Tải bản đầy đủ - 99 (trang)
CHƯƠNG 2. HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀ MÔI TRƢỜNG MỘT SỐLÀNG NGHỀ DỆT NHUỘM HÀ NỘI

CHƯƠNG 2. HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀ MÔI TRƢỜNG MỘT SỐLÀNG NGHỀ DỆT NHUỘM HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ - 99trang

CHƢƠNG 2. HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀ MÔI TRƢỜNG MỘT SỐ

LÀNG NGHỀ DỆT NHUỘM HÀ NỘI

2.1. Hiện trạng sản xuất và môi trƣờng tại làng nghề dệt nhuộm lụa Vạn

Phúc, Hà Đông - Hà Nội

2.1.1. Giới thiệu chung về làng lụa Vạn Phúc

2.1.1.1. Vị trí địa lí

Làng lụa Vạn Phúc nằm bên bờ sông Nhuệ, dọc theo quốc lộ 6 từ Hà Nội đi

Hòa Bình, thuộc quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và cách trung tâm Hà Nội 11km

về phía Tây.

Phía Đông giáp huyện Thanh Trì, quận Thanh Xuân

Phía Bắc giáp huyện Từ Liêm, huyện Hoài Đức

Phía Tây giáp huyện Quốc Oai, Chương Mỹ

Phía Nam giáp Thanh Oai.

Với vị trí như vậy, Vạn Phúc có những thuận lợi về giao thông đi lại và giao

lưu kinh tế văn hoá với các khu vực xung quanh, nhất là với thủ đô Hà Nội – trung

tâm kinh tế chính trị văn hoá của cả nước.

Vạn Phúc có tổng diện tích đất khoảng 143 ha, địa hình tương đối bằng phẳng,

có khí hậu mang tính chất đặc trưng của khí hậu vùng Bắc Bộ .



Hình 2.1. Vị trí địa lí làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc – Hà Đông



21



2.1.1.2. Đặc điểm tự nhiên

1. Địa hình, địa chất, thủy văn

Địa hình Vạn Phúc – Hà Đông không bằng phẳng, thấp dần từ bờ đê (đê sông

Đáy) xuống cánh đồng với hướng chủ đạo là Tây Bắc - Đông Nam, chia thành miền

trong đê và ngoài đê, nay được gọi là miền đồng và miền bãi. Địa hình bằng phẳng

là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở cho sản xuất, cư trú.

Được bồi đắp bởi phù sa của lưu vực sông Đáy và sông Nhuệ nên khu vực rất

thuận lợi cho trồng lúa và các hoa màu, là các nguyên liệu chính của làng nghề.

Song, nền đất này lại dễ thấm nước, làm cho nguồn nước thải của làng nghề dễ

thâm nhập vào nguồn nước ngầm hơn, gây khó khăn cho công tác quản lý môi

trường làng nghề.

Vạn Phúc – Hà Đông nằm ven sông Đáy nên rất thuận lợi cho việc tưới tiêu

nông nghiệp và điều hòa khí hậu địa phương. Hệ thống ao hồ chiếm 10% diện tích

đất tự nhiên và là nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất. Ngoài ra còn có hệ thống

mương kênh trong xã làm nhiệm vụ cấp thoát nước cho nông nghiệp.

2. Thổ nhƣỡng

Đất của xã chủ yếu là đất phù sa, thuận lợi cho trồng lúa và cây rau màu. Đất

có thành phần cơ giới thịt trung bình và nặng.

Đất đai có nguồn gốc phù sa sông Hồng được phân ra hai loại đất chính:

- Đất phù sa được bồi đắp hàng năm phân bố ở ngoài đê sông Đáy.

- Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm, phân bố ở phía trong đê sông Đáy.

3. Thực vật

Thảm thực vật tự nhiên của xã rất nghèo nàn. Các loại cây chủ yếu là cây trồng

như: lúa, hoa màu, cây ăn quả phân bố chủ yếu ở khu vực miền đồng và miền bãi,

một phần ít rải rác trong khu dân cư. Những năm gần đây, cùng với việc đô thị hóa

nông thôn, cây xanh cũng dần biến mất. Thiếu vắng vai trò điều hòa của thảm thực

vật càng làm tăng thêm những ảnh hưởng của việc ô nhiễm môi trường.



22



2.1.1.3. Điều kiện kinh tế – xă hội làng nghề Vạn Phúc

Vạn Phúc có tổng số dân 385.100 người (số liệu năm 2009) bao gồm hơn 1276

hộ trong đó có khoảng 1059 hộ dệt nhuộm, chiếm đến 83% tổng số hộ.

Diện tích đất tự nhiên ( 2009) : 143 ha

Diện tích đất nông nghiệp: khoảng 63 ha

Bình quân đất nông nghiệp theo đầu người: 0.01ha/người.

Với bình quân đất nông nghiệp đầu người thấp như vậy thì việc chỉ dựa vào

sản xuất nông nghiệp sẽ khó có thể đảm bảo cuộc sống cho người dân.

Bên cạnh nghề dệt, ở Vạn Phúc còn tập trung khá nhiều ngành nghề

khác như nông nghiệp, dịch vụ...xen kẽ với các nhà máy xí nghiệp lớn như dệt len

Hà Đông, nhà máy lắp ráp xe máy UMEP, nhà máy nhựa Vinh Hạnh ...

Vạn Phúc có một nhà trẻ mẫu giáo, mét trường cấp tiểu học, mét trường cấp 2,

100% số trẻ em đến trường đúng độ tuổi, không có trẻ em thất học .

Khu vực trung tâm của Vạn Phúc là nơi tập trung của trụ sở UBND, trạm y tế

xã, bưu điện văn hoá, đình làng, chợ và các kiốt bán và giới thiệu sản phẩm lụa.

1. Trạm Y tế

Xã có nhiệm vụ khám chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ cho người dân trong

phường. Hàng năm trạm y tế tổ chức nhiều đợt tiêm phòng cho trẻ nhỏ. Tuy nhiên

do cơ sở vật chất ở đây còn thiếu thốn, trình độ của các y bác sỹ còn chưa cao, Vạn

Phúc lại nằm ngay gần trung tâm thị xã nên trạm y tế chỉ khám và chữa những bệnh

thông thường, người dân thường đi thẳng lên tuyến trên để khám và chữa bệnh.

Hiện nay, ở Vạn Phúc đã có một điểm bưu điện văn hoá xã phục vụ nhu cầu

thông tin liên lạc cùng vởi rất nhiều sản phẩm sách báo phục vụ nhu cầu văn hoá

giải trí cho nhân dân.

2. Chợ

Vạn phúc có 1 chợ ở trung tâm làng, trước kia chợ họp theo phiên nhưng ngày

nay chợ họp thường xuyên mỗi ngày phục vụ nhu cầu lương thực thực phẩm cho

nhân dân , điều đó chứng tỏ mức sống của người dân đã cao hơn trước .

3. Hệ thống đƣờng xá cống rãnh



23



Hệ thống đường xá ở Vạn Phúc đã được trải nhựa hoặc bê tông, một phần nhỏ

lát gạch khiến đi lại trở nên dễ dàng. Tuy nhiên hệ thống cống rãnh thoát nước của

làng vẫn chưa được xây dựng hoàn chỉnh, còn nhiều đoạn cống chưa có nắp đậy

điển hình như ở xóm Hồng Phong, Độc lập...

Hiện nay chính quyền xã đang đầu tư sửa chữa nâng cấp hệ thống cống

rãnh này.

4. Nƣớc sinh hoạt

Trong toàn xã đã lắp đặt hoàn chỉnh hệ thống cung cấp nước sạch cho nhân

dân, hầu hết các hộ gia đình đều sử dụng nước máy, chỉ còn số ít sử dụng nước

giếng khoan và giếng khơi.

Thu nhập bình quân của lao động nghề dệt : 1,5 – 2,5trđ/1 tháng với thời gian

làm việc khoảng 10-12 tiếng đồng hồ ( năm 2009)

2.1.1.4. Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc

Có rất nhiều thông tin khác nhau về lịch sử làng nghề truyền thống này. Theo

thạc sỹ Nguyễn Văn Vượng, người nghiên cứu về các làng nghề thủ công truyền

thống ở Việt Nam thì nghề dệt đã xuất hiện ở đây từ thế kỉ thứ 3 sau công nguyên,

tức là cách đây hơn 1700 năm. Còn theo các Cụ cao niên trong làng thì nghề dệt có

ở Vạn Phúc từ thế kỉ 7 - 8 sau công nguyên do một vị tổ sư tên là Lê Thị Nga được

Vua Hùng Vương truyền dạy. Cũng có tài liệu nói rằng nghề dệt ở Vạn Phúc có từ

thời Bắc thuộc khoảng thế kỉ thứ 9. Như vậy dù thông tin nào thì nghề dệt ở Vạn

Phúc cũng có từ rất lâu đời. Để ghi nhớ công ơn của vị tổ nghề, hiện nay dân làng

tôn bà Lê Thị Nga làm thành hoàng làng và thờ tại đình làng Vạn Phúc .

Theo thời gian, với bàn tay khéo léo tài hoa cùng lòng kiên trì và óc sáng tạo

của những nghệ nhân Vạn Phúc, họ đã sáng tạo ra được rất nhiều loại vải độc đáo như

vân sa, nhiễu, gấm vóc. Những sản phẩm này đã đạt tới trình độ tinh tế và hoàn mĩ nhất

trong cả nước lụa Vạn Phúc đã từng được sử dụng để may áo cho Vua quan thời xưa.

Cũng có thời kì lụa Vạn Phúc đứng bên bờ vực phá sản do sự sản xuất ồ ạt làm

hàng kém chất lượng khiến mất thị trường tiêu thụ, nhưng với lòng yêu nghề và tôn



24



vinh những giá trị truyền thống, làng nghề đã được khôi phục và hiện nay đang trên

đường phát triển mạnh mẽ .

Hiện nay, hoà cùng không không khí phát triển của đất nước cùng với sự phát

triển mạnh mẽ của các làng nghề, Vạn Phúc cũng đang trên đường thay da đổi thịt.

Sản phẩm của làng ngày càng được nhiều nơi biết đến, nhưng điều đáng tiếc là

nhiều mặt hàng thủ công đặc sắc như gấm vóc, lĩnh hoa, hoặc đă bị thất truyền,

hoặc không làm được đẹp như trước nữa. Duy chỉ có lụa là đẹp hơn trước nhiều do

máy dệt hiện đại hơn trước, máy se tơ cũng hiện đại hơn .

Lụa Vạn Phúc đã nổi tiếng khắp nơi trong nước, trên thị trường Quốc Tế, Lụa

Vạn Phúc cũng có sức hấp dẫn kì lạ. Vạn Phúc đã trở thành một trong những làng

nghề nổi tiếng, góp phần tạo nên danh tiếng “ Đất trăm nghề Hà Tây”.

2.1.1.5. Những giá trị của làng nghề Vạn Phúc

1. Giá trị văn hoá của làng nghề

Vạn Phúc là một trong những làng nghề truyền thống có từ rất lâu đời ở

Việt Nam. Cũng như bao làng nghề truyền thống khác, Vạn Phúc tự nó đã có sẵn

hai yếu tố cơ bản: truyền thống văn hoá và truyền thống nghề nghiệp. Hai yếu tố

này không tách rời nhau, hoà quyện vào nhau đã tạo nên văn hoá làng nghề. Sản

phẩm dệt lụa truyền thống không chỉ để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng mà nó

còn là những tác phẩm nghệ thuật, là linh hồn của người Vạn Phúc, góp phần tạo

nên nét đặc sắc của nền văn hoá Việt Nam. Tại Vạn Phúc tập trung nhiều nghệ

nhân của ngành dệt, tài năng sáng tạo, trải qua bao thăng trầm của lịch sử và biến

động của nền kinh tế thị trường, đã đưa làng nghề vươn lên phát triển mạnh mẽ.

2. Giá trị kinh tế

Vạn Phúc có nhiều xưởng dệt lớn với hơn 1000 máy dệt, giải quyết công ăn

việc làm cho 63% lao động ( 2009 ). Hàng năm, sản xuất khoảng 2.4 đến 2.6 triệu

mét vải cùng với nhiều sản phẩm chất lượng cao đa dạng về mẫu mã cung cấp nhu

cầu may mặc trong cả nước và nước ngoài như Nhật Bản, Anh, Mỹ ...Thu nhập

bình quân của một lao động nghề dệt khoảng 2tr đ/ tháng. Mức thu nhập này chưa

phải là cao nhưng nó là giải pháp cho tình trạng thiếu đất nông nghiệp sản xuất và



25



tận dụng thời gian nông nhân. Ngoài ra, sự phát triển nghề dệt còn kéo theo cả các

loại hình dịch vụ kèm theo như dịch vụ bán và giới thiệu sản phẩm, cung ứng

nguyên vật liệu như tơ, hoá chất, thuốc nhuộm ...

2.1.1.6. Tình hình hoạt động sản xuất của làng nghề Vạn Phúc

1. Sản phẩm làng nghề

Trải qua hàng nhiều thế kỷ, thương hiệu lụa Hà Đông ngày càng được phát

triển không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước. Ngày

nay trước sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trương, nghề dệt lụa của Vạn Phúc

ngày càng có điều kiện phát triển. Hiện nay, sản lượng lụa hàng năm từ 2,5 đến 3

triệu mét lụa các loại. Với những mặt hàng tơ tằm như: Vân, Sa, Quế, Lụa sa tanh

hoa các loại đủ màu sắc, mẫu mã phong phú được tiêu tụ rộng rãi trong cả nước.

Nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, tiến tới sự phát triển lâu dài Vạn Phúc đang

đầu tư xây dựng khu vực sản xuất tập trung trên diện tích 15ha để có cơ sở đầy tư,

cải tiến đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

nhằm thỏa mãn hơn nữa với người tiêu dùng và tiến tới thị trường xuất khẩu, đồng

thời tạo ra một mô hình cảnh quan của một làng nghề, làng du lịch.

2. Tình hình công nghệ sản xuất và môi trƣờng lao động

Trước đây, Vạn Phúc chỉ dệt bằng khung dệt thủ công với chưa đầy 100 khung

dệt, nay đã tăng lên trên 1000 khung dệt và đã được cơ giới hoá 100. Khảo sát thực

tế tại các cơ sở sản xuất và tiến hành phỏng vấn 15 hộ dân cư không làm nghề hoặc

làm ở mức độ rất nhỏ của làng nghề Dệt nhuộm Vạn Phúc cho thấy toàn bộ các

xưởng dệt nhuộm xen kẽ trong khu dân cư có quy mô vừa và nhỏ (trung bình

khoảng 5 đến 6 máy dệt/ hộ gia đình), hoạt động mang tính chất kinh tế hộ gia đình

liên tục suốt ngày đêm (10 giờ/ ngày) nên ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất về

tiếng ồn trực tiếp đối với người lao động cũng như các thành viên hộ gia đình và

dân cư xung quanh. Ngoài ra, trên địa bàn Phường Vạn Phúc còn có 3 doanh nghiệp

sản xuất kinh doanh sản phẩm dệt nhuộm gồm nhà máy dệt Hà Đông, Công ty cổ

phần len Hà Đông và Tổ hợp tác Tuấn Hải.



26



Theo khảo sát không gian sản xuất của các hộ gia đình trong làng nghề là nhỏ so

với yêu cầu sản xuất và sinh hoạt. Hầu hết các hộ gia đình đều tận dụng đất thổ cư

của mình để xây dựng nhà xưởng. Nhà xưởng được xây dựng tạm bợ, không có khu

xử lý nước thải sản xuất riêng.Toàn bộ nước thải sản xuất được đổ trực tiếp ra cùng

nước thải sinh hoạt.

Đầu tư vốn cố định ban đầu cho nhà xưởng, máy móc và thiết bị trung bình

khoảng 80 – 100 triệu đồng/hộ gia đình. Giá thành máy dệt cũng có sự giao động

khá lớn từ 7 – 20 triệu đồng. Sản lượng các máy dệt cũng khác nhau.Máy dệt Việt

Nam cho sản lượng khoảng 30m lụa/ tháng. Máy Hàn Quốc cho sản lượng 40m

lụa/tháng. Khi đầu tư vào các máy dệt người dân chỉ căn cứ vào độ bền và sản

lượng, chất lượng vải chứ không chú ý đến lượng thải mà các máy dệt thải ra. Hiện

nay, khâu nhuộm vải vẫn còn thủ công hoàn toàn khi phải dùng bếp lò than công

suất rất nhỏ.

Đối với các nhà máy thì công nghệ sử dụng hiện đại hơn và trong quá trình

đầu tư xây dựng cũng đã chú ý đến công tác vệ sinh môi trường như bước đầu đã

có một số biện pháp làm giảm mức độ ô nhiễm của nước thải đầu nguồn trước khi

thải ra hệ thống thoát nước chung của thành phố, kết hợp lựa chọn sử dụng các

loại hóa chất thuốc nhuộm không nguy hại đến môi trường, nâng cao chất lượng

dầu đốt… Tuy nhiên, các biện pháp này vẫn còn sơ sài, mức độ ô nhiễm của nước

thải vẫn còn cao.

3. Nguyên vật liệu cung cấp cho làng nghề

Nguyên liệu chủ yếu là tơ sợi theo từng chủng loại vải định dệt. Cụ thể, để dệt

vải thô người ta sử dụng sợi tổng hợp Polyeste và sợi pha PE/Co, dệt khăn mặt dùng

sợi bông cotton, dệt gạc sử dụng sợi pha PE/Co có thành phần cotton cao hơn.

Mỗi năm sản lượng sản xuất của địa phương đạt 2,5 triệu mét lụa các loại.

Trong đó 1,5 triệu mét phải qua công nghệ tẩy nhuộm. Để có được 1m lụa cần qua

hai giai đoạn là nấu tẩy và tẩy nhuộm. Trung bình 1m lụa phải dùng từ 8-10 lít

nước. Số lít nước dùng cho việc tẩy nhuộm có thể sẽ lớn hơn vì còn tuỳ thuộc vào

việc nhuộm đậm hay nhạt.



27



Người dân sử dụng thuốc nhuộm có nguồn gốc từ Trung Quốc, được bán tràn

ngập trên thị trường. Quá trình dệt, nhuộm, in hoa có sử dụng hóa chất, thuốc

nhuộm như sút, Javen, H2O, CH3COOH, H2S, thuốc nhuộm axít, thuốc nhuộm lưu

huỳnh (đá, Na2S), thuốc nhuộm trực tiếp... và rất nhiều nước trong các công đoạn

sản xuất. Một tác nhân nữa góp phần gây ô nhiễm môi trường là thành phần trong tơ

tằm, bởi qua khâu tẩy, thải ra 25% tạp chất. 1m lụa có trọng lượng 80g sẽ thải ra

ngoài nước 20g tạp chất....

4. Tổ chức sản xuất của làng nghề

 Hợp tác xă

Trước kia hợp tác xă có tới 200 máy dệt với hình thức sản xuất là khoán sản

phẩm, gắn trách nhiệm từng công đoạn sản xuất tới từng phân xưởng. Tuy nhiên

hiện nay hình thức tổ chức hợp tác xã như vậy không tồn tại nữ. Hợp tác xã chỉ

quản lí hình thức đầu vào đầu ra, cung cấp nguyên vật liệu cho các hộ gia đình, hợp

tác xã cũng mua hàng cho xã viên cung cấp cho các thị trường lớn. Hiện giờ hợp tác

xã chỉ có một máy dệt mẫu và có một máy sấy chung cho toàn xã.

 Hộ sản xuất có qui mô lớn

Có khoảng trên 10 máy dệt, những hộ gia đình này thường phải thuê nhân

công bên ngoài, người nhà chỉ làm công tác quản lí. Người lao động thường được

trả công 1,5 - 2,5tr đ/tháng, với thời gian làm việc 10 – 12 tiếng / ngày.

 Hộ sản xuất nhỏ

Những gia đình này thường có từ 1-5 máy dệt. Hầu hết các gia đình này đều tự

đảm nhận hết các công việc và không thuê thêm lao động bên ngoài



28



2.1.2. Thực trạng môi trường làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc

2.1.2.1. Công nghệ sản xuất và các vấn đề môi trường liên quan của làng nghề dệt

Vạn Phúc



Hình 2.2 Sơ đồ dòng thải quá trình dệt nhuộm tại làng nghề Vạn Phúc

Tại Vạn Phúc công nghệ sản xuất cũng được cải thiện và nâng cấp để tăng năng

suất cũng như chất lượng của sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị hiếu khách hàng

(hình2.2), do đó sản phẩm dệt ra phải qua tẩy nhuộm màu với nhiều loại hoá chất

hơn. Điều bày đồng nghĩa với việc lượng hóa chất thải ra môi trường cũng ngày càng

nhiều hơn nếu như không có các biện pháp nhằm xử lý chất thải. Trong hầu hết các

công đoạn của quá trình dệt nhuộm, nước thải là vấn đề nghiêm trọng nhất. Nước

thải có chứa hóa chất sử dụng để tẩy trắng, nhuộm như Javen; Xút; CH 3COOH và

29



các tạp chất có chứa trong tơ tằm… Phần lớn các chất này đều có những ảnh hưởng

xấu đối với sức khỏe con người. Ngoài ra, do quá trình giặt nhuộm người dân vẫn

sử dụng phương pháp thủ công sử dụng nguyên liệu chính là than với hiệu suất

không cao do đó lượng khí than và xỉ than thải ra khá lớn. Tiếng ồn từ các máy móc

thiết bị cũng là một vấn đề nan giải. Theo thống kê cho thấy thực trạng làng nghề

Vạn Phúc đang ở tình trạng ô nhiễm đáng báo động.

2.1.2.2. Hiện trạng môi trường tại làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc

1. Hiện trạng môi trƣờng nƣớc

a. Nƣớc mặt





Nguồn tài nguyên nƣớc mặt

Trên địa bàn Vạn Phúc, Hà Đông có nhiều sông, ao và hồ. Đặc biệt có 2 con



sông lớn là sông Nhuệ và sông Đáy chảy qua địa phận của vùng. Theo kết quả quan

trắc môi trường Hà Đông do phòng Tài nguyên và Môi trường Quận Hà Đông thực

hiện qua các năm 2005 – 2010 cho thấy, nước mặt tại một số khu vực trên địa bàn

Vạn Phúc đã bị ô nhiễm nặng. Các điểm quan trắc bị ô nhiễm tập trung ở vị trí các

nhánh sông. Các chỉ tiêu ô nhiễm chính là SS, COD, BOD, NH, và các chỉ tiêu vi

sinh. Môi trường nước mặt của vùng đang chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các tác nhân

là nước thải các làng nghề, nước thải sinh hoạt và nước thải từ các khu dân cư

không được xử lý đảm bảo trước khi thải ra môi trường. Hiện nay các con sông lớn

như sông Nhuệ, sông Đáy chảy qua làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc về mùa khô

thường cạn kiệt. Tổng lưu lượng dòng chảy kiệt chỉ chiếm 12 – 15% dòng chảy

năm. Đặt biệt mùa hè chỉ chiếm 7%. Vì vậy vụ Hè – Thu rất khó khai thác nước từ

các dòng sông để tưới tiêu phục vụ sản xuất.

 Hiện trạng môi trƣờng nƣớc mặt

Vấn đề ô nhiễm môi trường nước do các làng nghề gây ra là vấn đề đáng lo

ngại nhất. Lượng nước thải dùng trong các khâu dệt lụa, tẩy, nhuộm ở Vạn Phúc

khá lớn. Trung bình một hộ làm nghề dệt dùng 2,84m3/ngày cho sản xuất, bao gồm

nước thải dịch chuội 0,18m3, nước thải nhuộm 0,22m3, nước thải giặt một lần 0,4m3

và các nước thải khác 2,04m3. Lượng nước thải sau sản xuất cùng nước thải sinh



30



hoạt chưa qua xử lý chảy hòa chung vào mương thoát nước rồi chảy ra sông Nhuệ

gây ô nhiễm lớn. Tổng lượng nước sau sản xuất và nước thải sinh hoạt ở Vạn Phúc

từ 235,3 - 285,3 m3/ngày[8]. Nước thải sau sản xuất chứa nhiều hóa chất chưa qua

xử lý của các làng nghề dệt, nhuộm chảy trực tiếp ra các thủy vực đang gây ô nhiễm

tầng nước mặt. Đặc biệt sự ô nhiễm đã đến mức báo động tại sông Nhuệ và sông

Đáy. Theo kết quả phân tích chất lượng nước tại các làng nghề Vạn Phúc, La Khê,

Phú Lãm, Dương Nội cho thấy hiện tượng các nguồn nước mặt của các làng nghề

đều bị ô nhiễm bởi các các nguồn nước thải do chính các làng nghề thải ra. Điển

hình như xã Dương Nội (Hà Đông) tỷ lệ Colifoms là 28MPN/100L, gấp 9,3 lần tiêu

chuẩn cho phép. Lượng nước thải do các làng nghề thải ra hầu như không qua xử lý

được đổ trực tiếp và gây ô nhiễm sông Nhuệ tiêu diệt các loài thủy sinh, tác động

xấu tới sản xuất, sinh hoạt người lao động.

Theo các kết quả phân tích cho thấy, tại nhiều điểm quan trắc, lấy mẫu trên

lưu vực sông Nhuệ đều có nồng độ BOD5, COD, coliform đều vượt quá tiêu chuẩn

cho phép. Đoạn sông thuộc địa bàn phường Vạn Phúc có nồng độ BOD5, COD,

coliform cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 - 5 lần (QCVN 08/2008 BTNMT). Các

năm qua, Chỉ cục Môi Trường Hà Nội đã thực hiện quan trắc thường xuyên một số

điểm lược thể hiện qua hình 2.3:



M

M



1



3



M

2



Hình 2.3. Vị trí các điểm quan trắc nƣớc mặt làngnghề dệt nhuộm

Vạn Phúc



31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2. HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀ MÔI TRƢỜNG MỘT SỐLÀNG NGHỀ DỆT NHUỘM HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ ngay(99 tr)

×