Tải bản đầy đủ
PHẦNIII. Chương II: Thực trạng thị trường vốn việt nam

PHẦNIII. Chương II: Thực trạng thị trường vốn việt nam

Tải bản đầy đủ

Ngoài số lượng các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính, kế
toán, kiểm toán tham gia cung cấp dịch vụ trên thị trường thì số lượng các
công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ cũng tăng mạnh. Số lượng các
nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào thị trường chứng khoán ngày
càng tăng nhưng những trở ngại cũng như những mặt yếu kém về cơ cấu
vẫn bộc lộ rõ.
Trước hết, về điều hành chưa có sự thống nhất. Các chính sách liên
quan đến thị trường vốn còn chưa nhất quán và phức tạp, bao gồm chính
sách tiền tệ, lãi suất, chính sách tham gia của các ngân hàng, tổ chức tín
dụng vào thị trường vốn, chính sách đầu tư gián tiếp, cải cách doanh
nghiệp và quản trị doanh nghiệp; quản lý nợ công ...
Thứ hai, theo như đánh giá của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài
nước, thị trường vốn Việt Nam có quy mô khiêm tốn, chưa phát triển
tương xứng với nhu cầu tăng trưởng vốn của thị trường cộng thêm
“nghèo” về sản phẩm, công cụ tài chính làm cho việc cung ứng vốn dài
hạn còn gặp nhiều khó khăn, điều này đã gây sức ép cung ứng vốn cho thị
trường tiền tệ, tạo ra rủi ro lớn cho nghành kinh tế
Không chỉ yếu về quy mô, phân phối trong thị trường vốn còn nhiều
điểm bất cân bằng. Thị trường vốn Việt Nam đang thể hiện sự bất cân
xứng. Cụ thể, theo số liệu của TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia ngân hàng,
tại thời điểm cuối tháng 6/2015, tổng tài sản của hệ thống ngân hàng
chiếm 75% tổng tài sản hệ thống tài chính Việt Nam, khối chứng khoán
chiếm 23% và bảo hiểm chiếm 2%.

Thứ ba, thị trường tự do đang thiếu sự kiểm soát của nhà nước và
chiếm thị phần khá lớn. Cổ phiếu của nhiều doanh nghiệp nhà nước đã cổ
phần hóa có quy mô lớn, bất cân đối, lại hoạt động trong những lĩnh vực
nhạy cảm như ngân hàng, truyền thông, điện lực, hàng hải. Các doanh
nghiệp này tự do giao dịch trên thị trường không chính thức, không công
khai minh bạch, tác động tiêu cực tới thị trường có tổ chức và gây ra bất
ổn cho cả hệ thống tài chính.
Thứ tư, sự tham gia ồ ạt của nhiều nhà đầu tư theo phong trào trong khi
nguồn cung lại hạn chế đã làm mất cân đối và cung cầu chứng khoán, đẩy
giá chứng khoán t vượt qua giá trị thực của doanh nghiệp, gây ra tình
trạng nóng trên cả thị trừng vốn.
Thứ năm, hoạt động tín dụng trung – dài hạn của ngân hàng vẫn ở hình
thức truyền thống, không cải tiến. Một khối lượng lớn tải sản còn đang ở
dạng cầm cố, thế chấp vay vốn mà chưa được chứng khoán hóa. Do vậy,
khả năng huy động, thoát vốn và sự liên kết giữa thị trường tiền tệ với thị
trường vốn còn nhiều hạn chế.
Trang 16

Thứ sáu, thị trường vốn tín dụng chính thống còn chịu nhiều ảnh
hưởng của tín dụng “đen” hay còn gọi là tín dụng ngầm. Thực tế cho thấy
rằng thời điểm nào ngân hàng hoạt động tốt thì tín dụng “đen” bị kiềm
chế và ngược lại. Những năm gần đây, một loạt các vụ vỡ nợ lên tới hàng
trăm tỉ đã xảy ra, điển hình có thể nhắc đến như vụ Tạ Việt Quang lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt khoảng 300 tỷ đồng xảy ra tại Đan Phượng
(Hà Nội); vụ Nguyễn Thị Dậu chiếm đoạt khoảng 200 tỷ đồng ở Hà
Đông, vụ Nguyễn Thị Hoàng Hoa, TP. Hồ Chí Minh tuyên bố vỡ nợ rồi
chiếm đoạt đến gần 500 tỷ đồng. Thực tế “tín dụng đen” không chỉ tồn tại
ngoài xã hội mà luôn tìm cách len lỏi vào ngân hàng dưới nhiều hình
thức biến tướng khác nhau. Điều này không chỉ khó khăn cho công tác
đấu tranh chống nạn “tín dụng đen” mà còn gây rủi ro cho chính các
ngân hàng kinh doanh chính thống.
II, Thị trường cho vay thế chấp
1, Thực trạng về vay thế chấp ở nước ta
Việt nam là một nước đang phát triển với quy mô về hệ thống tài chính
còn nhiều hạn chế. Theo luật định, tại khoản 2, Điều 52 Luật các tổ chức
tín dụng năm 1997 quy định: “Tổ chức tín dụng cho vay trên cơ sở có bảo
đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo lãnh của bên
thứ ba; không được cho vay trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu của chính tổ
chức tín dụng cho vay”. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ
chức tín dụng năm 2004 sửa đổi khoản 2 nêu trên như sau: “Tổ chức tín
dụng có quyền xem xét, quyết định cho vay trên cơ sở có bảo đảm hoặc
không có bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo
lãnh của bên thứ ba và chịu trách nhiệm về quyết định của mình…”. Như
vậy, có thể kết luận rằng, trước ngày 01/10/2004, cho vay thế chấp chưa
được thừa nhận trong hệ thống pháp luật về tín dụng, ngân hàng ở nước
ta.
Về lý thuyết, theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004,
các tổ chức tín dụng, ngân hàng đã được trao quyền tự chủ, được quyết
định cho vay thế chấp từ ngày 01/10/2004. Nhưng trên thực tế, cho vay
thế chấp ở nước ta vẫn chưa trở thành hiện thực. Rất ít ngân hàng thương
mại và các tổ chức tín dụng dám quyết định cho vay thế chấp đối với
khách hàng (ngoại trừ việc cho vay đối với các doanh nghiệp Nhà nước).
điều này đã vô hình chung kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp
trong nước cũng như nước ngoài không có đủ vốn kinh doanh, đồng thời
nó cũng hạn chế thu hút đầu tư mới cũng như tái đầu tư trong nhiều lĩnh
vực khác nhau, tiêu biểu có thể kể đến như : bất động sản, các sản phẩm
công nghệ cao đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn... Có thể giải thích sự kém
phát triển trong lĩnh vực cho vay thế chấp theo các nguyên nhân sau:
Một là, thị trường vốn ở nước ta còn nhỏ bé về quy mô. Cạnh tranh
trong hoạt động tín dụng còn chưa gay gắt. Vì vậy, chỉ với hình thức cho
Trang 17

vay có tài sản thế chấp, các ngân hàng và tổ chức tín dụng đã yên tâm và
thu lợi nhuận khá cao. Từ đó, thiết lập các quan hệ để áp dụng hình thức
cho vay tín chấp chưa phải là nhu cầu cấp bách của các ngân hàng và tổ
chức tín dụng.
Hai là, sự tín nhiệm giữa người cho vay và người vay không thể hình
thành ngay trong một sớm, một chiều mà đó là kết quả của một quá trình
trao . Từ cuối năm 2004 đến nay là khoảng thời gian ngắn, chưa đủ để tạo
ra sự tín nhiệm ở mức độ cao có thể cho vay tín chấp.
Ba là, kinh doanh tiền tệ là lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Song, khi
xẩy ra rủi ro trong kinh doanh, phần lớn những vụ thất thoát do không thu
hồi được vốn vay đều bị hình sự hóa. Người cho vay bị truy cứu trách
nhiệm hình sự, bị đi tù và chấm dứt mọi hoạt động kinh doanh, thậm chí
là tan cửa, nát nhà. Do đó, ít có tổng giám đốc ngân hàng dám mạnh dạn
duyệt cho vay tín chấp.
Bốn là, các doanh nghiệp – khách hàng chủ yếu của ngân hàng và các
tổ chức tín dụng cũng chưa thật chú ý đến việc bảo đảm tín nhiệm trong
kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Tình trạng sử dụng
tiền vay không đúng mục đích và nguy hiểm hơn cả là vay ngắn hạn để
đầu tư dài hạn, vay đảo nợ vẫn xẩy ra ở khá nhiều doanh nghiệp. Hơn
nữa, thông tin về tình hình kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp thiếu
minh bạch là nguyên nhân đặc biệt quan trọng dẫn đến các ngân hàng và
tổ chức tín dụng không đủ lòng tin khi cho vay tín chấp.
Theo báo cáo, hiện nay cho vay thế chấp chiếm khoảng 55% tổng dư
nợ, tổng dư nợ cho vay trực tiếp bất động sản vào khoảng 115 nghìn tỷ
đồng, chiếm khoảng 9,5% tổng dự nợ cho vay của các ngân hàng thương
mại.
Thêm vào đó, giá bất động sản Việt Nam sụt giảm cũng không đều.
Những bất động sản nhỏ lẻ trong nội thành chỉ giảm khoảng 20%, còn
những dự án lớn ở ngoại thành thì mức sụt giảm có thể lên tới 35% - 40%.
Đây là một sự khác biệt rõ ràng trong phân khúc thị trường bất động sản,
khó khăn hiện nay của thị trường bất động sản chính là ở những dự án lớn
đó, chứ không phải là những khoản vay tiêu dùng của dân cư, của doanh
nghiệp có thế chấp bằng bất động sản, bởi giá của những khoản vay thế
chấp này không giảm nhiều và thực tế thì nhu cầu về bất động sản của
người dân là vẫn rất cao.
Ngân hàng Nhà nước không có một văn bản nào cấm các ngân hàng
thương mại cho vay bất động sản. Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại
đều có những giải pháp ứng phó khi giá bất động sản xuống thấp, mà biện
pháp đơn giản nhất là tạm ngừng cho vay, thậm chí một số ngân hàng
thương mại còn có cả nghị quyết là ngừng cho vay bất động sản, cho vay
tiêu dùng.
Đây là một điểm hạn chế của các ngân hàng, bởi trong khi Ngân
hàng Nhà nước chưa thay đổi lãi suất cơ bản là 14%( trong khi giới hạn
lãi suất cho vay là 21%) thì cho vay bất động sản, cho vay tiêu dùng với
Trang 18

giới hạn cho vay cao sẽ bù lại được khoản cho vay doanh nghiệp. Điều
này cũng đồng nghĩa với việc sẽ tạo thêm khó khăn cho doanh nghiệp,
còn các ngân hàng sẽ mất đi cơ hội để tái cấu trúc lãi suất theo rủi ro.

III, Thị trường cho thuê tài chính
1, Tổng quan về thị trường
Thị trường cho thuê tài chính ra đời và phát triển ở Việt Nam gần 20
năm ( từ năm 1996 đến nay) với sự ra đời của các công ty cho thuê tài
chính chủ yếu nằm trong sự quản lý của các ngân hàng thương mại lớn ở
nước ta. Nhưng theo như kết quả của một vài bài nghiên cứu đã cho thấy
dịch vụ này không được nhiều doanh nghiệp quan tâm như mong đợi,
điều này đồng nghĩa với việc sự phát triển của các công ty cho thuê tài
chính cũng trở nên khó khăn và đối mặt với tương lai không mấy sáng
sủa.
Cụ thể, theo một cuộc khảo sát 1.000 doanh nghiệp thuộc các ngành
nghề khác nhau cho thấy hơn 70% số doanh nghiệp trả lời rằng họ biết rất
ít và chưa bao giờ tìm hiểu dịch vụ thuê tài chính từ các công ty cho thuê
tài chính; gần 20% hoàn toàn không biết về loại hình dịch vụ tài chính
này, thậm chí có doanh nghiệp còn hiểu cho thuê tài chính như hoạt động
trả góp và không hiểu đây là nghiệp vụ cấp tín dụng, cũng như tính ưu
việt lẫn hiệu quả của nó
Từ khi thị trường chính thức được khởi tạo bằng sự ra đời của công ty
cho thuê tài chính (CTTC) Quốc tế Việt Nam (VILC) vào năm 1996, thì
tính đến thời điểm giữa năm 2015, theo NHNN, cả nước có 11 công ty
CTTC với giấy phép hoạt động còn hiệu lực. Trong số này có 7 công ty là
công ty con của các NHTM, 3 công ty 100% vốn nước ngoài và 1 công ty
trực thuộc tập đoàn Vinashin, nhưng hiện chỉ có 5 công ty cho thuê tài
chính còn hoạt động. Đó là công ty con của các ngân hàng: VietinBank,
Vietcombank, BIDV, ACB và Sacombank.
Theo thống kê của Hiệp hội CTTC Việt Nam (VILEA), trong tổng số 8
thành viên của Hiệp hội thì tính đến hết năm 2014, 4/8 công ty CTTC
hoạt động có hiệu quả và không có lỗ luỹ kế là: VietinBank Leasing,
Vietcombank Leasing, ACB Leasing và Sacombank Leasing. Các công ty
CTTC trong diện tái cơ cấu gồm: Vinashin Leasing, Agribank Leasing I
và Agribank Leasing II.
Hầu hết các công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam hiện đang hoạt
động tại hai trung tâm phát triển nhất đất nước là TP. Hồ Chí Minh và Hà
Nội. Các công ty này thuộc khối công ty con của NHTM tận dụng hệ
thống, mạng lưới và uy tín của ngân hàng mẹ để mở rộng phạm vi thông
Trang 19

qua uỷ thác đến các chi nhánh ngân hàng; nhận hỗ trợ hoạt động về vốn,
chiến lược kinh doanh và đôi khi là cả nguồn nhân lực từ ngân hàng mẹ.
Dễ thấy, các công ty CTTC phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn vốn và sự
phát triển mạng lưới của ngân hàng mẹ, phần lớn các công ty CTTC hiện
nay chủ yếu có mức vốn điều lệ chỉ trên 200 tỷ đồng, cao nhất là công ty
CTTC Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank Leasing) đứng đầu
hệ thống với mức vốn điều lệ 800 tỷ đồng.

Tổng tài sản có

Vốn tự có

Tỷ lệ an
toàn vốn
tối thiểu

Tỷ lệ cấp
tín dụng
so với
nguồn
vốn huy
động

3.35%

237.86%

Chi tiêu

Công ty
cho thuê
tài chính

Số tuyệt
đối

Tốc đột
tang
trưởng

Số tuyệt
đối

Tốc độ
tang
trưởng

62.985

-3.8%

2.22

-16.97

Nguồn : NHNN
Xét trường hợp của BIDV, Tại Đại hội đồng cổ đông năm 2015 mới
đây, BIDV đã chốt kế hoạch thành lập công ty tài chính tiêu dùng. Một
trong những phương án mà HĐQT đưa ra là chuyển đổi hoạt động công ty
cho thuê tài chính hiện có thành công ty tài chính tiêu dùng BIDV. Theo
nguồn tin của phóng viên Báo Đầu tư, dù là ngân hàng lớn, song thương
hiệu BIDV cũng không giúp được Công ty Cho thuê tài chính BIDV
(BLC) tránh khỏi nhiều năm thua lỗ. Lợi nhuận năm 2014 chưa được cập
nhật, song năm 2012, BLC lỗ tới 219 tỷ đồng. Năm 2013, BLC lãi vỏn
vẹn 27 tỷ đồng, thấp nhất trong số các công ty cho thuê tài chính đang
hoạt động có lãi trên thị trường.
Tương tự, ACB cũng vừa trình cổ đông thông qua việc thành lập công
ty tài chính với vốn điều lệ khoảng 500 tỷ đồng. Dự kiến, sau khi được
cấp phép thành lập, ACB sẽ xin phép Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sáp
nhập ACB Leasing vào Công ty Tài chính ACB. Hiện ACB Leasing vẫn
làm ăn có lãi, song lợi nhuận hầu như không tăng (từ 71 tỷ đồng năm
2012, xuống còn 69 tỷ đồng năm 2013). Dự kiến, sau khi thành lập công
ty tài chính ACB và sáp nhập ACB Leasing, lợi nhuận năm đầu của Công
ty là 69,4 tỷ đồng.
Trang 20

Như vậy, trong khi các công ty tài chính tiêu dùng đang phất lên với
“đặc quyền” cho vay tiêu dùng (tới đây, các ngân hàng cho vay tiêu dùng
phải thông qua công ty tài chính), thì ở chiều ngược lại, các công ty cho
thuê tài chính lại ngày càng gặp nhiều khó khăn. Đa số các công ty cho
thuê tài chính còn lại đều chung số phận: thua lỗ, hầu như phải ngừng
hoạt động để tập trung thu hồi nợ xấu, hoặc âm thầm đóng cửa. Có thể kể
tên một số doanh nghiệp rơi vào tình trạng này, như Công ty Cho thuê tài
chính Công nghiệp Tàu thủy Vinashin, ANZ - V/TRAC, Kexim…
Xét trường hợp của Vietcombank, trong những năm trở lại đây,
Vietcombank Leasing liên tục có những bước bứt phá ngoạn mục, từ chỗ
kinh doanh thua lỗ 13 tỷ đồng, nợ xấu cao gần 20% năm 2007, đến hết
năm 2012, lợi nhuận trước thuế của công ty đã tới 63,9 tỷ đồng, nợ xấu
giảm xuống còn trên 4%, tổng tài sản 1.651 tỷ đồng, tổng dư nợ cho thuê
tài chính 1.346 tỷ đồng...Vietcombank Leasing đã có trên 400 khách hàng,
trong đó nhiều khách hàng có thương hiệu lớn, uy tín như: Tập đoàn Công
nghiệp Than- khoáng sản Việt Nam, Công ty thực phẩm Hữu Nghị, Công
ty thép Nhật Quang, Công ty nền móng và công trình ngầm- FECON,
Công ty CP tập đoàn Hoa Sen, Công ty đầu tư Thái Bình, Công ty
Hyundai Aluminum Vina 100% vốn Hàn Quốc... Đây là một trong số ít
các công ty CTTC ở nước ta có chiến lược hoạt động thành công và thu
về lợi nhuận cao. Tuy nhiên, hoạt động cho thuê tài chính ở nước ta tiềm
ẩn rủi ro rất cao, vì hàng lang pháp lý còn lỏng lẻo. Hiện rất nhiều doanh
nghiệp sau khi thuê tài sản của các công ty cho thuê tài chính đã tẩu tán
tài sản hoặc chần chừ không muốn trả lại tài sản, chiếm giữ tài sản trái
phép hoặc trả lại trong tình trạng tài sản hư hỏng nặng. Chưa kể, huy động
vốn cũng đang là bài toán khó với các công ty cho thuê tài chính hiện nay.
Tổng dư nợ và tài sản có của loại hình này đang ngày càng giảm. Đặc
biệt, giá trị vốn tự do đang suy giảm trầm trọng, và có những công ty đã
âm vốn chủ sở hữu với số tiền khá lớn. điều này thể hiện rõ sự yếu kém
trong cách quản lý cũng như việc xem xét đầu tư không mấy hiệu quả vào
các dự án không mấy tiềm năng gây thất thoát lượng vốn lớn của nhà đầu

IV, Thị trường chứng khoán
1, định hướng phát triển
Nước ta là một nước đang phát triển có tiềm năng kinh tế lớn, thu hút
nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, cùng với đó là sự phất lên mạnh mẽ
của thị trường chứng khoán trong thời gian vừa qua, tuy nhiên, cơ hội
phát triển luôn đồng hành cùng với những thách thức.Vì vậy, mục tiêu của
thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam trong giai đoạn tới được đặt ra
như sau:
 Một là, phát triển TTCK đồng bộ, toàn diện, hoạt động hiệu quả,
vận hành an toàn, lành mạnh, vừa góp phần huy động vốn cho
đầu tư phát triển của xã hội vừa tạo ra những cơ hội đầu tư sinh
lợi, góp phần nâng cao mức sống và an sinh xã hội.
Trang 21

 Hai là, phát triển TTCK phải dựa trên chuẩn mực chung của thị
trường và các thông lệ quốc tế tốt nhất, phù hợp với điều kiện
thực tế và định hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước,
tích cực hội nhập với thị trường tài chính khu vực và quốc tế.
 Ba là, phát triển TTCK nhiều cấp độ, bảo đảm chứng khoán
được tổ chức giao dịch theo nguyên tắc thị trường, có sự quản
lý, giám sát của Nhà nước; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và
có chính sách khuyến khích các chủ thể tham gia thị trường
chứng khoán.
 Bốn là, đa dạng hóa các sản phẩm, nghiệp vụ của thị trường,
đảm bảo cho các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán hoạt
động an toàn, hiệu quả dựa trên nền tảng quản trị rủi ro và phù
hợp với các chuẩn mực chung và thông lệ quốc tế. Từng bước
tái cơ cấu hệ thống các trung gian thị trường trên nguyên tắc
không gây xáo trộn lớn và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của các thành viên thị trường.
 Năm là, phát triển TTCK trong mối tương quan với việc phát
triển thị trường tiền tệ, thị trường bảo hiểm, nhằm tạo ra một hệ
thống thị trường tài chính thống nhất, đồng bộ có sự quản lý,
giám sát của nhà nước. Hoạt động quản lý, giám sát, điều hành
và phát triển của các cơ quan quản lý nhà nước phải thống nhất
về mục tiêu, mục đích, định hướng và giải pháp thực hiện.
 Sáu là, chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế, nâng cao
khả năng cạnh tranh, từng bước thu hẹp về khoảng cách phát
triển giữa TTCK Việt Nam so với các thị trường khác trong khu
vực và trên thế giới.
2, Tình hình thị trườngchứng khoán việt nam năm 2015
a, Tình hình thị trường chứng khoán việt nam năm 2015
Tính hết năm 2015, vốn hóa thị trường đạt hơn 1298,53 nghìn tỷ đồng.
Trong đó, vốn hóa trên sàn TP.HCM (HOSE) đạt 1.146,9 nghìn tỷ đồng,
vốn hóa trên sàn Hà nội(HNX) đạt hơn 151,6 nghìn tỷ đồng. Năm 2015,
tổng khối lượng giao dịch trên thị trường đạt gần 39,7 tỷ cổ phiếu, tương
ứng giá trị giao dịch đạt hơn 617 nghìn tỷ đồng, giảm 16,3% về khối
lượng và 15,8% về giá trị giao dịch của năm 2014.
Trên sàn HOSE, VN-Index tăng 4,13% so với cuối năm trước tổng
khối lượng giao dịch đạt hơn 28 tỷ cổ phiếu (giảm 7,6% so với năm
2014), tương ứng giá trị giao dịch đạt trên 482 nghìn tỷ đồng (giảm 9,6%
so với năm 2014).
giá trị giao dịch cũng giảm 32,3% xuống mức hơn 135 nghìn tỷ
đồng.Trên sàn HNX, chiều ngược lại được chứng kiến khi HN-Index
giảm 4,62% so với thời điểm cuối năm 2014 tổng khối lượng giao dịch
trong năm 2015 đạt trên 11,55 tỷ cổ phiếu (giảm mạnh 32% so với năm
2014), tổng
Trang 22

Diễn biến trên TTCK trong năm 2015 có thể chia làm 3 giai đoạn
chính: từ đầu năm đến giữa tháng 5, từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 8 và
từ cuối tháng 8 tới tháng 12.
Gia đoạn đầu, thị trường đã có những phiên tăng điểm hết sức ấn
tượng, giúp VN-Index và HNX-Index liên tục tạo đỉnh trong đầu năm
2015. Dấu ấn rõ nét nhất đến từ các cổ phiếu ngành ngân hàng. Bên cạnh
đó, nhóm các cổ phiếu dầu khí, nổi bật là GAS và PVD, cũng tăng mạnh
sau đợt giảm sâu khi các thông tin về giá dầu thế giới đã trở nên bão hòa.
Tuy nhiên, khi bước sang tháng 3, xu hướng thị trường lại khá tiêu cực
khi thiếu vắng các thông tin hỗ trợ, đánh mất hoàn toàn những nỗ lực
phục hồi trước đó, khiến cho xu hướng giảm kéo dài đến giữa tháng 5,
kéo thị trường về lại mốc đầu năm.
Giai đoạn thứ hai, với sự dẫn dắt của nhóm cổ phiếu Ngân hàng, tiếp
đến là nhóm cổ phiếu Dầu khí, thị trường đã quay trở lại xu hướng tăng
điểm. Đà tăng được duy trì và nhanh chóng mở rộng ra toàn thị trường khi
các nhóm cổ phiếu dẫn dắt luân phiên nhau tăng điểm. VN-Index đạt mốc
cao nhất trong năm 2015 với 638,69 điểm vào ngày 14/7/2015. Bước sang
tháng 8, những tác động từ việc Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ đã
ảnh hưởng mạnh đến tâm lý các nhà đầu tư, khiến thị trường hoàn toàn
sụp đổ khi VN-Index đánh mất hơn 10% so với mốc cao nhất đạt được
trong tháng 7 (tương ứng với hơn 65 điểm). Con số sụt giảm trên sàn Hà
Nội thậm chí còn nặng nề hơn khi HNX-Index mất gần 12% so với điểm
số cao nhất đạt được trong tháng 7 (tương ứng hơn 10 điểm).
Giai đoạn thứ ba, những tác động tích cực từ kết quả kinh doanh quý
III cùng với việc hiệp định TPP đã kết thúc đàm phán giúp thị trường dần
lấy lại được điểm số. Tuy nhiên, sự phục hồi của hai sàn vẫn còn khá thấp
so với mức cao nhất mà thị trường đạt được vào giữa tháng 7. Điểm sáng
nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2015 là việc khối
ngoại đẩy mạnh việc mua ròng 7/12 tháng trên cả HOSE và HNX, ngay
cả khi thị trường giảm điểm thì sức mua của khối ngoại vẫn là rất lớn.
Đây là dòng tiền có tác động không nhỏ đến xu hướng của thị trường.
3, Tình hình thị trường chứng khoán việt nam nửa đầu 2016
Trong 8 tháng đầu năm, mặc dù chịu nhiều tác động bởi tình hình
thế giới, TTCK Việt Nam vẫn đã hồi phục nhanh chóng và duy trì được
tốc độ tăng trưởng khá. Chỉ số VNIndex đã đạt mức đỉnh trong 8 năm trở
lại đây (kể từ tháng 3/2008), thanh khoản tăng mạnh, mức vốn hóa thị
trường đạt mức cao nhất trong 6 năm trở lại đây. TTCK Việt Nam được
đánh giá là 1 trong 05 thị trường thế giới có mức tăng trưởng cao nhất và
có mức sinh lời lớn nhất trong quý II/2016 tại khu vực Đông Nam Á. 8
tháng đầu năm 2016, TTCK đã đạt được những kết quả nhất định.
a, Về tình hình thị trường:
Tính đến ngày 23/8, chỉ số VN-Index đã tăng 13,8%, HNX-Index tăng
4% so với cuối năm 2015; Mức vốn hóa thị trường đạt 1.590 nghìn tỷ
đồng, tương đương 38% GDP (tăng 17% so với cuối năm 2015). Thanh
Trang 23

khoản thị trường tăng mạnh, giao dịch bình quân 1 phiên đạt gần 6.200 tỷ
đồng, tăng 25% so với năm trước; trong đó giao dịch trái phiếu Chính phủ
tăng 34%; giao dịch cổ phiếu tăng 16% so với năm trước.
b, Về tình hình huy động vốn, đấu giá:
Huy động vốn 7 tháng đầu năm đạt gần 254,5 nghìn tỷ đồng, ước tăng
81%. Đấu giá CPH cho 58 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với tổng giá
trị đạt 5.291 tỷ đồng, tăng 75% so với cùng kỳ năm trước; 21 đợt đấu giá
thoái vốn Nhà nước với tổng giá trị 1.899 tỷ đồng, tăng 112%.
c, Về hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài:
Trong 6 tháng đầu năm nay, dòng vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt
Nam là 722 triệu USD, tăng 3,5 lần so với cùng kỳ năm 2015. Giá trị
danh mục của nhà đầu tư nước ngoài đạt trên 16 tỷ USD - mức cao nhất
từ trước đến nay.
d, Về thị trường trái phiếu:
Để phát triển thị trường TPDN, UBCKNN đang phối hợp xây dựng
khung pháp lý cho TPDN (2016-2017) và triển khai hoàn chỉnh hạ tầng
thị trường giao dịch, hỗ trợ thanh khoản, thông tin thị trường. Đối với thị
trường TPCP, UBCKNN cũng đang phối hợp NHNN triển khai đề án
chuyển chức năng thanh toán tiền trái phiếu Chính phủ từ ngân hàng
thương mại sang Ngân hàng Nhà nước.
e, Về thị trường Upcom:
Quy mô tăng nhanh, đã tăng gấp 10 lần so với 2009 (303 DN) do vậy
đã thực hiện phân bảng trên Upcom, rà soát lại theo hướng thắt chặt điều
kiện được đăng ký giao dịch trên Upcom.
f, Về công tác nâng hạng thị trường:
Hiện nay, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cũng đang triển khai các
giải pháp để nâng hạng thị trường. Về cơ bản đã tháo gỡ 1 số tiêu chí
quan trọng như: nới room; đơn giản hóa thủ tục đăng ký, mở tài khoản
cho nhà đầu tư nước ngoài, ...
g, Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam năm
2016
 Chính sách của Nhà nước
Thông tư 07/2016/TT-BTC (được Bộ Tài chính ban hành ngày
18/1/2016 nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 210/2012/TTBTC theo hướng siết chặt hơn hoạt động của các Công ty Chứng khoán,
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2016), việc không cho phép các
Công ty Chứng khoán sử dụng tiền, tài sản của công ty hoặc khách hàng
để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho bên thứ ba có thể gây ảnh hưởng đến
dòng tiền cho vay hoạt động bên lề đối với các mã nằm ngoài hoặc cao
hơn tỷ lệ quy định trong danh mục cho vay của Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước (UBCKNN).
 Xu hướng biến động theo chiều tăng lên của lãi suất ngân hàng
Đây là xu hướng khó tránh khỏi trong năm 2016 do nhiều nguyên nhân
(áp lực phát hành trái phiếu Chính phủ và lạm phát quay trở lại, sự phục
Trang 24

hồi của giá dầu và đà đi lên của giá lượng thực, thực phẩm...) và đây
chính là thông tin tương đối tiêu cực đối với TTCK. Nguyên nhân: lãi suất
huy động tăng sẽ kéo dòng tiền từ TTCK chảy vào kênh tiền gửi tiết kiệm,
lãi suất cho vay tăng cũng khiến chi phí tài chính các DN chịu ảnh
hưởng…Nếu lãi suất cho vay tăng 1% thì TTCK sẽ mất hơn 20 điểm
nhưng với độ trễ trung bình là 3 tháng.
“Mặc dù về tổng thể TTCK Việt Nam giảm điểm nhẹ trong quý 1, tuy
nhiên xu hướng hồi phục đã quay trở lại kể từ nửa cuối tháng 1 cho đến
nay và nhịp tăng chỉ chững lại khi chỉ số VN-Index tiệm cận ngưỡng 580
điểm. Đây là vùng điểm trung bình của năm 2015 nên có ý nghĩa kháng
cự khá mạnh, khiến thị trường xảy ra các phiên điều chỉnh mạnh.
Mặc dù vậy, với cơ hội mở rộng đà hồi phục của giá dầu, sự trì hoãn
trong quyết định tăng lãi suất của FED và những tác động có độ trễ trong
xu hướng tăng lãi suất của các ngân hàng thương mại, hoặc ở phạm vi hẹp
của Thông tư 07, thị trường được kỳ vọng sẽ tiếp tục có nhịp tăng điểm,
vượt đỉnh quý 1/2016 thành công, hướng tới vùng đích kỳ vọng kế tiếp
trên 600 điểm trong nửa đầu quý II trước khi có thể đảo chiều điều chỉnh
vào nửa sau của quý”.
 Giá dầu trong nước và quốc tế
Giá dầu thô có thể sẽ tiếp tục chi phối thị trường tài chính toàn cầu nói
chung và TTCK Việt Nam nói riêng trong các quý tiếp theo. Còn riêng
trong quý 2, giá dầu thô thế giới sẽ chịu ảnh hưởng bởi 2 yếu tố chính.
Về cung, đó là cuộc họp giữa các nước xuất khẩu dầu lớn trên thế giới
sẽ diễn ra tại Doha (Qatar) vào ngày 17/4 tới nhằm kiềm chế sản lượng để
giảm bớt tình trạng mất cân đối cung cầu.
Về cầu, sức tiêu thụ dầu trên thế giới được nhận định sẽ giảm bởi sự
sụt giảm tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc do nước này chiếm tới 15%
quy mô toàn cầu. Dự đoán giá dầu sắp tới, nhiều khả năng giá dầu sẽ hồi
phục nhẹ lên vùng quanh 45 USD/bbl hoặc tiếp tục giằng co điều chỉnh
cho đến khi có thêm động thái mới của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu
mỏ (OPEC).
 Chính sách tiền tệ của Hoa Kỳ
Biên bản cuộc họp được công bố vào ngày 6/4/2016 của Cục Dự trữ
Liên bang Mỹ (FED) cho thấy sẽ chỉ có 2 lần nâng lãi suất diễn ra trong
năm 2016. Và lần gần nhất nhiều khả năng sẽ diễn ra vào kỳ họp tháng 6
thay vì kỳ họp ngày 27/4 do FED lo ngại các mục tiêu kinh tế Mỹ có thể
ảnh hưởng, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hồi phục yếu. Bên cạnh đó,
đợt tăng lãi suất của FED trong tháng 12 vừa qua cũng đã tác động mạnh
đến TTCK toàn cầu cũng là yếu tố khiến FED phải cân nhắc kỹ lưỡng và
áp dụng chính sách tiền tệ ôn hòa để kịch bản trên không lặp lại. Với dự
đoán về chính sách tiền tệ ôn hòa của FED, BVSC cho rằng đồng USD
nhiều khả năng sẽ nằm trong xu hướng giảm vào giai đoạn đầu quý 2, qua
đó hỗ trợ cho giá hàng hóa và TTCK. Mặc dù vậy, xu hướng có thể bị đảo
ngược vào nửa sau của quý khi mà sự chú ý của thị trường tập trung vào
Trang 25

đợt tăng lãi suất thứ 2 của FED. Giống như đợt tăng lãi suất đầu tiên vào
tháng 12, ngay cả khi thị trường được chuẩn bị tâm lý từ trước, mức độ
ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK toàn cầu trong ngắn hạn có thể vẫn khá
lớn.
4, Tình hình thị trường trái phiếu Việt Nam
Việt Nam là một nền kinh tế non trẻ vẫn đang tiếp tục phát triển, song
song với đó là sự vươn lên của thị trường trái phiếu, nhưng bên cạnh đó
vẫn còn tồn tại những điểm yếu cần được cải thiện trong những năm tới
đây.
Nhận định về tình hình chung, thông qua các số liệu và những phân
tích, nhóm nghiên cứu có những nhận xét về thị trường trái phiếu VIệt
Nam hiện tại có những thực trạng hiện tại là:
• Thị trường trái phiếu phát triển làm cho thị trường vốn hoàn
thiện và đa dạng hơn.
Thị trường TPCP phát triển đang góp phần giúp Chính phủ
thực hiện chính sách tiền tệ
• Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam còn khiêm tốn
• Sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường trái phiếu nhưng
khập khiễng và chứa đựng nhiều nguy cơ
• Thị trường trái phiếu Việt Nam với nguy cơ rủi ro kỳ hạn
• Cơ sở nhà đầu tư ít, chủ yếu là ngân hàng, và chưa có nhà tạo
lập thị trường.

a, Thị trường trái phiếu phát triển làm cho thị trường vốn hoàn thiện
và đa dạng hơn.
Là một thành phần của thị trường vốn, thị trường trái phiếu giúp người
đầu tư dễ dàng tiếp cận với những nguồn vốn nhàn dỗi trong xã hội.
Nguồn tiền có thể di chuyển từ nơi ít có nhu cầu sử dụng đến nơi có nhu
cầu sử dụng cao hơn. Bên cạnh những thị trường như thị trường cổ phiểu,
thị trường tín dụng hay vốn nước ngoài,...thì thị trường trái phiếu là một
công cụ rất có ích đối với nền kinh tế nói chung và thị trường vốn nói
riêng.
Thị trường trái phiếu có quy mô và độ sâu để hỗ trợ tốt hơn nhu cầu
vốn đầu tư dài hạn trong nền kinh tế, góp phần tạo ra một cấu trúc thị
trường vững chắc mà nó dựa trên cơ sở cân đối giữa thị trường vay nợ
ngân hàng, thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu trong tương lai.
Thị trường trái phiếu thúc đẩy sự phát triển bền vững, ổn định của thị
trường vốn.
Huy động vốn qua loại hình trái phiếu sẽ làm giảm sự tập trung vào hệ
thống ngân hàng. Đặc biệt là thị trường trái phiếu công ty vừa có thể huy
động được nguồn vốn dồi dào từ xã hội vừa góp phần thúc đẩy sự tăng
trưởng kinh tế xã hội. Nếu trước đây doanh nghiệp chỉ có nguồn vay duy
Trang 26