Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

-15-

Bước 1: Kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test) để xác định tính dừng của
các chuỗi dữ liệu. Mục đích của kiểm định nghiệm đơn vị nhằm xác định chuỗi dữ
liệu có hoặc không có xu hướng; nếu các chuỗi dữ liệu trong cùng mô hình có cùng
một xu hướng thì có thể dẫn đến hồi quy giả mạo làm mất ý nghĩa và tính giải thích
của mô hình. Trong bài này, luận văn sẽ sử dụng kiểm định ADF để xác định tính
dừng của chuỗi dữ liệu. Nếu các chuỗi dữ liệu này là không dừng thì tác giả sẽ tiến
hành lấy sai phân cho tới khi nó có tính dừng trước khi đưa vào mô hình.
Bước 2: Nếu chuỗi dữ liệu không dừng thì sử dụng kiểm định đồng liên kết để
xác định khả năng tồn tại các mối quan hệ trong dài hạn nhằm hạn chế sự hồi quy
giả mạo giữa các biến. Điều này có nghĩa là nếu các chuỗi thời gian trong mô hình
không dừng nhưng rất có thể tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa chúng nếu
các chuỗi thời gian đó đồng liên kết – nghĩa là phần dư từ mô hình hồi quy của các
chuỗi thời gian là không dừng là một chuỗi dừng.
Bước 3: Kiểm định mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến bằng mô hình
kiểm định nhân quả Engle-Granger (1987).
Bước 4: Kiểm định mối quan hệ tác động giữa tự do hóa tài chính và bất ổn tài
chính thông qua mô hình VAR hoặc VECM (nếu các chuỗi dữ liệu có mối quan hệ
đồng tích hợp).
3.2. Mô hình nghiên cứu
3.2.1. Mô hình đánh giá mức độ tự do hóa tài chính
Phương trình tính toán chỉ số FLI tại một thời điểm:
FLIt = w1IRDt + w2REBt + w3RRRt + w4ECCt + w5IPRt + w6SMRt + w7PSBt +
w8EALt

(3.1)

Trong đó:
FLIt : chỉ số tự do hóa tài chính tại thời điểm t.
wi : là giá trị của vector riêng trong ma trận các chính sách.
3.2.2. Mô hình kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài
chính ở Việt Nam

-16-

FISt = α1 + α2FLIt + α3LRRt + et

(3.2)

Phương trình này có thể viết ở dạng log như sau:
LnFISt = α1 + α2FLIt + α3LnLRRt + et

(3.3)

Trong đó:
FISt: chỉ số bất ổn tài chính (Financial Instability)
LRRt: lãi suất cho vay thực (Real Lending Rate)
Do năm 2008 là năm xảy ra khủng hoảng tài chính ở Mỹ và điều này đã có tác
động không nhỏ đến nền kinh tế của Việt Nam nên tác giả sẽ sử dụng biến giả
(dummy) để kiểm định liệu cuộc khủng hoảng này có ảnh hưởng như thế nào đến
tình trạng bất ổn tài chính ở Việt Nam. Theo đó giai đoạn từ quý 01/1996 đến quý
04/2007 sẽ mang giá trị D = 0 và giai đoạn từ quý 01/2008 đến quý 04/2012 sẽ
mang giá trị D = 1.
3.3. Nguồn số liệu và phương pháp thu thập số liệu
Để phục vụ cho công tác định lượng, tác giả sẽ thu thập dữ liệu trong thời gian
từ quý 01 năm 1996 đến quý 04 năm 2012.
Nguồn số liệu chủ yếu được lấy từ IMF (chuyên mục International Financial
Statistics), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV), Tổng Cục Thống kê (GSO).

-17-

CHƯƠNG 4 – NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Xây dựng các biến dự kiến sẽ đưa vào mô hình
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng nền kinh tế Việt Nam và các lý luận về mối
quan hệ giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính, tác giả đã xây dựng các
nhân tố thể hiện mối liên quan giữa hai biến trên như sau:
4.1.1. Biến phụ thuộc – Chỉ số bất ổn tài chính (Financial Instability - FIS)
Như chúng ta đã biết ổn định tài chính được phản ánh trong hoạt động của hệ
thống ngân hàng, đặc biệt là ở lĩnh vực cho vay vốn.
Để đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng, chỉ số tỷ suất sinh lợi trên tài sản
(ROA) thường được sử dụng. Khả năng sinh lời hay khả năng tạo lợi nhuận được
xem là một chỉ tiêu đánh giá và đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói
chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của quá trình
kinh doanh, do đó, đây là phần lợi ích được phân phối cho các chủ nợ và chủ sở hữu
của công ty.
Ngoài ra một chỉ tiêu nữa để đánh giá tính hiệu quả của hoạt động ngân hàng đó
là tỷ lệ nợ xấu (non-performing loan). Theo tiêu chí đánh giá của Việt Nam2 thì
những khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5 là những khoản nợ xấu. Đây chính là khoản nợ
gây ra cản trở lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Sự tồn tại của nợ xấu chỉ thực
sự nguy hiểm khi nó vọt lên ngưỡng cao, tình hình tài chính hiện tại của các chủ thể
trong nền kinh tế có thể đẩy nợ xấu lên mức nguy hiểm trong tương lai. Tuy ở Việt
Nam tình hình nợ xấu chưa tới mức báo động nhưng vẫn rất cần xử lý quyết liệt để
không gây ra hậu quả nghiêm trọng. Như vậy, khi nền tài chính được tự do hóa, hoạt
động tín dụng được mở rộng thì tỷ lệ nợ xấu có tăng lên không? Đó chính là nguyên
nhân tác giả lựa chọn chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu để tính toán chỉ số bất ổn tài chính.

2

Căn cứ tiêu chí phân loại tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.

-18-

Tóm lại, để đo lường tính bất ổn tài chính, tác giả sẽ sử dụng tỷ lệ giữa tỷ suất
sinh lợi trên tài sản và tỷ lệ nợ xấu là biến phụ thuộc để đưa vào kiểm định mối
tương quan giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính.
4.1.2. Biến độc lập – Chỉ số tự do hóa tài chính (Financial Liberalization
Index - FLI)
Chỉ số FLI được xây dựng trên cơ sở tập hợp 08 chính sách tự do hóa theo
phương pháp phân tích thành phần chính của Bandiera Caprio et al. (2000) và
Laeven (2003). FLI sẽ là chỉ số đại diện cho hiện trạng thực thi chính sách tự do hóa
ở từng thời điểm vì vậy tác giả chọn chỉ số này là biến phụ thuộc của mô hình
nghiên cứu tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính.
4.1.3. Biến độc lập – Lãi suất cho vay thực (Real Lending Rate – LRR)
Các nghiên cứu thực nghiệm về tự do hóa tài chính thường sử dụng công cụ lãi
suất thực như là chỉ số đại diện cho tự do hóa tài chính (Fry 1997; Bandiera và những
người khác 1997). Mặc dù chỉ số FLI được tính toán cũng đã bao hàm chính sách tự
do hóa lãi suất, việc đưa biến LRR vào mô hình sẽ mang tính chất kiểm định liệu có
tác động riêng lẻ của việc điều chỉnh lãi suất đến tình trạng bất ổn tài chính không.
4.2. Tập hợp mẫu nghiên cứu
Trong phần nghiên cứu của đề tài tác giả sử dụng nguồn số liệu theo quý trong
thời gian từ năm 1996 đến năm 2012. Nguồn số liệu3 chủ yếu được lấy từ IMF
(công cụ International Financial Statistics), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV),
Tổng Cục Thống kê (GSO).
Bảng 4.1 – Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

3

FIS

FLI

LRR

Mean

11.01264

0.432054

0.061146

Median

2.995550

0.407200

0.050000

Maximum

120.0000

0.838100

0.167000

Bảng chi tiết số liệu được trình bày ở phụ lục 2.