Tải bản đầy đủ - 99 (trang)
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÀNG NGHỀ DỆT NHUỘM VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÀNG NGHỀ DỆT NHUỘM VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN

Tải bản đầy đủ - 99trang

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN LÀNG NGHỀ DỆT NHUỘM VÀ CÁC VẤN ĐỀ

MÔI TRƢỜNG LIÊN QUAN

1.1. Làng nghề với phát triển kinh tế xã hội

1.1.1. Khái niệm làng nghề

Làng nghề là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công, phi nông

nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông. Làng nghề được

cấu thành bởi hai yếu tố ngành và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất

định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính,

giữa họ có mối liên kết về kinh tế, văn hóa và xã hội.

Xét về mặt định tính: làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát

triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất nhằm đáp ứng

nhu cầu phát triển và chịu sự chi phối của nông nghiệp và nông thôn. Làng nghề

gắn liền với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản

xuất nhỏ tự cấp tự túc [1].

Xét về mặt định lượng: làng nghề là những làng mà ở đó có số người chuyên

làm nghề thủ công và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm một tỷ

lệ lớn trong tổng dân số của làng.

Có nhiều cách phân loại làng nghề, cho đến nay phần lớn các ý kiến thống nhất

và phân loại làng nghề theo tiêu chí:” Làng nghề là làng có tối thiểu 30% tổng số hộ

trên địa bàn tham gia hoạt động làm ra sản phẩm phi nông nghiệp, sản xuất kinh

doanh ổn định tối thiểu 2 năm…”[2].

1.1.2. Đặc điểm chung của làng nghề

Ở mỗi làng nghề tuy bao giờ cũng có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình

công nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có chung một số đặc điểm sau:

 Lực lượng lao động trong làng nghề đa số là người dân sống trong làng.

Các ngành nghề phi nông nghiệp trong làng sẽ tạo ra sản phẩm giúp cho người dân

tăng thu nhập trong lúc nông nhàn.



4



 Hộ gia đình là đơn vị cơ bản của sản xuất với nguồn nhân lực từ thành viên

trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có. Nhờ vào nhân lực gia đình đã tạo cho các hộ

gia đình khả năng thu nhập không phân biệt lứa tuổi và giới tính vì nó đáp ứng nhu

cầu chung của các thành viên trong gia đình. Do đó, nó có thể huy động mọi người

trong gia đình tham gia tích cực vào việc tăng sản phẩm sản xuất của gia đình.

 Cơ sở sản xuất dịch vụ tại làng xã là nơi có nhiểu hộ gia đình cùng tham

gia. Điều này tạo nên tính chất riêng biệt của làng nghề, dẫn đến xu thế độc quyền

những nghề nghiệp, sản phẩm.

 Tính chuyên môn hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau trong các làng nghề rất rõ

rệt. Một số trường hợp, sự phân chia lao động trong làng nghề phụ thuộc vào từng

khâu trong quy trình sản xuất. Nghề càng phức tạp, càng có nhiều công đoạn sản

xuất thì tính chuyên môn hóa càng cao. Sự phân chia này không chỉ trong một làng

mà còn có thể mở rộng trong nhiều làng.

 Phần lớn kỹ thuật - công nghệ của làng nghề còn lạc hậu, chủ yếu vẫn sử

dụng các thiết bị thủ công, bán cơ khí hoặc đã được cải tiến một phần, đa số mua lại

từ các cơ sở công nghiệp quốc doanh, các thiết bị này đã cũ, không đồng bộ, không

đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện làm việc cho người lao động. Công nghệ

sản xuất đơn giản (đôi khi còn lạc hậu), cần nhiều sức lao động (với kỹ thuật cũ

mang lại lợi nhuận thấp so với sức lao động đã bỏ ra).

 Biết tận dụng nguyên vật liệu và nhân lực thông qua kỹ năng lao động và

sự khéo léo để tạo thu nhập trong điều kiện thiếu vốn.

1.1.3. Phân loại và đặc trưng sản xuất của các làng nghề

Làng nghề với những hoạt động phát triển đã tạo ra những tác động tích cực

và tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội và môi trường nông thôn Việt Nam với đặc

thù hết sức đa dạng. Cần phải nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau

mới có thể hiểu rõ được bản chất cũng như sự vận động của loại hình kinh tế này

và các tác động của nó gây ra đối với môi trường. Để giúp cho công tác quản lý

hoạt động sản xuất cũng như quản lý, bảo vệ môi trường và làm cơ sở thực tiễn để



5



thấy được bức tranh tổng thể về làng nghề Việt Nam, có thể phân loại làng nghề

theo một số dạng sau [1]:

1. Phân loại theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới:dựa trên đặc thù

văn hoá, mức độ bảo tồn các làng nghề đặc trưng cho các vùng văn hoá lãnh thổ

khác nhau.

2. Phân loại theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm: nhằm xác định nguồn và

khả năng đáp ứng nguyên liệu cho hoạt động sản xuất cũng như phần nào thấy được

xu thế và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của xã hội.

3. Phân loại theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ: nhằm xác định

trình độ công nghệ sản xuất và quản lý sản xuất của các làng nghề qua đó có thể

xem xét tiềm năng phát triển đổi mới công nghệ sản xuất đáp ứng cho các nhu cầu

đa dạng hoá sản phẩm và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

4. Phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm: nhằm phục vụ mục tiêu đánh

giá đặc thù, quy mô nguồn thải từ hoạt động sản xuất của làng nghề.

5. Phân loại theo mức độ sử dụng nguyên, nhiên liệu: nhằm xem xét, đánh giá

mức độ sử dụng tài nguyên tại các làng nghề, tiến tới có được giải pháp quản lý và

kinh tế trong sản xuất nhằm giảm lượng tài nguyên sử dụng cũng như hạn chế tác

động đến môi trường.

6. Phân loại theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển:

nhằm xem xét tới các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng nhất đối với sự phát

triển của làng nghề. Tuỳ thuộc vào các tiêu chí mà ta áp dụng cách phân loại này

hay phân loại kia.

1.2. Hiện trạng kinh tế xã hội các làng nghề dệt nhuộm

1.2.1.Chủ trương phát triển làng nghề dệt nhuộm

Thời gian qua, xác định vai trò quan trọng của làng nghề, ngành nghề nông

thôn, Đảng và Nhà nước đã tập trung chỉ đạo và ban hành nhiều chính sách như

Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về chính sách phát

triển ngành nghề nông thôn, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn,

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, giải quyết



6



việc làm tại chỗ, nâng cao chất lượng cuộc sống thu nhập của người dân, tăng

cường hoạt động xuất khẩu.

Nghị định số 73/1995/NĐ-CP ngày 01/11/1995, Chính phủ đã giao Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện chức năng quản lý Nhà nước lĩnh vực

ngành nghề nông thôn (Nghị quyết số 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 quy định

chức năng của bộ NN &PTNT). Trên cơ sở đó, Bộ NN &PTNT đã xây dựng, ban

hành nhiều chính sách mà cụ thể là Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày

18/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định 66/2006/NĐ-CP,

Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN ngày 18/04/2007 về việc đẩy mạnh thực hiện quy

hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và phòng chống ô nhiễm môi trường làng

nghề cũng như đã có nhiều văn bản chỉ đạo nhằm thúc đảy phát triển làng nghề.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2006 - 2015 của bộ NN

&PTNT là thực hiện chương trình “mỗi làng một nghề”, với mục tiêu khôi phục và

phát triển làng nghề nông thôn để tạo việc làm, tạo thu nhập từ phi nông nghiệp với

các hoạt động như: hỗ trợ phát triển làng nghề nông thôn, khuyến khích các hộ gia

đình, tư nhân, HTX, doanh nghiệp vừa và nhỏ, đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu

thủ công nghiệp đa dạng, đào tạo nghề và hỗ trợ chuyển lao động nông nghiệp sang

phi nông nghiệp, xây dựng cơ chế quản lý chất thải làng nghề.

1.2.2. Hiện trạng kinh tế xã hội của các làng nghề dệt nhuộm ở Việt Nam

Theo số liệu thống kê, cả nước hiện có 173 làng nghề dệt, tẩy nhuộm, ươm tơ

trên tổng số 1450 làng nghề, chiếm 11,93% [1]. Các làng nghề này tập trung chủ

yếu ở một số tỉnh phía Bắc như: Hà Tây (22 làng), Hòa Bình (14 làng), Nam Định

(12 làng), Sơn La (46 làng), Thái Bình (13 làng), Thanh Hóa (13 làng). Ngoài ra

con nằm rải rác ở mộ số tỉnh miền trung và miền nam với khoảng 1 - 2 làng nghề

mỗi tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Cạn, Hà Nội, Hải Dương, Lào Cai, Lai Châu, Ninh Bình,

Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Trị, Bình Phước, Bình Thuận,....Các làng nghề này

đã góp phần nâng cao cuộc sống cho người dân địa phương, làm phong phú thêm

loại hình sản xuất làng nghề [1].



7



Sản phẩm của các làng nghề dệt tẩy nhuộm, ươm tơ rất phong phú. Có thể kể

đến: Lụa tơ tằm Hà Tây, vải thổ cẩm Sơn La, vải gạc y tế, khăn mặt, khăn tay (Bắc

Ninh), đến các loại vải thô, vải mộc các loại,…

Bảng 1.1. Loại và lƣợng sản phẩm của một số làng nghề dệt điển hình [1]

Tên làng nghề



TT



1.



Loại sản phẩm



4.



5.



6.



tính



lƣợng



tấn/năm



100



Định



tấn/năm



5 - 10



m/ngày



108.000



kg/ngày



10.800



kg/ngày



1.800



Lụa các loại



tấn/năm



186,24



Vải in hoa



tấn/năm



10.950



Khăn các loại



tỷ cái



25



Ươm tơ dệt lụa Bảo - Tơ



tấn/năm



250



Lộc, Lâm Đồng



m/năm



1.000.000



- Lụa



Dệt Tương Giang, Bắc - Khăn mặt, khăn tay các

loại



Ninh



- Vải thô

3.



Sản



Ươm tơ Cổ Chất, Nam - Tơ

- Vải gạc y tế



2.



Đơn vị



Dệt lụa Vạn Phúc, Hà

Tây

In nhuộm Dương Nội,

Hà Tây

Dệt



nhuộm



Phương, Thái Bình



Thái



- Lụa các loại



Ngoài một số làng nghề đã khẳng định được tên tuổi và chất lượng sản phẩm

của mình cả trong nước cũng như quốc tế như: dệt lụa Vạn Phúc (Hà Tây), ươm tơ

dệt lụa Bảo Lộc (Lâm Đồng),... còn lại đại đa số sản phẩm của các làng nghề đều

được tiêu thụ một cách tự phát, nhỏ lẻ trong địa phương và theo yêu cầu thị trường.

Nguyên nhân chủ yếu là công nghệ sản xuất tại các làng nghề này còn lạc hậu, máy

móc thiết bị hầu hết đều cũ, chất lượng sản phẩm không cao, chưa có định hướng

phát triển lâu dài,....

Về mặt doanh thu, hoạt động sản xuất tại các làng nghề dệt tẩy nhuộm, ươm tơ

cũng đã đóng góp một phần to lớn vào đời sống con người vùng nông thôn, qua đó



8



góp phần vào quá trình phát triển kinh tế xã hội đất nước. Có những làng nghề, thu

nhập từ sản xuất nghề là chủ yếu trong đời sống hàng ngày như làng nghề ươm tơ

Cổ Chất (Nam Định), thu nhập bình quân từ sản xuất nghề là 3 - 3,6 triệu

đồng/người/năm, dệt Thái Phương là 5,2 triệu đồng/người/năm, ươm tơ Đông Yên

(Quảng Nam) là 4,2 triệu đồng/người/năm,.... (năm 2003)

Sự phân bố và phát triển làng nghề dệt nhuộm giữa các vùng không đồng đều.

Các làng nghề dệt nhuộm ở Miền Bắc phát triển mạnh hơn ở Miền Trung và Miền

Nam, trong đó tập trung nhiều nhất và phát triển mạnh nhất là ở vùng đồng bằng

Sông Hồng. Tình hình phân bố làng nghề dệt nhuộm theo các miền và các địa

phương được chỉ ra trên các bảng 1.2:

Bảng 1.2. Phân bố số lƣợng làng nghề Việt Nam theo Tỉnh Thành [1]

TT



Tỉnh



I



Miền Bắc



Số lƣợng làng nghề làm tơ, dệt

vải, đồ da (làng)



1



Thành phố Hà Nội



5



4



Tỉnh Hà Tây



22



5



Tỉnh Bắc Ninh



5



6



Tỉnh Hải Dương



3



7



Tỉnh Hưng Yên



1



8



Tỉnh Hà Nam



2



9



Tỉnh Nam Định



12



10



Tỉnh Thái Bình



13



11



Tỉnh Ninh Bình



1



12



Tỉnh Hà Giang



1



13



Tỉnh Cao Bằng



1



14



Tỉnh Lào Cai



3



15



Tỉnh Bắc Cạn



4



16



Tỉnh Lạng Sơn



1



9



18



Tỉnh Yên Bái



1



20



Tỉnh Phú Thọ



1



23



Tỉnh Lai Châu



3



24



Tỉnh Sơn La



46



25



Tỉnh Hoà Bình



14



Tổng 1



139

Miền Trung



II

1



Tỉnh Thanh Hoá



13



2



Tỉnh Nghệ An



1



3



Tỉnh Hà Tĩnh



2



5



Tỉnh Quảng Trị



1



8



Tỉnh Quảng Nam



3



10



Tỉnh Bình Định



1



12



Tỉnh Khánh Hoà



2



13



Tỉnh Lâm Đồng



1



Tổng 2



24

Miền Nam



III

1



Thành phố Hồ Chí Minh



3



5



Tỉnh Bình Phuớc



2



6



Tỉnh Đồng Nai



1



7



Tỉnh Bình Thuận



1



9



Tỉnh Đồng Tháp



1



10



Tỉnh An Giang



2



Tổng 3



10



10



Trong thời gian qua, các làng nghề dệt nhuộm Việt Nam đã có sự phát triển

đáng kể, thể hiện qua số liệu về tình hình phát triển của công nghiệp nông thôn.

Các làng nghề nông thôn đã sản xuất một khối lượng hàng hoá lớn đáp ứng nhu

cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Đặc biệt, nhờ có sự gắn kết chặt chẽ với

thị trường, cơ cấu sản phẩm của các làng nghề đã có sự chuyển biến mạnh mẽ

theo hướng càng ngày sản phẩm càng bám sát hơn, phục vụ chặt chẽ hơn nhu

cầu của thị trường. Nhiều làng nghề được hình thành và hoạt động từ nhiều thế

kỷ và các làng nghề mới đã có sự phát triển nhanh chóng, thể hiện qua bảng 1.3

Bảng 1.3. Giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng thủ công (đơn vị 1.000

USD) [3]

Mặt hàng

Dệt







thêu



ren thủ công

Số nước mua



1996



1997



1998



1999



2000



5.662



5.848



41.584



32.900



55.382



18



17



33



33



32



1.2.3. Những tác động tiêu cực đến môi trƣờng của làng nghề dệt nhuộm

Bên cạnh mặt tích cực, sự phát triển hoạt động sản xuất tại làng nghề dệt

nhuộm đã phát sinh một số tác động tiêu cực đến môi trường. Những tác động xấu

đến môi trường nhiều năm qua đã làm cho chất lượng môi trường nhiều làng nghề

ngày càng suy giảm, ảnh hưởng không chỉ tới sự phát triển bền vững ở làng nghề,

mà còn ảnh hưởng đến cả tính bền vững của nhiều ngành kinh tế khác.

 Quy mô sản xuất của làng nghề nhỏ, phần lớn quy mô hộ gia đình. Quy mô

sản xuất tại nhiều làng nghề là quy mô nhỏ, khó phát triển vì mặt bằng sản xuất trật

hẹp xen kẽ với khu vực sinh hoạt. Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm

khu vực sinh hoạt, phát thải ô nhiễm tới khu dân cư càng lớn, dẫn đến chất lượng

môi trường càng xấu đi.

 Nếp sống tiểu nông của người chủ sản xuất nhỏ xuất thân từ nông dân đã

ảnh hưởng mạnh tới sản xuất làng nghề, làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường.

Người sản xuất không nhận thức được tác hại lâu dài của ô nhiễm, chỉ quan tâm đến



11



lợi nhuận trước mắt, các cơ sở sản xuất tại làng nghề thường lựa chọn quy trình sản

xuất thô sơ tận dụng nhiều sức lao động trình độ thấp. Hơn thế nhằm hạ giá thành

sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, nhiều cơ sở sản xuất còn sử dụng các nhiên liệu rẻ

tiền, hóa chất độc hại (kể cả đã cấm sử dụng) không đầu tư phương tiện, dụng cụ

bảo hộ lao động không đảm bảo điều kiện lao động nên đã làm tăng mức độ ô

nhiễm môi trường.

 Quan hệ sản xuất mang đặc thù của quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xã.

Nhiều làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, sử dụng lao động có tính

gia đình, sản xuất theo kiểu "bí truyền", giữ bí mật cho dòng họ, tuân theo "hương

ước" không cải tiến áp dụng những khoa học kỹ thuật, nên đã cản trở việc áp dụng

giải pháp khoa học kỹ thuật mới, không khuyến khích sáng kiến mang hiệu quả

BVMT của người lao động.

 Công nghệ sản xuất và thiết bị phần lớn ở trình độ lạc hậu chắp vá, kiến

thức tay nghề không toàn diện dẫn tới quá trình sản xuất tiêu tốn nhiều nhiên,

nguyên liệu làm tăng phát thải nhiều chất ô nhiễm môi trường nước, đất, khí ảnh

hưởng tới gia thành sản phẩm và chất lượng môi trường. Kỹ thuật lao động sản xuất

ở các làng nghề chủ yếu là thủ công, bán cơ khí, chưa có làngnghề nào áp dụng tự

động hóa được thể hiện qua bảng 1.4:

Bảng 1.4. Trình độ kĩ thuật ở các làng nghề [4]

Đơn vị tính: %

Trình độ kỹ



Chế biến nông,



thuật



lâm, thủy sản



Thủ



công,



bán cơ khí

Cơ khí

Tự động hóa



Thủ công mỹ

nghệ và vật liệu

xây dựng



Các ngành



Các ngành



dịch vụ



khác



61,51



70,69



43,90



59,44



38,49



29,31



56,10



40,56



0



0



0



0



Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề quá thấp, khó có điều kiện

phát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường. Sản xuất



12



mang tính tự phát, không có kế hoạch lâu dài, nên khó huy động tài chính và vốn

đầu tư lớn từ các nguồn khác (quỹ tín dụng, ngân hàng). Do đó, khó chủ động trong

đổi mới kỹ thuật và công nghệ, lại càng không thể đầu tư cho xử lý môi trường.

 Trình độ người lao động, chủ yếu là lao động thủ công, đang học nghề, văn

hóa thấp, nên hạn chế nhận thức đối với công tác BVMT. Theo điều tra của bộ NN

&PTNT thì chất lượng lao động và trình độ chuyên môn kỹ thuật ở các làng nghề

nhìn chung còn thấp chủ yếu là lao động phổ thông, số lao động chỉ tốt nghiệp cấp

I, II chiếm trên 60%. Mặt khác đa số người lao động xuất thân từ nông dân nên

chưa có ý thức về môi trường lao động, chỉ cần việc làm có thu nhập cao hơn thu

nhập từ nông nghiệp hoặc bổ sung thu nhập trong lúc nông nhàn, nên ngại học hỏi,

không quan tâm tới BVMT....

 Nhiều làng nghề chưa quan tâm tới xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho

BVMT. Cạnh tranh trong 1 số loại hình sản xuất đã thúc đẩy một số làng nghề đầu tư

đổi mới công nghệ, kỹ thuật sản xuất. Tuy nhiên đây không phải là đầu tư cho kỹ thuật

bảo vệ môi trường. Vì vậy hầu hết các cơ sở sản xuất trong làng nghề đều không có các

hệ thống xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường.

Hầu hết các làng nghề không có đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu gom và xử lý

chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường, như không có hệ thống thu gom và xử lý nước

thải, không có bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh, không chú ý đầu tư phương

tiện thu gom quản lý chất thải nguy hại. Đây là một thách thức lớn vì để khắc phục

điều này đòi hỏi nhiều kinh phí và thời gian.

1.3. Những vấn đề về ô nhiễm môi trƣờng làng nghề dệt nhuộm

1.3.1. Giới thiệu chung về công nghệ dệt nhuộm

Trong cơ cấu làng nghề dệt nhuộm nói chung, nghề nhuộm chiếm một vị trí

quan trọng. Hoạt động của các làng nhuộm không chỉ tạo ra những giá trị về mặt

kinh tế xã hội, mà còn tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần sâu sắc. Những sản

phẩm của dệt thổ cẩm, tơ tằm, thêu ren,...không chỉ là những thương phẩm mà còn

là những tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao.



13



Ngành dệt là ngành công nghiệp có dây chuyền công nghệ phức tạp, áp dụng

nhiều loại hình công nghệ khác nhau. Đồng thời trong quá trình sản xuất sử dụng

nhiều chủng loại nguyên vật liệu, hoá chất khác nhau. Thông thường công nghệ dệt

nhuộm gồm ba quá trình cơ bản:

-



Kéo sợi



-



Dệt vải và xử lý (nấu tẩy)



-



Nhuộm và hoàn thiện vải.



Sơ đồ công nghệ dệt nhuộm kèm theo dòng thzải được thể hiện qua hình 1.1

như sau:

Nguyên liệu



Chải, ghép, kéo sợi



đầu

Tác nhân giũ hồ

NaOH,



hóa



Giũ hồ



Nước thải chứa hồ tinh

bột bị thủy phân



Nấu



Nước thải



Tẩy trắng



Nước thải



NaOH, hóa chất



Kiềm bóng



Nước thải



H2SO4



Trung hòa



Nước thải



Dung dịch nhuộm



Nhuộm



chất Hơi nước

Hóa chất tẩy



Chất tẩy giặt

Hơi nước Hơi nước



Dịch nhuộm thải



Giặt



Nước thải



Hoàn tất, văng khổ



Nước thải



Sản phẩm

Hình 1.1. Sơ đồ công nghệ dệt nhuộm kèm theo các nguồn nƣớc thải [5]



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÀNG NGHỀ DỆT NHUỘM VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN

Tải bản đầy đủ ngay(99 tr)

×