Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 4 – NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 4 – NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

-18-

Tóm lại, để đo lường tính bất ổn tài chính, tác giả sẽ sử dụng tỷ lệ giữa tỷ suất
sinh lợi trên tài sản và tỷ lệ nợ xấu là biến phụ thuộc để đưa vào kiểm định mối
tương quan giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính.
4.1.2. Biến độc lập – Chỉ số tự do hóa tài chính (Financial Liberalization
Index - FLI)
Chỉ số FLI được xây dựng trên cơ sở tập hợp 08 chính sách tự do hóa theo
phương pháp phân tích thành phần chính của Bandiera Caprio et al. (2000) và
Laeven (2003). FLI sẽ là chỉ số đại diện cho hiện trạng thực thi chính sách tự do hóa
ở từng thời điểm vì vậy tác giả chọn chỉ số này là biến phụ thuộc của mô hình
nghiên cứu tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính.
4.1.3. Biến độc lập – Lãi suất cho vay thực (Real Lending Rate – LRR)
Các nghiên cứu thực nghiệm về tự do hóa tài chính thường sử dụng công cụ lãi
suất thực như là chỉ số đại diện cho tự do hóa tài chính (Fry 1997; Bandiera và những
người khác 1997). Mặc dù chỉ số FLI được tính toán cũng đã bao hàm chính sách tự
do hóa lãi suất, việc đưa biến LRR vào mô hình sẽ mang tính chất kiểm định liệu có
tác động riêng lẻ của việc điều chỉnh lãi suất đến tình trạng bất ổn tài chính không.
4.2. Tập hợp mẫu nghiên cứu
Trong phần nghiên cứu của đề tài tác giả sử dụng nguồn số liệu theo quý trong
thời gian từ năm 1996 đến năm 2012. Nguồn số liệu3 chủ yếu được lấy từ IMF
(công cụ International Financial Statistics), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV),
Tổng Cục Thống kê (GSO).
Bảng 4.1 – Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

3

FIS

FLI

LRR

Mean

11.01264

0.432054

0.061146

Median

2.995550

0.407200

0.050000

Maximum

120.0000

0.838100

0.167000

Bảng chi tiết số liệu được trình bày ở phụ lục 2.

-19-

FIS

FLI

LRR

Minimum

0.310100

0.124400

0.000000

Std. Dev.

24.27630

0.239114

0.042234

Skewness

3.609180

0.037122

0.591808

Kurtosis

14.78598

1.639560

2.581822

Jarque-Bera

541.2065

5.259539

4.464818

Probability

0.000000

0.072095

0.107270

Sum

748.8597

29.37970

4.157900

Sum Sq. Dev.

39485.69

3.830757

0.119508

Observations

68

68

68

(Nguồn: tính toán của tác giả dựa vào dữ liệu được trình bày ở Phụ lục 2)
Bảng mô tả cho thấy về trung bình, chỉ số tính bất ổn tài chính đạt mức
11.01264, là chỉ số có giá trị trung bình cao nhất trong ba chỉ số. Độ biến thiên hay
độ lệch chuẩn của chỉ số tính bất ổn tài chính là 24.27630.
Độ biến thiên của chỉ số tự do hóa tài chính ở mức 0.239114. Độ biến thiên
nhỏ nhất là của lãi suất ở mức 0.042234.
Bảng 4.2 – Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu
FIS

FLI

FIS

1.000000

FLI

-0.443317

1.000000

LRR

-0.797160

0.497501

LRR

1.000000

(Nguồn: tính toán của tác giả dựa vào dữ liệu được trình bày ở Phụ lục 2)
Bảng ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu cho thấy hệ
số tương quan của các biến độc lập rất nhỏ, không có cặp biến độc lập nào có hệ số

-20-

tương quan lớn hơn 0,8 do đó các biến độc lập không xảy ra hiện tượng đa cộng
tuyến. Vì vậy, ta hoàn toàn có thể đưa các biến độc lập vào mô hình hồi quy.
Bảng 4.3 – Biến và ký hiệu sử dụng trong mô hình kiểm định
Biến

Ký hiệu

Nguồn

Logarit

Chỉ số tình trạng bất ổn tài chính

FIS

SBV

LnFIS

Chỉ số tự do hóa tài chính

FLI

Tính toán của tác giả4

Lãi suất cho vay thực

LRR

IFS, GSO

LnLRR

4.3. Kết quả nghiên cứu
4.3.1. Đánh giá mức độ tự do hóa tài chính ở Việt Nam
Tác giả sử dụng đồ thị có được từ số liệu tính toán của phương trình (3.1) để
đánh giá mức độ tự do hóa tài chính ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1996 đến
năm 2012.

Biểu đồ 4.1: Biểu đồ chỉ số FLI của Việt Nam trong giai đoạn 1996 đến 2012
(Nguồn: tính toán của tác giả dựa vào kết quả tính toán được trình bày ở Phụ lục 1)
Biểu đồ trên cho thấy giai đoạn từ năm 2001 đến 2007 là thời kỳ Việt Nam
thực thi nhiều chính sách tự do hóa tài chính nhất. Giai đoạn từ năm 2008 đến 2012

4

Kết quả tính toán được trình bày tại Phụ lục 1.

-21-

đường biểu diễn chỉ số tự do hóa tài chính có xu hướng đi xuống và nằm ngang.
Điều này có nghĩa là khủng hoảng tài chính xảy ra ở Mỹ đã có tác động đến quá
trình thực thi các chính sách tự do hóa ở Việt Nam. Khi khủng hoảng tài chính xảy
ra, Việt Nam đã thực hiện một số biện pháp5 nhằm thắt chặt hơn các chính sách để
kiềm chế lạm phát cũng như ổn định nền kinh tế vĩ mô.
4.3.2. Kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính ở
Việt Nam6
4.3.2.1. Kiểm định tính dừng của chuỗi số liệu
Để kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian, tác giả dựa vào kiểm định
Augmented Dickey-Fuller (ADF).
Giả thuyết:
H0: chuỗi thời gian kiểm định là một chuỗi không dừng.
H1: chuỗi thời gian kiểm định là một chuỗi dừng.
Kết quả như sau:
Bảng 4.4 – Kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu
ADF Unit Root Test
Biến

ADF Test
Statistic

1%

5%

10%

LnFIS

-1.609439

-2.600471

-1.945823

-1.613589

FLI

0.841244

-2.599934

-1.945745

-1.613633

LnLRR

-0.831527

-2.601024

-1.945903

-1.613543

(Nguồn: tính toán của tác giả dựa vào kết quả tính toán ở Phụ lục 4)
Căn cứ kết quả của bảng 4.4, giá trị kiểm định ADF của các biến đều nhỏ hơn
giá trị tới hạn ở cả 3 mức ý nghĩa lần lượt là 1%, 5%, 10%. Tức là chúng ta không
thể bác bỏ giả thuyết H0. Điều này đồng nghĩa tất cả các biến trong kiểm định ADF

5

Các biện pháp được trình bày tại Phụ lục 1 (phần giới thiệu các chính sách tự do hóa tài chính được thực thi
tại Việt Nam).
6
Chi tiết xin xem Phụ lục 3.

-22-

đều là những chuỗi không dừng ở chuỗi gốc. Vì vậy ta tiến hành lấy sai phân để
kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu. Kết quả cho thấy tất cả chuỗi dữ liệu đều
dừng ở sai phân bậc 1.
4.3.2.2. Kiểm định mối quan hệ đồng tích hợp
Kết quả kiểm định cho thấy tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp giữa biến FLI,
LnLRR và LnFIS do giá trị trace statistic < giá trị tới hạn ở mức ý nghĩa 5%. Vì vậy
ta tiến hành kiểm định mối quan hệ trong dài hạn bằng kiểm định nhân quả Granger.
4.3.2.3. Kiểm định mối quan hệ nhân quả Engle – Granger
Kết quả kiểm định cho thấy tồn tại mối quan hệ trong dài hạn giữa biến FLI và
FIS, biến FIS và biến LRR, biến LRR và biến FLI.
4.3.2.4. Kết quả kiểm định mô hình hồi quy
Do các chuỗi dữ liệu có mối quan hệ đồng tích hợp nên tác giả sử dụng mô
hình véc-tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) để kiểm định mối quan hệ giữa tự do hóa tài
chính và tính bất ổn tài chính.
Kết quả kiểm định cho thấy tự do hóa tài chính có tác động đến tính bất ổn tài
chính theo mối quan hệ thuận sau một độ trễ, tức là 1% mở rộng chính sách tự do
hóa sẽ làm gia tăng 1% tính bất ổn tài chính. Ngoài ra, biến giả cho thấy có một tác
động nghịch chiều đối với tính bất ổn tài chính nghĩa là khi khủng hoảng kinh tế tài
chính ở Mỹ xảy ra, Việt Nam đã thực hiện các biện pháp “siết chặt” đối với tự do
hóa tài chính, điều này làm cho tính bất ổn tài chính giảm đi. Mức độ giải thích của
mô hình là 53.19% nghĩa là mối quan hệ này khá bền chặt.

-23-

CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN
5.1. Tóm tắt những điểm chính của đề tài
Tự do hóa tài chính đã được đề cập đến lần đầu tiên bởi hai nhà kinh tế học là
McKinnon (1973) và Shaw (1973). Hai ông cho rằng tự do hóa tài chính thúc đẩy
tăng trưởng vì khi trần lãi suất được xóa bỏ, tỷ lệ dữ trữ bắt buộc được giảm xuống
và vấn đề chia cắt thị trường tài chính được giảm nhẹ thì tiết kiệm gia tăng, hiệu quả
phân bổ vốn đầu tư của các tổ chức và thị trường tài chính cũng được cải thiện. Tuy
nhiên mặt trái của tự do hóa tài chính đó là tự do hóa tài chính tạo ra tình trạng bất
ổn về tài chính. Điều này càng được củng cố thêm khi khủng hoảng tài chính ở
Châu Á xảy ra vào năm 1997. Các bằng chứng thực nghiệm cũng cho thấy khủng
hoảng ngân hàng quả thật có khả năng xảy ra nhiều hơn tại những nước có khu vực
tài chính tự do hóa, ngay cả khi các yếu tố khác (bao gồm lãi suất thực) đã được
kiểm soát; ngoài ra, tình trạng mỏng manh của hệ thống ngân hàng gia tăng không
phải là một đặc trưng của kết quả tức thời của việc tự do hóa; mà đúng hơn, nó có
xu hướng xuất hiện một vài năm sau khi quá trình tự do hóa bắt đầu (Asli
Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache, 1998).
Và mặc dù các khía cạnh bên ngoài (tỷ giá cố định, lãi suất cao, và gia tăng
quá mức các khoản cho vay ở nước ngoài) thuộc những nhân tố quan trọng gây ra
khủng hoảng, thì khủng hoảng cũng sẽ không xảy ra nếu không có sự yếu kém ở
bên trong như: các tổ chức giám sát không phù hợp, ngân hàng hoạt động theo
phương thức truyền thống, và trên tất cả, các quyết định đầu tư sai của khu vực tư
nhân ở các quốc gia này (Jackson 1999, trang 5).
Tất cả điều này có nghĩa là tự do hóa tài chính phải kết hợp với sự giám sát và
quy định chặt chẽ các tổ chức ngân hàng và phi ngân hàng. Thiếu quy định, ngân
hàng và công ty tài chính sẽ cho vay rủi ro trong giai đoạn bùng nổ kinh tế và do đó
rơi vào khó khăn thanh khoản hay thậm chí mất khả năng thanh toán trong giai đoạn
suy thoái.

-24-

Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tự do hóa tài chính có tác động đến
tính bất ổn tài chính theo mối quan hệ thuận sau một độ trễ, tức là 1% mở rộng
chính sách tự do hóa sẽ làm gia tăng 1% tính bất ổn tài chính. Ngoài ra, biến giả cho
thấy có một tác động nghịch chiều đối với tính bất ổn tài chính nghĩa là khi khủng
hoảng kinh tế tài chính ở Mỹ xảy ra, Việt Nam đã thực hiện các biện pháp “siết
chặt” đối với tự do hóa tài chính, điều này làm cho tính bất ổn tài chính giảm đi.
Phần tiếp theo tác giả sẽ trình bày một số biện pháp nhằm ổn định nền kinh tế
tài chính khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu.
5.2. Gợi ý những biện pháp giúp ổn định nền kinh tế tài chính khi hội nhập vào
nền kinh tế quốc tế
5.2.1. Cơ chế giám sát an toàn và hiệu quả
Sau hơn hai thập kỷ cải cách tuy có nhiều tiến bộ ghi nhận nhưng vẫn tồn tại
nhiều rủi ro, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, là tiềm ẩn các rủi ro chéo giữa khu
vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và các rủi ro mang tính hệ thống từ sự bất
ổn của môi trường kinh tế vĩ mô cũng như từ các cú sốc ở bên ngoài. Hiện tại giám
sát tài chính ở Việt Nam đang bộc lộ nhiều điểm hạn chế:
Thứ nhất: Hiện tại cơ chế giám sát hầu như chỉ dừng lại ở giám sát tuân thủ
do đó để đáp ứng các yêu cầu phát sinh từ quá trình hội nhập và mở rộng quan hệ
thương mại, đầu tư với bên ngoài thì cần phải sớm hoàn thiện hai cơ chế giám sát
hiệu quả và giám sát cảnh báo sớm.
Thứ hai: hệ thống các chỉ tiêu giám sát tài chính công vẫn chưa bao quát hết
các loại hình rủi ro liên quan. Hệ thống thông tin phục vụ cho công tác giám sát vẫn
chưa đầy đủ, phân tán và chưa được cập nhật thường xuyên. Công tác thống kê,
hạch toán trong một số trường hợp chưa theo đúng chuẩn mực quốc tế nên khó so
sánh khi đánh giá mức độ rủi ro.
Thứ ba: công tác giám sát tuân thủ pháp luật trên thị trường chứng khoán
trong một số nội dung còn chưa bao quát hết các vấn đề mới phát sinh trên thực

-25-

tiễn. Hoạt động giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các doanh
nghiệp nhà nước vẫn còn những điểm cần tiếp tục cải thiện.
Thứ tư: việc chia sẻ thông tin trong nội bộ từng ngành cũng như giữa các cơ
quan chức năng còn nhiều điểm hạn chế. Cơ cấu hệ thống giám sát tương đối hoàn
chỉnh nhưng còn thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các bộ phận, nhất là tầm vĩ
mô, liên ngành.
Do đó để đảm bảo việc giám sát có hiệu quả thì cần thiết phải:


Xây dựng khuôn khổ pháp lý cho giám sát tài chính vĩ mô đầy đủ và hoàn
thiện.



Đảm bảo có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan, bộ ngành liên
quan trong thực hiện giám sát.



Có sự hiện diện của một hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu giám sát tài chính vĩ
mô bao quát được các nội dung và chủ thể cần giám sát.



Hình thành được hệ thống dữ liệu thông tin phục vụ công tác giám sát tài
chính vĩ mô một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời



Đảm bảo tính minh bạch, công khai trong việc thực hiện giám sát tài chính
vĩ mô.

5.2.2. Lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia
Lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia một trong những mục tiêu chiến lược
hàng đầu phát triển tài chính-tiền tệ giai đoạn 2010-2015. Văn kiện Đại hội XI của
Đảng khẳng định phải “tạo lập môi trường tài chính lành mạnh, thông thoáng nhằm
giải phóng và phát triển các nguồn lực tài chính và tiềm năng sản xuất của các
doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư; bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của thị
trường tài chính- tiền tệ trong toàn bộ nền kinh tế”. Chính vì vậy thực hiện một số
biện pháp sau nhằm hướng đến lành mạnh hóa nền tài chính nước nhà:


Để đảm bảo nguồn thu ngân sách Nhà nước lành mạnh thì trước hết cần
phải thực hiện chống thất thu ngân sách, sau đó là phải có cơ cấu chi phí
hợp lý và hiệu quả để đảm bảo chi ngân sách được lành mạnh.

-26-



Một nền tài chính lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn vốn trong nước,
vào việc phát huy nội lực chứ không thể phụ thuộc quá nhiều vào các
nguồn vốn bên ngoài, tuy các nguồn vốn này là rất quan trọng. Do vậy
chính sách vay nợ quốc gia cần phải hết sức thận trọng, giữ các tỷ lệ nợ so
với GDP, với kim ngạch xuất khẩu ở mức an toàn, và phải có các khoản
dự trữ ngoại tệ sẵn sàng đối phó với những biến động của các dòng vốn.



Phải duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế: sự thâm hụt quá mức của các
cán cân thương mại, tài khoản vãng lai, tài khoản vốn và cán cân thanh
toán làm suy giảm tính lành mạnh của nền tài chính quốc gia. Biện pháp
đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế là thúc đẩy xuất khẩu, giảm nhập
khẩu, đặc biệt là nhập khẩu hàng tiêu dùng, khuyến khích các hoạt động
sản xuất kinh doanh ngoại tệ, chuyển ngoại tệ về nước, hạn chế chuyển
ngoại tệ ra nước ngoài, kiểm soát chặt chẽ các luồng vốn nhằm ngăn chặn
tình trạng rút vốn ồ ạt, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài cả trực
tiếp lẫn gián tiếp…mục tiêu là giảm thâm hụt, tiến tới cân bằng và thặng
dư nếu có điều kiện.

5.2.3. Lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng
5.2.3.1. Giải quyết vấn đề nợ xấu:
Thứ nhất: Các ngân hàng chủ động tăng mức trích lập dự phòng các khoản nợ
xấu, chấp nhận giảm lợi nhuận hoặc thua lỗ. Việc làm này, sẽ giúp ngân hàng
thương mại nhanh chóng bù đắp tổn thất, giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đồng thời, có thể giảm quỹ lương nhưng làm tăng khả năng tài chính nội tại của
ngân hàng.
Thứ hai: Nhà nước cần chứng khoán hóa các khoản nợ khó đòi theo 3 phương
pháp. Nếu doanh nghiệp có lịch sử quản trị kinh doanh tốt, đang gặp khó khăn về
nghĩa vụ trả nợ gốc hoặc do các dự án đầu tư đang triển khai chưa đi vào hoạt
động… có thể chuyển một phần nợ gốc thành trái phiếu trung hạn. Điều này nhằm
hỗ trợ thanh khoản và giúp doanh nghiệp tồn tại, phát triển. Phương pháp thứ hai là
chuyển nợ quá hạn, nợ xấu thành cổ phần. Đồng thời, chuyển vị thế các ngân hàng

-27-

đang là chủ nợ thành cổ đông lớn nắm đa số cổ phần nếu nhận thấy sau tái cấu trúc
doanh nghiệp có khả năng tồn tại và phát triển. Đây là cách thức xử lý khá phổ biến
theo thông lệ thế giới. Đối với Việt Nam, từ trước tới nay đã có rất nhiều trường
hợp thành công, không những cứu được doanh nghiệp khỏi nguy cơ giải thể phá sản
mà còn bảo toàn được nguồn vốn của các ngân hàng.
Thứ ba: Ngân hàng cần tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong
ngành ngân hàng lên 40%. Đồng thời cũng cho phép nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu
tư chiến lược nước ngoài lên mức 25% hoặc 30% vốn điều lệ.
Thứ tư: Chính phủ cần cho phép một số ngân hàng nước ngoài có tiềm lực tài
chính mạnh, quản trị doanh nghiệp tốt mua lại những nhà ngân hàng yếu kém (theo
VAFI, ngân hàng yếu kém là những ngân hàng có quản trị kinh doanh yếu kém và
tỷ lệ nợ xấu cao)..
Thứ năm: Ngân hàng Nhà nước cần khuyến khích các ngân hàng thật sự
mạnh mua lại những ngân hàng yếu kém. Tuy nhiên, việc mua lại này cần sự hỗ trợ
từ tài chính từ phía Ngân hàng Nhà nước.
Thứ sáu: Miễn các loại thuế (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh
nghiệp…) cho các hoạt động mua bán nợ nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển
của thị trường mua bán nợ. Việc miễn các loại thuế về hoạt động mua bán nợ sẽ làm
giảm tổn thất về nợ xấu, thúc đẩy các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào thị trường
mua bán nợ.
Thứ bảy: Nhà nước cần miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho nghiệp vụ phát
hành trái phiếu doanh nghiệp. Điều này giúp giảm lãi suất huy động và giúp hệ
thống ngân hàng thương mại có điều kiện huy động vốn dài hạn, thay vì ngắn hạn,
đồng thời thúc đẩy tiến trình chứng khoán hóa các khoản nợ.
5.2.3.2. Tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản để đảm bảo khả năng
chịu đựng rủi ro của các ngân hàng thương mại
Do quá trình xử lý nợ xấu sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận để lại của ngân hàng
nên nguồn vốn để tăng vốn chủ sở hữu sẽ đến từ việc phát hành cổ phiếu cho các
nhà đầu tư trong và ngoài nước. Hệ số an toàn vốn tối thiểu cần phải được xây dựng

-28-

chi tiết hơn để phản ánh đúng được mức độ rủi ro mà các ngân hàng phải gánh chịu.
Ngoài ra, quá trình thực hiện tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu cần phải hạn chế tình trạng
sở hữu chéo giữa các ngân hàng để đảm bảo mức vốn chủ sở hữu thực đủ lớn, trở
thành tấm đệm rủi ro cho hệ thống ngân hàng.
5.2.3.3. Sử dụng thận trọng, hợp lý việc mua bán và sáp nhập các ngân
hàng để nâng cao năng lực tài chính và lành mạnh hóa ngân hàng
Vì những lý do sau:
Thứ nhất: Do năng lực quản trị của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện
nay còn yếu kém nên việc sáp nhập nhiều ngân hàng thành một ngân hàng lớn có
thể khiến cho năng lực quản trị yếu kém hơn.
Thứ hai: Ngân hàng Nhà nước sẽ gặp khó khăn trong quản lý khi thành lập
một ngân hàng có quy mô lớn mà hoạt động không hiệu quả. Do đó nếu ngân hàng
này sụp đổ thì khả năng đổ vỡ của hệ thống sẽ cao hơn nhiều so với việc sụp đổ của
một ngân hàng có quy mô nhỏ hơn.
Thứ ba: Việc hợp nhất hay mua bán các ngân hàng không làm tăng tỷ lệ vốn
chủ sở hữu trên tổng tài sản.
5.2.3.4. Tăng cường tính minh bạch của thị trường tín dụng và thực trạng
hoạt động của các ngân hàng thương mại thông qua các văn bản quy định về
công khai thông tin của các tổ chức này
Các báo cáo tài chính và thông tin do ngân hàng thương mại cung cấp hiện nay
được đánh giá là không đạt yêu cầu về số lượng và chất lượng vì vậy đã gây ra ảnh
hưởng tới các quyết định kinh tế của nhà đầu tư, người gửi tiền và khách hàng vay
vốn. Chính sự thiếu minh bạch trong công bố thông tin đã khiến cho các ngân hàng
thưong mại thực hiện biện pháp lách luật, làm ảnh hưởng tới hiệu quả thực thi các
chính sách của Ngân hàng Nhà nước và sự cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các
ngân hàng trong hệ thống.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo