Tải bản đầy đủ
PHẦNII. Chương I. Tổng quan về thị trường vốn Việt Nam

PHẦNII. Chương I. Tổng quan về thị trường vốn Việt Nam

Tải bản đầy đủ

Thị trường tài chính hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển
của nền kinh tế thị trường. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm
xuất hiện những chủ thể cần nguồn tài chính và những người có khả năng
cung ứng nguồn tài chính. Khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển
thì các hoạt động về phát hành và mua bán lại các chứng khoán cũng phát
triển, hình thành một thị trường riêng nhằm làm cho cung cầu nguồn tài
chính gặp nhau dễ dàng và thuận lợi hơn, đó là thị trường tài chính.
1. Cấu trúc
1.1 Thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn ( dưới 1 năm ) , nơi diễn
ra các hoạt động của cung và cầu về vốn ngắn hạn. Vốn ngắn hạn bao
gồm cả giấy tờ có giá ngắn hạn, có kỳ hạn tức là mua bán những món nợ
ngắn hạn rủi ro thấp, tính thanh khoản cao. Thị trường tiền tệ diễn ra chủ
yếu thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng, vì các ngân hàng là chủ
thể quan trọng nhất trong việc cung cấp và sử dụng vốn ngắn hạn.
Thị trường tiền tệ là thị trường phi tập trung tại các phòng kinh doanh
của các ngân hàng và các công cụ kinh doanh đầu tư chuyên nghiệp thông
qua mạng lưới điện thoại, internet rộng lớn. Các nghiệp vụ trên thị trường
tiền tệ là nghiệp vụ chuyển giao vốn có khả năng thanh toán cao, ít xảy ra
rủi ro đối với người đầu tư.
Thị trường tiền tệ là nơi mua bán các loại chứng từ có giá ngắn hạn,
nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của nền kinh tế.
1.2 Thị trường vốn
Là thị trường diễn ra việc mua bán các chứng khoán dài hạn như cổ
phiếu, trái phiếu. Thị trường vốn được phân thành ba bộ phận là thị
trường cho thuê tài chính, các khoản cho vay thế chấp và chứng
khoán.Thị Trường Vốn là một thị trường nơi các tài sản tài chính có kỳ
hạn dài hoặc vô thời hạn. Không giống như các công cụ của thị trường
tiền tệ, công cụ của thị trường vốn đáo hạn trong khoảng thời gian trên
một năm. Thị Trường Vốn là một sự sắp xếp theo thể chế để vay và cho
vay tiền trong một khoảng thời gian dài hơn, bao gồm các tổ chức tài
chính. Các tổ chức này đóng vai trò bên cho vay còn các đơn vị kinh
doanh và tập đoàn là các bên đi vay trên thị trường vốn. Thị trường này
bao hàm nhiều công cụ khác nhau có thể được sử dụng cho các giao dịch
tài chính. Nó cung cấp nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu tài chính cho Chính
phủ và các doanh nghiệp.
2. Chức năng, vai trò thị trường tài chính
2.1 Chức năng
❖ Chức năng dẫn nguồn tài chính từ những chủ thể có khả năng
cung ứng nguồn tài chính đến những chủ thể cần nguồn tài chính:
○ Thị trường tài chính đóng vai trò là kênh dẫn vốn từ người
tiết kiệm đến người kinh doanh. Giúp cho việc chuyển vốn từ người
không có cơ hội đầu tư sinh lợi đến những người có cơ hội đầu tư sinh lợi.
Trang 5

Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền
vốn để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, sản xuất kinh
doanh.
○ Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả
hơn, không chỉ đối với người có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền
để đầu tư. Người cho vay sẽ có lãi thông qua lãi suất cho vay. Người đi
vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu quả nhất do họ phải hoàn
trả cả vốn và lãi cho người cho vay đồng thời phải tạo thu nhập và tích lũy
cho chính bản thân mình.
○ Thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực
hiện các chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ thông qua các
hình thức như phát hành trái phiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, thu hút
vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh trong nước.
○ Thị trường tài chính cho phép sử dụng các chứng từ có giá,
bán cổ phiếu, trái phiếu, đổi tiền.
❖ Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng
khoán;
❖ Chức năng cung cấp thông tin kinh tế và đánh giá giá trị của
doanh nghiệp.


Trang 6

2.2 Vai trò
❖ Thị trường tài chính thu hút, huy động các nguồn tài chính trong và ngoài
nước, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư;
❖ Thị trường tài chính góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài
chính;
❖ Thị trường tài chính thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của
nhà nước.
2.

II. Thị trường vốn
1. Khái niệm
1.1 Khái niệm vốn và phân loại.
Cùng với sự phát triển chung của kinh tế, vốn là một trong những khái
niệm không thể tách rời, chúng có lịch sử hình thành và phát triển cùng
với chiều dài của sự phát triển chung giữa các nhóm ngành và thường
xuyên được nhắc tới. Vậy vốn là gì?
Hiện nay có khá nhiều khái niệm về vốn, cụ thể cần chia vốn theo hai
hướng: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
· Theo nghĩa hẹp: Vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, tổ
chức, mỗi doanh nghiệp hay mỗi quốc gia.
Ví dụ: Bạn đang có 1 triệu trong tay đó là vốn, doanh nghiệp của bạn
đang có 1 tỷ đó là vốn, quốc gia bạn đang sinh sống có nguồn ngân sách 1
tỷ đô đó là vốn.
· Theo nghĩa rộng: Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố
trí để sản xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình và
các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích lũy, sự khéo
léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội
ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp.
Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu
quả của vốn trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, việc xác định vốn
theo quan điểm này rất khó khan phức tạp nhất là khi nước ta trình độ
quản lý kinh tế còn chưa cao và pháp luật chưa hoàn chỉnh.
· Theo quan điểm của Mác: Vốn (tư bản) không phải là vật, là tư
liệu sản xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn. Tư bản là giá trị mang lại
giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê. Để tiến hành sản
xuất, nhà tư bản ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là
tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác
nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Mác chia tư bản thành tư bản bất
biến và tư bản khả biến. Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới
hình thức tư liệu sản xuất( máy móc, thiết bị, nhà xưởng..) mà giá trị của
nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm. Còn tư bản khả biến là bộ
phận tư bản tồn tại dưới hình thức lao động, trong quá trình sản xuất thay
đổi về lượng, tăng lên do sức lao động của hàng hóa tăng.
· Theo David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused: Vốn hiện
vật là giá trị của hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hóa và
Trang 7

dịch vụ khác. Ngoài ra còn có vốn tài chính. Bản thân vốn là một hàng
hóa nhưng được trực tiếp sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu
hiện của vốn, nhưng hạn chế cơ bản là chưa cho thấy mục đích của việc
sử dụng vốn.
❖ Phân loại vốn
1.1.1 Theo ý nghĩa của vốn, vốn sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp xây dựng gồm:
Vốn pháp định: là vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do
pháp luật quy định.
Vốn điều lệ: là số vốn ghi trong điều lệ cho từng loại nghề của doanh
nghiệp khi thành lập, khi bố cáo thành lập do các chủ sở hữu góp.
Vốn huy động: là số vốn do doanh nghiệp ( nhà nước) huy động dưới
các hình thức phát hành trái phiếu, nhận vốn liên kết, vay các tổ chức cá
nhân để kinh doanh.
1.1.2 Theo tính chất hoạt động, vốn sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp xây dựng gồm:
-Vốn ở dạng hiện vật
-Vốn ở dạng tiền
-Vốn ở dạng khác (ngân phiếu, nhãn hiệu, thông tin…)
1.1.3 Theo tính chất hoạt động và nghĩa hẹp thì số vốn sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng bao gồm hai bộ phận chính:
vốn cố định và vốn lưu động
● Vốn cố định:
Để hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có vốn. Với
doanh nghiệp xây dựng, vốn dung vào sản xuất kinh doanh gọi là vốn sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng. Theo nghĩa rộng, vốn của
doanh nghiệp bao gồm tất cả các yếu tố phục vụ sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nhờ vốn cố định, vốn lưu động, nhân lực, thông tin các bí
quyết công nghệ. Có thể nói , vốn là tài nguyên của doanh nghiệp. Vốn
trong doanh nghiệp được chia làm hai loại vốn cố định và vốn lưu động.
● · Khái niệm vốn cố định:
Là một bộ phận của vốn sản xuất, là số vốn ứng trước để mua sắm, xây
dựng các tài sản cố định nên quy mô vốn cố định lớn hay bé hoàn toàn
phụ thuộc vào quy mô của tài sản cố định. Ngược lại, quy mô của tài sản
cố định doanh nghiệp xây dựng lại phụ thuộc đặc thì loại hình sản xuất,
tính chất cảu dây truyền công nghệ và trình độ trang bị kỹ thuật của doanh
nghiệp. Trong ngành xây dựng, quy mô vốn cố định của các doanh nghiệp
rất khác nhau nên trong nền kinh tế thị trường và trong điều kiện khoa học
kỹ thuật phát triển thì doanh nghiệp nào có vốn cố định lớn thường có quy
mô và năng lực sản xuất lớn, kinh tế hiện đại. Với một nguồn vốn xây
dựng tìm ra cách sử dụng để đạt hiệu quả tối ưu là mục tiêu mà doanh
nghiệp nào cũng tìm cách đạt đến.
Trang 8

Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Vì vậy, đặc
điểm của vốn cố định phụ thuộc đặc điểm của tài sản cố định. Đó là vốn
cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Về số lượng ( số tài
sản cố định) không đổi, nhưng về mặt giá trị, vốn cố định được dịch
duyển dần vào trong giá thành sản phẩm mà vốn cố định đó sản xuất ra.
Thông qua hình thức khấu hao mòn tài sản cố định, giá trị dịch chuyển
dần đó tương ứng với mức độ hao mòn thực tế của tài sản cố định.

Trang 9

Phân loại vốn cố định
Cách phân loại và nhận biết vốn cố định cũng là cách phân loại và
nhận biết tài sản cố định vì vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản
cố định.
❖ Phân loại theo tính chất tài sản cố định:
➔ Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh
nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu
chuẩn ghi nhận tài sản cố định do Bộ tài chính quy định. Đó là loại tài sản tham
gia nhiều lần vào quy trình sản xuất chuyển một phần giá trị vào sản phẩm và
vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc,
thiết bị, phương tiện vận tải…
Doanh nghiệp có thể thuê tài sản cố định theo hai hình thức:
-Thuê ngắn hạn
-Thuê dài hạn
➔ Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất
nhưng xác định được giá trị của nó và doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản
xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư
thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ
kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng, chi phí về
quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả,...
❖ Phân loại theo chức năng, tác dụng của tài sản cố định:
➔ Tài sản cố định trực tiếp: sản xuất, thi công xây lắp ( nhà cửa, công trình,
phương tiện vận tải máy móc, thiết bị cơ giới,..)
➔ Tài sản cố định gián tiếp: tham gia vào quá trình thi công xây lắp: không
trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất mà chỉ có tác dụng phục vụ trong lĩnh
vực gián tiếp nhưng không thể thiếu.
1.1.3.1 Vốn lưu động
Là tiền ứng vào tài sản lưu động, là một bộ phận của vốn sản xuất của
doanh nghiệp xây dựng mà hình thái vật chất của nó chủ yếu thuộc đối
tượng lao động. Vốn lưu động của doanh nghiệp xây dựng là toàn bộ số
vốn mà doanh nghiệp phải ứng ra nhằm thỏa mãn nhu cầu dự trữ nguyên
vật liệu trong giai đoạn sản xuất và như cầu lưu thông. Trong quá trình
sản xuất kinh doanh, vốn lưu động luôn biến đổi từ hình thái tiền tệ sang
hình thái hiện vật rồi trở về hình thái tiền tệ thực hiện một vòng chu
chuyển.
Sau mỗi vòng chu chuyển, vốn lưu động sẽ được thu hồi toàn bộ dưới
hình thức tiền tệ.
Vòng chu chuyển của vốn lưu động là khoảng thời gian cần thiết để
vốn lưu động biến đổi từ hình thái tiền tệ sang hình thái hiện vật rồi trở lại
hình thái tiền tệ. Sự biến đổi của vốn có tính chất tuần hoạn, như vậy gọi
là chu chuyển của vốn.
Vòng chu chuyển này gồm ba giai đoạn:


Trang 10

● Doanh nghiệp dung tiền để mua sắm nguyên, nhiên vật liệu,

phụ tùng thay thế…dự trữ trong kho cho quá trình sản xuất ( tiền tệ đến
hiện vật)
● Giai đoạn trực tiếp sản xuất. Doanh nghiệp xuất các nguyên
vật liệu trong kho dự trữ của đơn vị đẻ đưa vào sản xuất thi công xây lắp.
Quá trình sản xuất dưới tác động của người lao động thông qua tư liệu lao
động đã biến nguyên, nhiên vật liệu…thành các sản phẩm hoàn chỉnh.
Vốn lưu động trong giai đoạn này chính là giá trị các sản phẩm đã hoàn
chỉnh và một số sản phẩm đang chế tạo dễ dàng, các bán thành phẩm.
Thời gian vốn lưu động dừng lại trong giai đoạn sản xuất gọi là thời gian
sản xuất.
● Kết thúc quá trình sản xuất. Doanh nghiệp tiến hành bàn
giao, thanh toán khối lượng sản phẩm để thu tiền về. Trong giai đoạn này,
vốn lưu động từ hình thái hàng hóa về hình thái tiền tệ. Thời gian vốn lưu
động dừng lại trong lưu thông gọi là thời gian lưu thông. Tổng thời gian
dự trữ sản xuất, thời gian sản xuất, thời gian lưu thông gọi là chu kỳ của
vốn lưu động.
1.2 Khái niệm thị trường vốn
Là một bộ phận của thị trường tài chính
Là thị trường diễn ra việc mua bán các chứng khoán dài hạn như cổ
phiếu, trái phiếu. Thị trường vốn được phân thành ba bộ phận là thị
trường cho thuê tài chính, các khoản cho vay thế chấp và chứng
khoán.Thị Trường Vốn là một thị trường nơi các tài sản tài chính có kỳ
hạn dài hoặc vô thời hạn. Không giống như các công cụ của thị trường
tiền tệ, công cụ của thị trường vốn đáo hạn trong khoảng thời gian trên
một năm. Thị Trường Vốn là một sự sắp xếp theo thể chế để vay và cho
vay tiền trong một khoảng thời gian dài hơn, bao gồm các tổ chức tài
chính. Các tổ chức này đóng vai trò bên cho vay còn các đơn vị kinh
doanh và tập đoàn là các bên đi vay trên thị trường vốn. Thị trường này
bao hàm nhiều công cụ khác nhau có thể được sử dụng cho các giao dịch
tài chính. Nó cung cấp nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu tài chính cho Chính
phủ và các doanh nghiệp.
2. Cấu trúc thì trường vốn
2.1 Thị trường cho vay dài hạn
Là thị trường chuyên cho vay cac món nợ dài hạn, trong đó bên vay
vốn (bên thế chấp) dùng tài sản là bất động sản, động sản thuộc sỏ hữu
của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm nợ gốc, lãi và
tiền phạt lãi quá hạn) đối với bên cho vay (gọi là bên nhận thế chấp). Điều
này có nghĩa rằng một cơ chế pháp lý được đưa ra cho phép người cho
vay để chiếm hữu và bán tài sản bảo đảm ("tịch thu" hay "lấy lại") để trả
khoản vay trong trường hợp người vay không trả được cho mượn hoặc
không tuân thủ các điều khoản của nó.
2.2 Thị trường cho thuê tài chính
Trang 11








Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông
qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động
sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết
mua máy móc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác theo
yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên
thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê
được hai bên thoả thuận. Hoạt động thuê tài chính thường chọn phân khúc
khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc siêu nhỏ hoặc những doanh
nghiệp không có đủ khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng hoặc không
thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán.
2.3 Thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là lĩnh vực phong phú, đa dạng và rất phức
tạp; là nơi mua bán các chứng khoán và thường được thực hiện chủ yếu
tại sở giao dịch chứng khoán, một phần ở các công ty môi giới (công ty
chứng khoán), và cả ở thị trường chợ đen. Thị trường chứng khoán là một
bộ phận quan trọng của Thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động
những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn
lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát
triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư.
Về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt
động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán; qua đó
thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
Thị trường sơ cấp
Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trong thị
trường sơ cấp, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành qua
việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
Thị trường sơ cấp tạo ra môi trường cho các doanh nghiệp gọi vốn để
mở rộng sản xuất kinh doanh, giúp Nhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt
ngân sách thông qua việc phát hành trái phiếu, có thêm vốn để xây dung
cơ sở hạ tầng. Nó cũng trực tiếp cải thiện mức sống của người tiêu ding
bằng cách giúp họ chọn thời điểm cho việc mua sắm của mình tốt hơn.
Thị trường thứ cấp
Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường thị
sơ cấp. Thị trường đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã
phát hành. Đây là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán đã được phát
hành. Nhà đầu tư mua đi bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các
mục đích: cất giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng
năm, hưởng chênh lệch giá. Khác với thị trường sơ cấp, tiền bán chứng
khoán trên thị trường thứ cấp thuộc về các nhà đầu tư và nhà kinh doanh
chứ không thuộc về các công ty phát hành chứng khoán.
Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
● Thị trường chứng khoán tập trung( Sàn giao dịch)
Trang 12

Là thị trường trong đó việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực
hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch (trading floor). Các
chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch thông thường là chứng khoán
của những công ty lớn, có danh tiếng, đã qua thử thách của thị trường,
được tổ chức một cách chặt chẽ. Phương thức giao dịch tại Sở giao dịch là
phương thức đấu giá, trong đó các lệnh mua, bán được ghép với nhau để
hình thành giá cả cạnh tranh tốt nhất.
● Thị trường chứng khoán bán tập trung(UPCOM)
Upcom (Unlisted Public Company Market) là tên gọi của thị trường
giao dịch chứng khoán của các công ty đại chúng (CTĐC) chưa niêm yết
được tổ chức tại SGDCK Hà Nội. Thị trường UpCom được xây dựng dựa
trên nhu cầu phát triển TTCK nói chung tại Việt Nam, có các ý kiến tư
vấn của chuyên gia nước ngoài, có khung pháp lý cho thị trường đầy đủ,
tạo một cơ chế hoạt động vừa linh hoạt, vừa chặt chẽ, đem lại quyền lợi
chính đáng cho doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích nhà đầu tư.
● Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC)
Là thị trường trong đó việc giao dịch mua bán chứng khoán không
diễn ra tại một địa điểm tập trung mà thông qua hệ thống máy vi tính nối
mạng giữa các thành viên của thị trường. Các chứng khoán được giao
dịch trên thị trường phi tập trung là chứng khoán của các công ty vừa và
nhỏ. Phương thức giao dịch tại thị trường OTC là phương thức thoả thuận,
giá cả chứng khoán được xác định trên cơ sở thoả thuận giữa các thành
viên của thị trường.
❖ Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị
trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ
chứng khoán phái sinh.
● Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và
mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
● Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và
mua bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái
phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
● Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trường các
chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ
tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền
chọn...

3. Đặc điểm
- TT vốn diễn ra quá trình chuyển dịch từ tư bản sở hữu sang tư bản
kinh doanh.
- Đối tượng của TT vốn là quyền sử dụng các nguồn tài chính dài hạn
đầu tư dài hạn vào sản xuất kinh doanh..
Trang 13

- Công cụ của TT vốn là các khoản vay hay các chứng khoán có thời
hạn trên
một năm tính thanh khoản thấp hơn, nhiều rủi ro.
4. Vai trò
4.1 Kênh dẫn vốn dài hạn cho nền kinh tế
Thị trường vốn là một kênh thu hút vốn đầu tư gián tiếp từ các nhà đầu
tư nước ngoài muốn đa dạng hóa danh mục đầu tư của họ. Nguồn vốn đầu
tư từ nược ngoài cho phép các công ty trong nước huy động vốn với chi
phí rẻ hơn, đồng thời làm tăng tính thanh khoản cho thị trường vốn trong
nước.
4.2 Tạo tính thanh khoản cho tài sản
Thị Trường Vốn là nơi luôn luôn có sẵn các cách thức đầu tư cho việc
đầu tư dài hạn. Đây là một thị trường có tính thanh khoản. Cả người mua
và người bán có thể dễ dàng mua và bán chứng khoán vì chúng luôn có
sẵn.
4.3 Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh
tế vĩ mô
Thị trường vốn là một kênh huy động vốn quan trọng của chính phủ.
Thị trường vốn cho phép chính phủ, các cơ quan của chính phủ phát hành
các loại trái phiếu để vay nợ nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân sách hoặc các
hoạt động của chính phủ. Thị trường vốn sẽ là một kênh để chính phủ vay
nợ tài trợ cho thâm hụt ngân sách, thay vì tài trợ thông qua vay nợ ngân
hàng trung ương hoặc vay nợ từ nước ngoài. Hoạt động của thị trường trái
phiếu chính phủ cũng giúp cải thiện việc thực thi chính sách tiền tệ thông
qua việc đạt được các mục tiêu về kiểm soát tiền tệ hay kiểm soát làm
phát đồng thời cho phép thực hiện các công cụ gián tiếp của chính sách
tiền tệ. Sự tồn tại của thị trường vốn cho phép chính phủ có thể điều tiết
được các chi phí đầu tư cũng như chi thường xuyên để tránh các cú sốc về
chi tiêu, đồng thời giảm chi phí vay nợ của chính phủ và giảm các rủi ro
khác liên quan tới vay nợ như rủi ro về lãi suất, tỷ giá.
4.4 Huy động tiết kiệm và hình thành vốn
Thị Trường Vốn là một nguồn quan trọng để huy động tiền tiết kiệm
nhàn rỗi từ nền kinh tế. Nó huy động vốn từ người dân để đầu tư thêm vào
các kênh sản xuất của nền kinh tế. Theo đó, Thị Trường Vốn kích hoạt các
nguồn lực tài chính lý tưởng và đặt chúng vào các khoản đầu tư thích hợp.
Thị trường vốn đóng góp công sức trong việc hình thành vốn. Thông
qua việc huy động các nguồn lực lý tưởng, nó sẽ tạo ra các khoản tiết
kiệm; các khoản tiết kiệm được huy động luôn sẵn sàng để sử dụng cho
các phân khúc khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp,… Điều này giúp
gia tăng sự hình thành vốn.
4.5 Tăng tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
Thị Trường Vốn tăng cường sản xuất và năng suất trong nền kinh tế
quốc gia. Vì thị trường này khiến các quỹ có thể được tiếp cận trong thời
gian dài, các yêu cầu tài chính của các nhà kinh doanh sẽ được đáp ứng.
Trang 14

Nó cũng giúp ích trong việc nghiên cứu và phát triển, từ đó tăng sản
lượng và năng suất trong nền kinh tế bằng cách tạo công ăn việc làm và
phát triển cơ sở hạ tầng.
4.6 Ổn định và điều hoà lưu thông tiền tệ
thị trường vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà
và lưu thông tiền tệ, cụ thể, trong thị trường vốn, tiền tệ được luân chuyển
theo các quỷ và các dự án tài chính một cách có trật tự, được quản lý chặt
chẽ bởi các nhà đầu tư cũng như nhà thầu dự án, bên cạnh đó, dòng tiền đi
vào cũng như đi ra khỏi thị trường vốn trong thời gian dài và tuân theo
các hợp đồng dài hạn nên sẽ hạn chế được hiện tượng rút vốn đột ngộ
hoặc đầu tư ồ ạt gây sốc cung, từ đó giúp đồng tiền hoạt động hiệu quả
hơn, mang về lợi ích tối đa cho nhà đầu tư

Chương II: Thực trạng thị trường vốn việt nam
I, Thực trạng chung
Theo đánh giá của Bộ Tài Chính, Quy mô của thị trường vốn những
năm gần đây có bước phát triển khá mạnh. Tính đến tháng 9/2016 đã có
4398 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, hơn 600 loại trái phiếu chính
phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu doanh nghiệp được
phát hành với tổng dư nợ trên tỷ đồng. Tính đến quý II năm 2016 , 1873
công ty đã thực hiện niêm yết cổ phiếu và đăng ký giao dịch với tổng vốn
điều lệ là 469,7 nghìn tỷ đồng và giá trị vốn hóa thị trường 1.270.607 tỷ
đồng
Đến cuối tháng 6, vốn tự có của toàn hệ thống đạt 605,8 nghìn tỷ đồng,
tăng 27 nghìn tỷ đồng (tương đương tăng 4,81%) so với cuối năm 2015.
PHẦNIII.

Trang 15