kinh tế để bảo đảm sản xuất, kinh doanh đúng hướng đáp ứng nhu cầu thị

trường trong nước và quốc tế. Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cho các chủ thể

các thành phần kinh tế tiếp cận với thị trường khu vực và quốc tế, giúp cho việc

chủ động hội nhập với nền kinh tế thế giới, tăng sức cạnh tranh, tiếp thu được

những tiến bộ khoa học – công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiến bộ của thế

giới.

5. Coi trọng bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh của các thành

phần kinh tế nhằm bảo đảm phát triển ổn định, bền vững. Kiên quyết phát hiện,



43



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế.

Tải bản đầy đủ ngay(47 tr)

×