Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ

Cân nặng (kg)

BMI = -------------------------------(Chiều cao)2(cm)
BMI nói lên tình trạng dinh dưỡng cân đối giữa cân nặng với chiều cao, là chỉ số hiệu
chỉnh cân nặng với dáng vóc của cơ thể, phản ánh tình trạng dự trữ mỡ trong cơ thể; BMI
cao chứng tỏ nhiều mỡ và BMI thấp cho biết giảm dự trữ mỡ. Vì vậy, BMI là chỉ số để
đánh giá thừa cân béo phì và suy dinh dưỡng do thiếu năng lượng trường diễn.
Dựa vào chỉ số BMI, tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành được phân loại như
sau:
Bình thường: BMI từ 18,5 – 24,99
Gầy: BMI dưới 18,5
Khi một người có BMI<18,5 nghĩa là có biểu hiện thiếu năng lượng trường diễn (Chronic
Energy Defiency, CED). Thiếu năng lượng trường diễn được phân loại cụ thể như sau:
BMI từ 17 đến 18,49: CED độ I (gầy độ I)
BMI từ 16,0 đến 16,99: CED độ II (gầy độ II)
BMI dưới 16: CED độ III (gầy độ III)
Để đánh giá mức độ phổ biến của TNLTD ở cộng đồng, Tổ chức Y tế thế giới
(WHO,1995) khuyến nghị dùng các ngưỡng với người trưởng thành dưới 60 tuổi như
sau :
Tỷ lệ thấp: 05- 09% quần thể có BMI < 18,5
Tỷ lệ vừa: 10-19% quần thể có BMI < 18,5
Tỷ lệ cao: 20-39% quần thể có BMI < 18,5
11

Tỷ lệ rất cao: > 40% quần thể có BMI < 18,5 6
1.1.3 Thiếu năng lượng trường diễn (2)
1.1.3.1 Khái niệm

Thiếu năng lượng trường diễn (TNLTD) là tình trạng cơ thể thiếu năng lượng kéo dài dẫn
đến cân nặng cơ thể và dự trữ năng lượng cơ thể thấp. Những người TNLTD có tiêu hao
năng lượng thấp đi thông qua giảm các hoạt động thể lực để thích ứng với tình trạng năng
lượng ăn vào thấp hơn so với nhu cầu của cơ thể
1.1.3.2 Nguyên nhân thiếu năng lượng trường diễn

Thiếu năng lượng khẩu phần, thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình, thiếu kiến thức về
dinh dưỡng…, là những nguyên nhân dẫn tới TNLTD. TNLTD sẽ xuất hiện khi dự trữ
dinh dưỡng cạn kiệt hoặc khẩu phần dinh dưỡng không đủ cho nhu cầu chuyển hóa hàng
ngày của cơ thể. Nguyên nhân chủ yếu xảy ra khi số lượng và chất lượng bữa ăn không
cung cấp đầy đủ những chất cần thiết cho cơ thể hoặc hấp thu các chất dinh dưỡng kém.
Thiếu dinh dưỡng làm tăng khả năng mắc bệnh nhiễm khuẩn, ảnh hưởng tới ngon miệng,
rối loạn các quá trình tiêu hóa và chuyển hóa trung gian làm cho tình trạng thiếu dinh
dưỡng trở nên trầm trọng hơn . Phụ nữ ở các nước đang phát triển hoặc ở các nước,
vùng/hộ nghèo luôn bị tác động bởi gánh nặng công việc và quỹ thời gian; khi thời gian
làm việc kéo dài và 7 đảm nhiệm nhiều vai trò khiến người phụ nữ phải đối mặt với các
vấn đề về thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là TNLTD.
Chỉ số cơ thể ( BMI ) có thể phản ánh mức độ thừa cân béo phì như sau :
BMI > 25 : : Thừa cân
BMI từ 25 đến 29,99: Tiền béo phì
BMI từ 30 đến 34,99: Béo phì độ I
BMI từ 35 đến 39,99: Béo phì độ II
BMI ≥ 40: Béo phì độ III
12

Ngoài ra, người ta còn dùng tỷ số vòng eo/vòng mông để đánh giá sự phân bố của mỡ.
Khi tỷ số vòng eo/vòng mông vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì được coi là béo
ở trung tâm dư khối lượng mỡ bụng và mỡ toàn bộ cơ thể.
1.1.3.3 Ảnh hưởng của thiếu năng lượng trường diễn

TNLTD, trước tiên có ảnh hưởng đến sức khỏe của từng cá thể và ảnh hưởng đến sức
khỏe của cả cộng đồng xã hội. Đặc biệt với phụ nữ, cải thiện được tình trạng dinh dưỡng
của họ góp phần giảm chi phí trong chăm sóc y tế sẽ tăng năng suất trong lao động và từ
đó sẽ góp phần phát triển kinh tế xã hội tốt hơn . TNLTD sẽ để lại những hậu quả trước
mắt và lâu dài trên sức khỏe cụ thể như:
Ảnh hưởng lên sự phát triển của bào thai và trẻ em: Ngay từ lúc mới hình thành, thai phát
triển được là nhờ các chất dinh dưỡng từ mẹ; người mẹ thiếu dinh dưỡng, TNLTD sẽ cung
cấp không đủ dinh dưỡng cho thai nhi và có ảnh hưởng đến phát triển của thai. Tùy mức
độ thiếu dinh dưỡng từ mẹ mà quá trình lớn lên và phát triển của chiều dài, cân nặng thai
bị ảnh hưởng. Những trẻ em ,con của bà mẹ TNLTD sẽ có nguy cơ rất cao bị suy dinh
dưỡng và còn có nguy cao mắc các bệnh tiểu đường, béo phì về sau. Kém dinh dưỡng
trong thời kỳ mang thai làm thai có thể bị sẩy, chết lưu, dị tật, đẻ non hoặc sinh nhẹ cân
nhất là mẹ bị thiếu cung cấp dinh dưỡng vào 3 tháng cuối của thai kỳ.
Ảnh hưởng lên chính sức khỏe người phụ nữ: Khi bị TNLTD thì ngoài khả năng lao động
thấp kém hơn so với người bình thường thì những phụ nữ thấp bé thường có nguy cơ mắc
bệnh và tử vong cao hơn, dễ mắc bệnh hơn . Thiếu dinh dưỡng có thể làm chậm tuổi có
kinh nguyệt, kéo dài thời kỳ tiền mãn kinh, tuổi mãn kinh đến sớm hoặc hội chứng suy
kiệt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ.
1.1.4 Thiếu máu dinh dưỡng (1)
1.1.4.1 Khái niệm :

Thiếu máu: Thiếu máu là tình trạng giảm lượng huyết sắc tố (HST) và
số lượng hồng cầu (HC) trong máu ngoại vi dẫn đến thiếu oxy cung cấp cho
các mô tế bào trong cơ thể, trong đó giảm huyết sắc tố có ý nghĩa quan trọng
13

nhất. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, thiếu máu xảy ra khi mức độ huyết sắc tố
lưu hành của một người nào đó thấp hơn so với một người khỏe mạnh cùng
giới, cùng tuổi, cùng một môi trường sống. Bởi vậy, thực chất thiếu máu là sự
thiếu hụt lượng huyết sắc tố trong máu lưu hành.
Thiếu máu dinh dưỡng: Là tình trạng bệnh lý thiếu máu do thiếu các chất dinh dưỡng,
một hay nhiếu chất dẫn đến tình trạng không tạo ra đầy đủ máu làm cho mức hemoglobin
(Hb) trong máu xuống thấp hơn bình thường.
Thiếu máu do thiếu sắt: Vì thiếu sắt đã làm cho hồng cầu giảm cả về số lượng lẫn chất
lượng gây nên tình trạng thiếu máu .
Bình thường trong cơ thể, sắt được dự trữ đủ đáp ứng cho nhu cầu cơ thể. Một khi có nhu
cầu tăng cao như phụ nữ có thai, trẻ em giai đoạn phát triển nhanh hoặc các bệnh lý như
mất máu do chảy máu đường tiêu hóa, tiết niệu, nhiễm giun sán sẽ gây tình trạng thiếu hụt
dự trữ làm thiếu sắt.
Nếu ở phụ nữ khi nồng độ Ferritin huyết thanh thấp hơn 15μg/L thì gọi là tình trạng sắt
cạn kiệt .
1.1.4.2 Phương pháp đánh giá tình trạng thiếu máu

WHO năm 2001 đã đưa ra mức đánh giá tình trạng thiếu máu dinh dưỡng của PNTSĐ
như sau :
Bình thường: Hb ≥ 12 g/dl
Thiếu máu nhẹ: Hb từ ≥10g/dl - <12g/dl
Thiếu máu vừa: Hb từ ≥ 7g/dl - <10g/dl
Thiếu máu nặng: Hb < 7g/dl
Mức đánh giá tình trạng thiếu máu dinh dưỡng của PNCT như sau:
Bình thường: Hb ≥ 11 g/dl
14

Thiếu máu nhẹ: Hb từ 9 - <11g/dl
Thiếu máu vừa: Hb từ 7 - < 9g/dl
Thiếu máu nặng: Hb <7g/dl
Để nhận định vấn đề ý nghĩa trong cộng đồng quần thể thì có các mức như sau:
WHO cũng đưa ra mức đánh giá phân loại thiếu máu để nhận định ý nghĩa sau sức khỏe
cộng đồng dựa trên tỷ lệ thiếu máu được xác định tử mức hemoglobin như sau :
Bình thường: Tỷ lệ thiếu máu < 5%
Thiếu máu nhẹ: Tỷ lệ thiếu máu từ 5-19,9%
Thiếu máu trung bình: Tỷ lệ thiếu máu từ 20-39,9%
Thiếu máu nặng: Tỷ lệ thiếu máu ≥ 40% .
1.2 Các yếu tố dinh dưỡng và sức khỏe của mẹ có liên quan đến trẻ
1.2.1 Dinh dưỡng của mẹ trước khi có thai

Tạo thói quen ăn uống hợp lý trước khi mang thai. Trước hết, cần phải tạo thói quen ăn
uống tốt, cân bằng các chất dinh dưỡng cho cơ thể, không kén chọn, ăn đa dạng các loại
thực phẩm, dinh dưỡng phong phú để chuẩn bị đầy đủ các dưỡng chất cần thiết cho quá
trình thụ thai và cho quá trình hình thành các cơ quan của thai nhi sau này. Tiếp đến là
tuân thủ nguyên tắc ăn chín uống sôi, chú ý đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, cố gắng
chọn dùng các loại thực phẩm thiên nhiên, tươi ngon, khi ăn trái cây nên gọt vỏ và nhớ
uống nhiều nước.
1.2.1.1 Chế độ ăn uống trước khi mang thai

a) Thực phẩm chứa nhiều axit folic (vitamin B9)
Thời điểm để phụ nữ nên bổ sung axit folic thích hợp nhất là trước khi mang thai 3 – 4
tháng. Có thể uống viên nang bổ sung chất này và nên kết hợp với việc sử dụng các loại
rau củ quả giàu vitamin B9 như các loại rau có màu xanh đậm (rau cải xanh, rau bina,…),
các loại hạt, các thực phẩm từ sữa, thịt gia cầm, chuối, dưa hấu, hải sản… Axit folic rất
cần thiết cho phụ nữ trong quá trình mang thai. Chúng tham gia vào quá trình tạo máu và
phân chia tế bào. Bên cạnh đó, chúng còn giúp phòng ngừa các dị tật ống thần kinh cho
thai nhi,…
15

b) Thực phẩm chứa sắt và protein
Thực phẩm tốt cho các phụ nữ trước khi mang thai cần chứa nhiều chất sắt và protein bao
gồm các loại thịt có màu đỏ, các loại đậu, cá, các loại hạt và rau xanh. Trong đó, các loại
thịt đỏ là nguồn cung cấp chất sắt tự nhiên tốt nhất, bởi chúng giúp sản sinh ra tế bào
máu, hạn chế chứng thiếu máu khi mang thai, ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.
Các loại rau xanh và hạt có chất chống viêm tự nhiên giúp tăng cường khả năng miễn dịch
của cơ thể.
c) Thực phẩm chứa Omega3
Omega3 (DHA) là chất cần thiết cho sự phát triển trí não của thai nhi. Bạn không cần chờ
đến khi mang thai mới vội vàng bổ sung dưỡng chất này cho cơ thể mà nên bắt đầu ngay
từ khi có kế hoạch sinh con. Tăng cường bổ sung hạt óc chó, hạt dẻ, hạnh nhân trong bữa
ăn hằng ngày để đảm bảo lượng omega 3 cần thiết. Ngoài ra, trong dầu thực vật cũng
chứa nhiều Omega3, vì vậy, bạn có thể sử dụng chúng trong quá trình chế biến thức ăn
hằng ngày.

d) Sữa và thực phẩm giàu canxi
Canxi là dưỡng chất cần thiết trong việc bảo vệ sức khỏe hệ xương của mẹ và hình thành
xương, răng của trẻ sau này. Nếu thiếu canxi, thai nhi sẽ kém phát triển, bị còi xương,…
Vì vậy, bổ sung đủ canxi khi chuẩn bị mang thai sẽ giúp hệ xương mẹ khỏe mạnh, vững
chắc chuẩn bị cho thời gian mang thai sắp đến. Các loại thực phẩm giàu canxi gồm tôm,
cá, các loại đậu (nhất là đậu nành), trứng, súp lơ,…
Bên cạnh đó, việc uống sữa đậu nành sẽ giúp bạn tăng cường một sức khỏe tốt cho quá
trình mang thai sắp tới chứ không hề gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản như nhiều
người vẫn nghĩ đâu nhé! Ngoài sữa đậu nành, các bạn có thể uống sữa bò tươi, sữa dê
tươi,… rất tốt cho sức khỏe.
e) Trái cây và rau xanh
Đối với những người ít ăn trái cây và rau thì khi có kế hoạch chuẩn bị mang thai, bạn nên
tập ăn đi là vừa. Trái cây và rau xanh chứa một lượng lớn vitamin và khoáng chất cần
thiết để duy trì hoạt động khỏe mạnh của cơ thể. Vì vậy, bạn cần duy trì hằng ngày để
mang lại lợi ích tốt nhất cho cơ thể. Ngoài ra, để làm đa dạng và phong phú hơn thực đơn
hàng ngày thay vì ăn rau xanh, trái cây, bạn có thể dùng chúng làm các món nước ép, sinh
tố đều được.

16

1.2.1.2 Chuẩn bị mang thai không nên ăn gì?

Các loại cá có hàm lượng thủy ngân cao: Trước khi mang thai ít nhất 3 tháng, nên hạn chế
sử dụng những loại cá chứa hàm lượng thủy ngân cao như cá kiếm, cá ngừ, cá bơn, cá thu
lớn… Bởi hàm lượng thủy ngân lớn khi vào cơ thể sẽ ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và
gây những dị tật bẩm sinh cho thai nhi sau này.
Thực phẩm đóng hộp, chế biến sẵn: Trong suốt quá trình sản xuất đến chế biến, đóng gói,
vận chuyển cho đến sử dụng, thực phẩm đều có thể bị ô nhiễm các chất và các loại vi
khuẩn làm nguy hại đến sức khỏe của phụ nữ mang thai cũng như sự phát triển của em bé
sau này.
Soda, nước uống có ga, nước ép đóng hộp: Đây chính là những “thủ phạm” làm lượng
đường trong máu tăng cao và ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của bạn.
Rượu, bia và những thức uống có chứa caffein: Thông qua nhau thai, rượu, bia và các
chất kích thích sẽ ảnh hưởng đến thai nhi, làm tăng nguy cơ sảy thai, sinh non đối với mẹ
bầu. Bên cạnh đó, chúng còn là nguyên nhân cản trở quá trình thụ thai. Vì vậy, ngay từ
bây giờ bạn nên cắt giảm rượu để đảm bảo một thai kỳ khỏe mạnh trong tương lai.
Caffein cũng gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản. Theo một số nghiên
cứu, những phụ nữ uống nhiều cà phê mỗi ngày thì khả năng thụ thai sẽ chậm hơn so với
những người bình thường khác. Lượng cà phê tối đa cho những ai muốn sớm được làm
mẹ một ngày là 200 miligram.
1.2.1.3 Một vài lưu ý khi bạn chuẩn bị mang thai, bên cạnh những chuẩn bị về tâm lý và
tài chính, một điều không thể thiếu là sự chuẩn bị về sức khỏe của hai vợ chồng.
a) Sáu tháng trước khi mang thai
Nếu bạn quá gầy hay quá béo thì đây là thời điểm thích hợp để bạn thay đổi chế độ ăn
hàng ngày nhằm đảm bảo cân nặng của mình nằm trong giới hạn chuẩn.
b) Ba tháng trước khi mang thai
Bạn có thể đi tiêm phòng một số bệnh như: cúm, Rubella vì nếu mắc những bệnh này
trong 3 tháng đầu của thai kỳ thì thai nhi có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh rất cao.
Ngoài ra, hãy đảm bảo bạn tiêm vaccin ít nhất trước khi mang thai 1 tháng.
2 tháng trước khi mang thai
Bạn và gia đình nên tẩy giun vì bạn sẽ không thể tẩy giun trong thời gian mang thai . Đặc
biệt cần phải tẩy giun cho toàn bộ gia đình trong cùng một thời gian để đảm bảo không có
sự lây chéo ngược lại.
c) Một tháng trước khi có thai
Bạn hãy bắt đầu uống bổ sung viên Sắt và acid Folic để phòng tránh dị tật ống thần kinh
cho thai nhi. Việc bổ xung Acid folic quan trọng nhất là trước khi mang thai 1 tháng và
17

sau đấy 3 tháng. Và tiếp tục uống acid folic kèm với sắt đến khi sau khi sinh một tháng
(Bạn nên lựa chọn viên sắt có chứa 60mg sắt nguyên tố, và acid folic: 400mcg).
Ngoài ra nên thu xếp đi kiểm tra sức khỏe toàn diện. Bác sĩ sẽ cho bạn làm một số xét
nghiệm sau :
Xét nghiệm công thức máu: Xem bạn có bị mắc các bệnh về máu như: thiếu máu, bất
thường tế bào máu... cũng như cho bạn biết nhóm máu của mình.
Xét nghiệm hóa sinh máu: Xem bạn có bị mắc bệnh tiểu đường,đánh giá chức năng
gan thận cũng như phát hiện các bất thường khác nếu có.
Xét nghiệm nước tiểu: Tìm các yếu tố bất thường trong nước tiểu như : hồng cầu ,
bạch cầu, protein,glucose, vi khuẩn,…
Siêu âm ổ bụng: Đánh giá về hình thái học và phát hiện các bất thường các tạng trong
ổ bụng như: gan, lách, tụy, thận, tử cung, buồng trứng.
Điện tâm đồ: Phát hiện các bệnh về tim như: rối loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim...
Xét nghiệm một số bệnh lây truyền qua đường máu: như Viêm gan B, HIV...
Khám phụ khoa: Phát hiện các yếu tố nguy cơ có thể ảnh hưởng đến việc mang thai
như: Viêm nhiễm đườnh sinh dục, polyp cổ tử cung,..
Khám nha khoa : Rất nhiều bà mẹ vì không coi trọng mà bỏ qua bước khám này. Trên
thực tế, phụ nữ trong quá trình mang thai và sau khi sinh rất dễ mắc các bệnh răng
miệng do phải ăn số lượng nhiều, ăn nhiều bữa. Thao tác đơn giản là lấy cao răng sẽ
giúp các bạn hạn chế được nguy cơ mắc các bệnh: viêm lợi, viêm quanh cuống, abces
răng... vì nếu mắc các bệnh này trong thời kì mang thai hay cho con bú sẽ gây khó
khăn cho việc điều trị.
Ngoài các công việc nói trên, bạn nên chú ý về chế độ dinh dưỡng để chuẩn bị chào đón
một thành viên mới trong gia đình.
1.2.2 Dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai
1.2.2.1 Sự cần thiết phải bồi bổ cho phụ nữ mang thai

Dinh dưỡng của người mẹ là dinh dưỡng của mầm sống mới, bà bầu thiếu dinh dưỡng có
nghĩa là nguồn chất chuyển hóa của bào thai bị thiếu hụt, quá trình sinh trưởng, phát triển
của bào thai sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Việc bồi bổ cũng phải phù hợp với từng giai
đoạn phát triển của thai nhi thì mới đạt hiệu quả cao.
a) Thường chia làm 3 giai đoạn dinh dưỡng : Ở thời kỳ đầu mang thai (giai đoạn 3 tháng đầu).

Thai nhi phát triển tương đối chậm, do vậy nhu cầu về các loại chất dinh dưỡng chỉ cần
18

đáp ứng giống như trước khi mang thai, nghĩa là đủ dinh dưỡng hợp lý cung cấp cho
người mẹ cả về đạm, đường, mỡ và các yếu tố vi lượng như khoáng chất và các vitamin.
b) Ở thời kỳ giữa mang thai ( được 4-7 tháng).

Giai đoạn này thai nhi phát triển mạnh, do đó đòi hỏi nhu cầu về các loại chất dinh dưỡng
tăng lên rất cao. Nếu như không đáp ứng lượng dinh dưỡng cần thiết sẽ xuất hiện nhiều
hiện tượng khó chịu như thiếu máu, chuột rút...
Trong thời kỳ này, người mẹ cần ăn nhiều các thức ăn giàu dinh dưỡng như trứng, thịt
nạc, cá, đậu, sữa, rau xanh và trái cây để tăng cường đạm, đường, các khoáng chất đặc
biệt là canxi, sắt, kẽm, iốt, axit folic, sêlen..., các vitamin đặc biệt là nhóm B, vitamin C,
A, D, E... ăn ít mỡ, nhưng lại cần ăn cá nhiều để dễ hấp thu canxi và axit béo omega-3.
Khi mang thai ở tuần thứ 15, mỗi ngày nên uống 2g canxi để huyết áp luôn giữ ở mức
thấp hơn trung bình trong suốt thai kỳ.
c) Thời kỳ cuối mang thai ( được 8-9 tháng).

Thai nhi phát triển nhanh hơn, song lượng dinh dưỡng cần được tích trữ trong thai nhi

cũng cao nhất ở giai đoạn này. Vì vậy nhu cầu về chất dinh dưỡng trong từng bữa cơm
cũng rất cao, nên người mẹ phải ăn đa dạng thức ăn giàu dinh dưỡng để bảo đảm nhu cầu
phát triển nhanh chóng của thai nhi.

19

Hình 1.1 Chế độ dinh dưỡng thai kì
1.2.3 Các yếu tố khác
1.2.3.1 Độ tuổi sinh con tốt nhất ở phụ nữ

Sinh con là một quyết định quan trọng đối với cả người vợ và người chồng, nó liên quan
đến nhiều yếu tố cần được cân nhắc như điều kiện sức khỏe, kinh tế gia đình, những kiến
thức làm mẹ...
Trong đó độ tuổi thích hợp để sinh con là một vấn đề vô cùng quan trọng. Nếu sinh con
quá sớm (trước 20 tuổi) hoặc sinh con quá muộn (sau 35 tuổi) đều gây nhiều tai biến cho
cả mẹ và thai nhi.
 Các nguy cơ khi sinh con quá sớm.
Nếu sinh con trước 20 tuổi, cơ thể người phụ nữ chưa phát triển hoàn chỉnh, khung chậu
hẹp nên trong quá trình chuyển dạ thường gây đẻ khó, dễ có tai biến cho con (chuyển dạ
lâu thai dễ bị ngạt) và tai biến cho mẹ (tỷ lệ rách đường đẻ cao hơn bình thường vì đường
đẻ hẹp, dẫn đến làm tăng nguy cơ chảy máu.).

20

Những đứa trẻ sinh ra trong khi mẹ mới đang ở độ tuổi vị thành niên thường có tỷ lệ tử
vong và cân nặng thấp dưới 2500g cao hơn những mà mẹ đủ tuổi do nhiều nguyên nhân:
cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn chỉnh, không có kiến thức làm mẹ, không biết cách
hoặc không được chăm sóc khi mang thai khiến quá trình sinh trường và phát triển của
thai nhi bị ảnh hưởng,...
Ngoài ra, nếu sinh con trước 20 tuổi, người mẹ sẽ bị hạn chế khả năng học tập và cơ hội
có nghề nghiệp ổn định, do đó sẽ không có đủ điều kiện tốt nhất để chăm sóc cho trẻ.
Những rủi ro khi sinh con quá muộn
Khi phụ nữ bước sang tuổi 35, sức khỏe cũng như chất lượng của trứng không đảm bảo,
tỷ lệ thụ thai kém hơn khi còn trẻ, độ giãn nở của khung chậu đã bị hạn chế nên việc
mang thai và sinh nở lần đầu có nhiều rủi ro cho cả mẹ lẫn con. Các nguy cơ khi sinh con
muộn thường gặp là: sẩy thai, đẻ non, tiền sản giật, thai lưu, đẻ khó,... Mang thai khi đã
lớn tuổi thì tỷ lệ rối loạn nhiễm sắc thể cao nên tỷ lệ con mắc bệnh đần độn (Down) ở các
bà mẹ này thường cao hơn bình thường. Nguy cơ càng tăng khi tuổi mang thai càng cao.
Độ tuổi phù hợp để sinh con
Người phụ nữ ở độ tuổi từ 22-29 tuổi có sức khỏe sinh sản tốt nhất vì cơ thể đã phát triển
toàn diện, chất lượng trứng cũng ở thời kỳ tốt nhất. Ở độ tuổi này người phụ nữ đã phát
triển đầy đủ về cả tâm - sinh lý cho việc mang thai và làm mẹ. từ độ tuổi 24-29, các điều
kiện về nghề nghiệp, kinh tế gia đình sẽ thuận lợi cho việc chăm sóc sức khỏe khi mang
thai cũng như chăm sóc em bé khi ra đời để trẻ được phát triển toàn diện. Ngoài ra cũng
cần phải chú ý khoảng cách giữa 2 lần sinh để đảm bảo sức khỏe cho người phụ nữ và
chăm sóc tốt con cái. Do đó sau 3 đến 5 năm mẹ mới nên sinh đứa con tiếp theo, khi cơ
thể đã phục hồi hoàn toàn sau lần sinh đẻ trước.
1.2.3.2 Cân nặng

Mức tăng cân của bà bầu theo từng tháng
a) Ba tháng đầu thai kì.
Trong 12 tuần đầu tiên của thai kỳ (từ sau kỳ kinh nguyệt cuối), bạn nên tăng khoảng 450700g mỗi tháng và khoảng 1,5 – 2,5kg trong cả giai đoạn. Bạn cần thêm 200 calo mỗi
21