Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

-5-

2.2. Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và tính
bất ổn tài chính
2.2.1. Công trình nghiên cứu của Min Bahadur Shrestha (2005)
Nghiên cứu có thể đánh giá là có mối tương quan nhiều với Việt Nam là công
trình nghiên cứu thực nghiệm của Min Bahadur Shrestha (2005) về “Mối quan hệ
giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính của Nepal”. Nghiên cứu này sử
dụng phương pháp bình phương bé nhất dựa trên mô hình phân phối trễ tự hồi quy
(ARDL) để xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính trong
khoảng thời gian từ năm 1970 đến năm 2003 tại Nepal. Để phục vụ cho việc kiểm
định mối quan hệ này, Shrestha đã xây dựng chỉ số tự do hóa tài chính (financial
liberalization index – FLI) cho Nepal bằng phương pháp thành phần chính. Chỉ số
này còn thể hiện mức độ tự do hóa tài chính tại một thời điểm, là công cụ để xem
xét tình trạng tự do hóa tài chính và đánh giá ảnh hưởng của chính sách đối với các
khía cạnh của nền kinh tế.
Shrestha sử dụng hàm logit đa biến để kiểm định xem liệu tự do hóa tài chính
có gây ra bất ổn tài chính cho Nepal không. Tập hợp các biến trong mô hình hồi quy
bao gồm: Tỷ lệ giữa các khoản vốn huy động và cho vay của ngân hàng – LnCDR
(đại diện cho tính bất ổn tài chính), lãi suất thực – LnLRR, chỉ số tự do hóa tài
chính – FLI.
Kết quả nghiên cứu cho thấy:


Mặc dù Nepal đã tiến hành tự do hóa tài chính từ năm 1970 nhưng giai
đoạn từ năm 1984 đến 1994 là thời kỳ Nepal sử dụng nhiều chính sách tự
do hóa tài chính nhất.



Kiểm định ARDL cho thấy có mối quan hệ dài hạn giữa chỉ số tự do hóa
tài chính và tính bất ổn tài chính. Mối quan hệ này được xác định với
mức ý nghĩa 1%. Kết quả này cho thấy một sự gia tăng trong chỉ số tự do
hóa tài chính có liên quan đến một sự gia tăng của tỷ lệ giữa các khoản
vốn huy động và cho vay của ngân hàng. Tỷ lệ giữa các khoản vốn huy
động và cho vay của ngân hàng cao hơn có liên quan đến các khoản nợ

-6-

xấu cao hơn, và điều này có thể gây ảnh hưởng ngược đối với sự ổn định
trong lĩnh vực tài chính. Từ quan điểm này, kết quả trên cho thấy tổng
hợp các chính sách tự do hóa tài chính có thể gây ra tính bất ổn trong lĩnh
vực tài chính.
2.2.2. Công trình nghiên cứu của Asli Demirgüç-Kunt and Enrica
Detragiache (1998)
Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache (1998) đã thiết lập một biến giả
cho tự do hóa tài chính của một số lớn các quốc gia phát triển và đang phát triển
trong giai đoạn 1980-1995. Để xác định tự do hóa, Asli Demirgüç-Kunt and Enrica
Detragiache chọn một thay đổi chính sách có thể quan sát được, đó là việc bãi bỏ
quy định về lãi suất ngân hàng, vì các trường hợp nghiên cứu cho thấy rằng chính
sách thường là trung tâm của quá trình tự do hóa chung. Hệ thống số liệu nghiên
cứu bao gồm những quốc gia đã tự do hóa các thị trường tài chính trước thập niên
80 cũng như những quốc gia đã tự do hóa ở những thời điểm khác nhau trong
khoảng thời gian nói trên.
Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache đã dùng hàm logit đa biến để
kiểm định xem các cuộc khủng hoảng ngân hàng có khả năng xảy ra nhiều hơn
trong các hệ thống tài chính tự do hơn hay không khi các yếu tố khác có thể làm
tăng xác suất xảy ra khủng hoảng đều đã được kiểm soát. Tập hợp các biến kiểm
soát bao gồm các biến kinh tế vĩ mô, các đặc điểm của khu vực ngân hàng và các
biến về thể chế. Hai tác giả cũng kiểm định xem liệu các cuộc khủng hoảng có khả
năng xảy ra nhiều hơn trong quá trình chuyển đổi sang một hệ thống tài chính ít
được kiểm soát hơn, hay thực ra thì tình trạng mỏng manh về tài chính là một đặc
điểm luôn tồn tại của tự do hóa tài chính.
Một vấn đề khác thường phát sinh trong tranh luận về tự do hóa tài chính là
liệu có phải những mối nguy hiểm của tự do hóa cao hơn tại những nước mà các thể
chế cần thiết để hỗ trợ sự vận hành hiệu quả của các hệ thống tài chính không được
phát triển đầy đủ. Những thể chế này bao gồm quy định kinh doanh cẩn trọng, giám
sát các trung gian tài chính và các thị trường chứng khoán có tổ chức và một cơ chế

-7-

vận hành tốt để cưỡng chế thi hành các hợp đồng và các quy định điều tiết. Hai tác
giả đã khảo sát vấn đề này thông qua việc kiểm định xem mối quan hệ giữa khủng
hoảng ngân hàng và tự do hóa tài chính có mạnh hơn tại những nước có môi trường
thể chế yếu kém hơn hay không. Thước đo được sử dụng là GDP đầu người và các
chỉ số khác nhau đại diện cho chất lượng thể chế. Hai tác giả sử dụng các phương
pháp kiểm tra để chứng minh tính vững mạnh của kết quả.
Kết quả chung là: khủng hoảng ngân hàng quả thật có khả năng xảy ra nhiều
hơn tại những nước có khu vực tài chính tự do hóa, ngay cả khi các yếu tố khác
(bao gồm lãi suất thực) đã được kiểm soát; ngoài ra, tình trạng mỏng manh của hệ
thống ngân hàng gia tăng không phải là một đặc trưng của kết quả tức thời của việc
tự do hóa; mà đúng hơn, nó có xu hướng xuất hiện một vài năm sau khi quá trình tự
do hóa bắt đầu. Số liệu cũng ủng hộ cho sự phỏng đoán là một môi trường thể chế
yếu kém sẽ làm cho việc tự do hóa có khả năng dẫn đến khủng hoảng ngân hàng
nhiều hơn; đặc biệt, tại những quốc gia có thể chế luật pháp yếu kém, tham nhũng
lan tràn, hoạt động quản lý nhà nước không hiệu quả và cơ chế cưỡng chế thi hành
hợp đồng không hữu hiệu, tự do hóa tài chính có xu hướng gây ra một tác động đặc
biệt lớn đối với xác suất xảy ra khủng hoảng ngân hàng. Như vậy, có những bằng
chứng rõ ràng rằng tự do hóa tài chính làm tăng tình trạng mỏng manh về tài chính
tại những quốc gia đang phát triển, nơi mà những thể chế cần thiết để hỗ trợ cho
một hệ thống tài chính vận hành trôi chảy vẫn chưa được thiết lập hoàn chỉnh.
Để tìm hiểu một kênh khả dĩ qua đó tự do hóa có thể ảnh hưởng đến tình trạng
mỏng manh của ngân hàng, hai tác giả sử dụng số liệu ở cấp độ ngân hàng để xem
xét mối tương quan giữa các biến đại diện cho giá trị giấy phép hoạt động ngân
hàng và biến giả về tự do hóa tài chính. Họ tìm thấy bằng chứng rằng giá trị giấy
phép hoạt động đặc quyền của ngân hàng (franchise value) có xu hướng thấp hơn
khi các thị trường tài chính được tự do hóa, có lẽ bởi vì sức mạnh độc quyền của
ngân hàng bị xói mòn. Điều này cho thấy rằng những lý thuyết giải thích tâm lý ỷ
lại gia tăng là do giá trị đặc quyền ngân hàng thấp có thể giúp chúng ta giải thích lý
do tại sao tự do hóa tài chính có xu hướng làm cho khủng hoảng ngân hàng có khả

-8-

năng xảy ra nhiều hơn (Caprio và Summers, 1993 và Hellman, Murdoch và Stiglitz,
1994).
Những phát hiện này làm phát sinh câu hỏi: phải chăng những lợi ích của tự do
hóa tài chính như vẫn được chứng minh trong tư liệu sẽ không đủ để bù đắp cho cái
giá phải trả của tình trạng dễ bị tổn thương trước các cuộc khủng hoảng ngân hàng?
Mặc dù câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi phức tạp này vượt ra ngoài phạm vi
nghiên cứu của hai tác giả. Tuy nhiên, sử dụng tập hợp số liệu của mình, hai tác giả
cũng đã cố gắng làm sáng tỏ đôi chút một khía cạnh cụ thể của vấn đề, đó là ảnh
hưởng của tự do hóa tài chính và khủng hoảng ngân hàng đối với phát triển tài
chính và tăng trưởng. Thứ nhất, họ chứng minh rằng phát triển tài chính có tương
quan đồng biến với tăng trưởng sản lượng trong mẫu của chúng tôi, khẳng định các
kết quả của King và Levine (1993). Thứ hai, họ nhận thấy rằng, dựa trên điều kiện
là không có khủng hoảng ngân hàng, những quốc gia (hay những thời đoạn) mà ở
đó các thị trường tài chính được tự do hóa sẽ có sự phát triển tài chính cao hơn so
với những quốc gia (hay những thời đoạn) mà thị trường bị kiểm soát. Tuy nhiên,
những quốc gia (hay những thời đoạn) vừa có tự do hóa tài chính vừa có khủng
hoảng ngân hàng thì sẽ có mức độ phát triển tài chính gần như không khác với
những quốc gia (hay những thời đoạn) không tự do hóa tài chính đồng thời cũng
không có khủng hoảng ngân hàng. Như vậy, ảnh hưởng ròng đối với tăng trưởng
thông qua phát triển tài chính trong trường hợp trên sẽ không khác 0 về mặt ý nghĩa
thống kê.
Để tìm hiểu vấn đề này một cách sâu hơn, hai tác giả chia mẫu phân tích ra
thành những nước bị áp chế tài chính mạnh vào thời điểm tự do hóa và những nước
bị áp chế tài chính yếu. Trong đó, tình trạng áp chế tài chính mạnh được nhận diện
bởi lãi suất thực âm, còn tình trạng áp chế tài chính yếu được nhận diện bởi lãi suất
thực dương trong giai đoạn trước khi tự do hóa. Sau đó hai tác giả thực hiện những
kiểm định giống như mô tả trên đây cho hai mẫu này. Đối với nhóm nước bị áp chế
tài chính yếu, kết quả tương tự như kết quả của nguyên mẫu trước khi chia làm hai.
Ngược lại, đối với những nước bị áp chế tài chính mạnh, tự do hóa tài chính sẽ đi

-9-

kèm với phát triển tài chính cao hơn ngay cả khi có một cuộc khủng hoảng ngân
hàng diễn ra. Những phát hiện này cho thấy rằng tự do hóa tài chính có thể có một
ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng thông qua phát triển tài chính tại những
nước được đặc trưng bởi sự áp chế tài chính mạnh, ngay cả khi nó làm tăng tình
trạng mỏng manh về tài chính.
2.2.3. Công trình nghiên cứu của một số tác giả khác
Weller (1999) cho rằng các quốc gia mới nổi đang trở nên dễ tổn thương đối
với khủng hoảng ngân hàng và tiền tệ sau tự do hóa tài chính. Bà đã sử dụng số liệu
của 27 nền kinh tế mới nổi từ năm 1973 đến 1998. Nghiên cứu của bà chỉ ra rằng
tính hợp lý của khủng hoảng tiền tệ có thể làm gia tăng các phản ứng mạnh mẽ đối
với các biến tài chính hơn là các biến thương mại thực hoặc biến thương mại nội bộ.
Tương tự, do tự do hóa tài chính tạo ra áp lực cạnh tranh đối với ngân hàng trong
nước thì tính dễ đổ vỡ của tài chính có thể là kết quả của việc gia tăng cạnh tranh tài
chính quốc tế. Điều này có thể tạo ra một cái nhìn lạc quan đối với “trạng thái phởn
phơ loại bỏ” mà chính điều này làm gia tăng quy mô tín dụng đối với các dự án kém
chất lượng (trang 69). Weller (1999) kiến nghị rằng các nền kinh tế tự do hóa nên
tập trung vào xây dựng các định chế ổn định cần thiết trước khi mở cửa kinh tế vì
họ dường như đã trải qua một sự gia tăng trong khả năng khủng hoảng tiền tệ và
ngân hàng mà không có những biện pháp phản ứng lại (trang 76).
Arphasil (2001) xác nhận rằng tự do hóa tài chính làm lộ rõ đe dọa đối với sự
ổn định tài chính thông qua việc di chuyển dòng vốn. Tự do hóa tài chính cho phép
các trung gian tài chính dễ dãi hơn đối với đầu tư nguy cơ và sự phân bổ sai nguồn
lực. Tự do hóa lãi suất và các giao dịch tài khoản vốn dẫn đến sự đổ vỡ tín dụng,
hầu hết được tài trợ bởi các khoản cho vay ngắn hạn ở nước ngoài. Bùng nổ này tạo
ra nền tảng không ổn định làm cho khủng hoảng tài chính xảy ra, thể hiện qua cuộc
khủng hoảng ở các nước Đông Nam Á giai đoạn 1997-1998.
Arestis và Demetriades (1999) cho rằng gia tăng dòng chảy vốn ngắn hạn có
vô số các hệ quả mất ổn định. Thứ nhất, đây chính là nguồn ảnh hưởng trực tiếp đối
với sự bất ổn kinh tế vĩ mô bằng việc tạo ra áp lực đối với tỷ giá ở các quốc gia này.

-10-

Thứ hai, dòng chảy vốn thổi phồng giá trị tài sản và do đó tạo ra những ảnh hưởng
giàu có tích cực, điều này đã đóng góp vào sự gia tăng của xuất khẩu và lạm phát
(trang 450).
Chin và Jomo (2001) và Arestis và Demetriades (1999) ủng hộ quan điểm rằng
tự do hóa tài chính làm gia tăng tính dễ đổ vỡ của tài chính ngay cả khi tự do hóa tài
chính được thực hiện sau khi ổn định kinh tế vĩ mô. Khủng hoảng ở các nước Đông
Nam Á, mà trước đó điều kiện kinh tế vĩ mô rất thuận lợi, vẫn cho thấy một điều
rằng ngay cả trong điều kiện tốt nhất, tự do hóa tài chính vẫn gây ra nguy hiểm cho
các chính sách. Tự do hóa tài chính làm suy yếu các tổ chức tài chính, ở cấp độ
quốc tế và quốc nội, làm gia tăng tính bất ổn của hệ thống là nguyên nhân gây ra
khủng hoảng.
Wyplosz (2002) sử dụng số liệu của 27 quốc gia đã và đang phát triển trong
giai đoạn 1977-1999 để kiểm định liệu tự do hóa tài chính có mạo hiểm không? Kết
quả nghiên cứu của ông cho thấy rằng tự do hóa tài chính gây ra sự mất ổn định ở
các quốc gia đang phát triển nhiều hơn ở các quốc gia đã phát triển. Theo sau tự do
hóa tài chính, các quốc gia đang phát triển có xu hướng đi vào chu kỳ tăng trưởng –
đổ vỡ (trang 3). Wyplosz xem tự do hóa tài chính là nguyên nhân gây ra mất ổn
định kinh tế vĩ mô vì nó làm gia tăng tính bất ổn của tỷ giá. Ông cho rằng nhiều
quốc gia ở Châu Âu và Châu Á đã tăng trưởng nhanh hơn qua nhiều thập niên trong
khi vẫn duy trì sự kiềm chế tài chính còn nặng về chỉ đạo. Điều này cho thấy rằng
không cấp bách trong việc thực hiện tự do hóa tài chính. Và khi thực hiện, thì cần
phải thực thi với sự cẩn trọng (trang 22).
Mishkin (1999) cho rằng tự do hóa tài chính thường gây ra đổ vỡ trong cho
vay, nguyên nhân là do sự gia tăng cơ hội cho vay của ngân hàng và do độ sâu tài
chính khiến cho nhiều nguồn ngân quỹ đổ vào hệ thống ngân hàng. Mặc dù tự do
hóa và độ sâu tài chính là những phát triển tích cực đối với nền kinh tế trong dài
hạn, thì trong ngắn hạn, khủng hoảng cho vay có thể bỏ xa thông tin nguồn lực có
sẵn trong hệ thống ngân hàng, điều này làm gia tăng sự đổ vỡ tài chính trong tương

-11-

lai. Khủng hoảng cho vay là đặc trưng của tự do hóa tài chính ở nhiều quốc gia và
thường tiếp theo sau đó là khủng hoảng ngân hàng (trang 1530-31).
Crotty và Lee (2002) cho rằng nhận thức sai lầm về tự do hóa tài chính gần
như là nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính ở các nước Đông Nam Á vào năm
1997. Hệ thống tài chính truyền thống trên cơ sở ngân hàng có sự điều tiết của nhà
nước, vốn cách ly khỏi thị trường tài chính quốc tế thông qua việc quản lý vốn chặt
chẽ, dường như các định chế tài chính hầu hết chịu trách nhiệm đối với “phép màu”
kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á. Tái cấu trúc tài chính, lao động và thị trường
sản phẩm đã thất bại trong việc tạo ra điều kiện tiên quyết đối với việc làm mới tăng
trưởng theo chủ nghĩa quân bình dài hạn. Do đó, tự do hóa tài chính nên loại bỏ vì
lợi ích của “mô hình tăng trưởng có sự chỉ đạo của nhà nước theo chủ nghĩa dân chủ
và chủ nghĩa hiện đại” (trang 328).
Bascom (1994) cho rằng lãi suất cao và không ổn định có liên quan đến cải cách
tài chính có thể gây ra những ảnh hưởng thanh khoản và khả năng thanh toán đối với
các công ty quen với việc tài trợ cho hoạt động và tạo vốn từ vay ngân hàng. Việc
ứng dụng các chính sách cải cách tài chính trở nên khó khăn khi hệ thống ngân hàng
trong tình trạng khủng hoảng. Việc tự do hóa lãi suất và loại bỏ những rào cản đối với
các ngân hàng mới, vốn được mong đợi ở những điều kiện bình thường, có thể không
phù hợp khi hệ thống ngân hàng đang ở tình trạng kiệt quệ tài chính. Kết quả của các
chính sách tự do hóa tài chính đó là người sáng lập các định chế tài chính mới có thể
bị thúc đẩy bởi sự cần thiết của việc tiếp cận đầu tư dễ dàng cho công việc làm ăn của
họ. Điều này có thể tạo ra sự tập trung tín dụng nhiều hơn trong hệ thống ngân hàng
và làm trầm trọng thêm khủng hoảng tài chính (trang 174).
McLeod (1998) cho rằng thế giới đã tiến vào kỷ nguyên mới của tình trạng
mỏng manh tài chính. Kỷ nguyên mới này đã được mở ra bởi vốn chung lớn của
nguồn vốn tài chính lưu động cao – bao gồm các quỹ được huy động bởi sự gia tăng
nhanh chóng của những hệ thống tài chính và ngân hàng ở các quốc gia đang phát
triển – và bởi xu hướng toàn cầu trong việc mở cửa cho dòng chảy vốn (trang 34849).

-12-

Jackson (1999) gọi việc chuyển đổi tài khoản vốn, tỷ giá cố định, gia tăng quá
mức của cho vay nội địa kèm theo sự phân bổ đầu tư thuần sai của khu vực tư nhân,
và sự thiếu vắng khả năng điều hành và giám sát để kiểm soát sự quá mức trong lĩnh
vực tài chính chính là những nhân tố chính của khủng hoảng tài chính ở Đông Nam
Á năm 1997. Việc cho vay nước ngoài quá mức, phần lớn ở khu vực tư nhân, là
nguyên nhân của khủng hoảng này. Năm năm trước khủng hoảng, việc cho vay của
ngân hàng và phi ngân hàng ở những quốc gia bị khủng hoảng tài chính gia tăng rất
nhanh. Cụ thể, ngân hàng ở từng quốc gia gia tăng tài sản ròng ở nước ngoài với tỷ
lệ lớn trong suốt bốn năm trước khi xảy ra khủng hoảng. Tại thời điểm khủng hoảng
xảy ra vào giữ tháng 07/1997, tổng số nợ nước ngoài đã đạt tỷ lệ lớn, chiếm 50%
GDP ở các quốc gia như Thái Lan, Indonesia và Philippine (trang 3).
Mặc dù các khía cạnh bên ngoài (tỷ giá cố định, lãi suất cao, và gia tăng quá
mức các khoản cho vay ở nước ngoài) thuộc những nhân tố quan trọng gây ra khủng
hoảng, thì khủng hoảng cũng sẽ không xảy ra nếu không có sự yếu kém ở bên trong
như: các tổ chức giám sát không phù hợp, ngân hàng hoạt động theo phương thức
truyền thống, và trên tất cả, các quyết định đầu tư sai của khu vực tư nhân ở các
quốc gia này (Jackson 1999, trang 5).
Wade (2001) cho rằng tự do hóa lĩnh vực tài chính và mở cửa tài khoản vốn là
nguy hiểm khi các ngân hàng có rất ít kinh nghiệm đối với thị trường tài chính quốc
tế, và khi các tổ chức phi ngân hàng cũng vay mượn ở nước ngoài. Điều này là nguy
hiểm gấp hai lần trong bối cảnh hệ thống tài chính dựa trên cơ sở ngân hàng và khu
vực doanh nghiệp có tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu cao. Và là nguy hiểm gấp ba lần
trong cơ chế neo tỷ giá. Ngoài ra, khi các ngân hàng và phi ngân hàng không cần
thiết bị giám sát, khủng hoảng tiền tệ - ngân hàng chỉ chờ đợi để xảy ra (trang 67).
Tự do hóa tài chính được xem là nguồn gốc của khủng hoảng tài chính. Tuy
nhiên, điều quan trọng là phải điều hành thị trường tài chính hiệu quả để thị trường
có thể chuyển vốn đến những cơ hội đầu tư hiệu quả nhất. Chuyển vốn đến những
cơ hội đầu tư hiệu quả nhất đặc biệt quan trọng đối với các thị trường mới nổi vì
những đầu tư này có thể có suất sinh lợi cao, do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì

-13-

vậy, những nguy cơ có liên quan đến tự do hóa tài chính không có nghĩa là các quốc
gia không nên theo đuổi chiến lược tự do hóa. Tuy nhiên, những biện pháp mạnh có
thể áp dụng để ngăn chặn hệ thống tài chính rơi vào khủng hoảng. Những biện pháp
này bao gồm các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định và điều hành kinh tế vĩ mô tốt,
điều hành các chính sách khôn ngoan và khung giám sát mạnh.

-14-

CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp nghiên cứu
Như đã trình bày ở trên mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là đánh giá mức độ
tự do hóa và tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính ở Việt Nam. Do
đó, phương pháp nghiên cứu sẽ bao gồm hai phần như sau:
3.1.1. Phương pháp đánh giá mức độ tự do hóa tài chính
Để đánh giá mức độ tự do hóa tài chính, tác giả sẽ xây dựng chỉ số FLI bằng
phương pháp thành phần chính (Principal Component Analysis) của Bandiera
Caprio et al. (2000) và Laeven (2003). Phương pháp này dựa trên tiêu chí chấm
điểm cho các chính sách tự do hóa tài chính1. Các chính sách tự do hóa được tập
hợp để tính toán chỉ số FLI bao gồm:
(1) Tự do hóa lãi suất – IRD.
(2) Gỡ bỏ rào cản đối với hoạt động ngân hàng – REB
(3) Giảm dự trữ bắt buộc – RRR
(4) Xóa bỏ kiểm soát tín dụng – ECC
(5) Ban hành các quy tắc thận trọng – IPR
(6) Cải cách thị trường chứng khoán – SMR
(7) Tư nhân hóa các ngân hàng do Nhà nước sở hữu – PSB
(8) Tự do hóa tài khoản vốn nước ngoài – EAL
Căn cứ kết quả tính toán chỉ số FLI, tác giả sẽ sử dụng đồ thị để đánh giá mức
độ tự do hóa tài chính ở Việt Nam.
3.1.2. Phương pháp kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn
tài chính
Trong đề tài này tác giả sẽ sử dụng mô hình VAR hoặc VECM (véc-tơ hiệu
chỉnh sai số) để kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính. Các
bước thực hiện như sau:

1

Xin xem chi tiết tại Phụ lục 1.

-15-

Bước 1: Kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test) để xác định tính dừng của
các chuỗi dữ liệu. Mục đích của kiểm định nghiệm đơn vị nhằm xác định chuỗi dữ
liệu có hoặc không có xu hướng; nếu các chuỗi dữ liệu trong cùng mô hình có cùng
một xu hướng thì có thể dẫn đến hồi quy giả mạo làm mất ý nghĩa và tính giải thích
của mô hình. Trong bài này, luận văn sẽ sử dụng kiểm định ADF để xác định tính
dừng của chuỗi dữ liệu. Nếu các chuỗi dữ liệu này là không dừng thì tác giả sẽ tiến
hành lấy sai phân cho tới khi nó có tính dừng trước khi đưa vào mô hình.
Bước 2: Nếu chuỗi dữ liệu không dừng thì sử dụng kiểm định đồng liên kết để
xác định khả năng tồn tại các mối quan hệ trong dài hạn nhằm hạn chế sự hồi quy
giả mạo giữa các biến. Điều này có nghĩa là nếu các chuỗi thời gian trong mô hình
không dừng nhưng rất có thể tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa chúng nếu
các chuỗi thời gian đó đồng liên kết – nghĩa là phần dư từ mô hình hồi quy của các
chuỗi thời gian là không dừng là một chuỗi dừng.
Bước 3: Kiểm định mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến bằng mô hình
kiểm định nhân quả Engle-Granger (1987).
Bước 4: Kiểm định mối quan hệ tác động giữa tự do hóa tài chính và bất ổn tài
chính thông qua mô hình VAR hoặc VECM (nếu các chuỗi dữ liệu có mối quan hệ
đồng tích hợp).
3.2. Mô hình nghiên cứu
3.2.1. Mô hình đánh giá mức độ tự do hóa tài chính
Phương trình tính toán chỉ số FLI tại một thời điểm:
FLIt = w1IRDt + w2REBt + w3RRRt + w4ECCt + w5IPRt + w6SMRt + w7PSBt +
w8EALt

(3.1)

Trong đó:
FLIt : chỉ số tự do hóa tài chính tại thời điểm t.
wi : là giá trị của vector riêng trong ma trận các chính sách.
3.2.2. Mô hình kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài
chính ở Việt Nam