Tải bản đầy đủ
5 Duy trì nguồn nhân lực

5 Duy trì nguồn nhân lực

Tải bản đầy đủ

16

Phúc lợi: Người lao động khi làm việc tại doanh nghiệp sẽ được chi trả
thêm do quy định của chính phủ hoặc các chính sách ngoài lương của công ty
giành cho người lao động.
Lương cơ bản
Thù lao
vật chất

Phụ cấp
Thưởng

Cơ cấu
hệ thống
trả lương

Phúc lợi
Cơ hội thăng tiến

Thù lao
phi vật
chất

Công việc thú vị
Điều kiện làm việc

Sơ đồ 1.3: Cơ cấu hệ thống trả công trong các doanh nghiệp.
Nguồn: Trần Kim Dung, Quản Trị Nguồn Nhân Lực, NXB Tổng Hợp TP.
HCM, 2011

17

TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Ở chương này, tác giả đã trình bài các khái niệm, vai trò, ý nghĩa,
những nội dung cơ bản của quản trị nguồn nhân lực. Các qui trình và các
bước thực hiện công tác quản trị nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Đây là
một chương tổng hợp lý thuyết cũng như các phương pháp thực hiện quản trị
nguồn nhân lực và được khai thác áp dụng trong quá trình nghiên cứu một số
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác hoạch định quản trị nguồn
nhân lực tại công ty đồ gỗ Ông Tỷ.
Tổng hợp lý thuyết về nội dung quản trị nguồn nhân lực có 3 chức năng
chính đó là thu hút nguồn nhân lực, đào tao và phát triển nguồn nhân lực, khi
nguồn nhân lực đã thực hiện được 2 chức năng trên, cần phải duy trì sự ổn
định nguồn nhân lực cho sự phát triển ở hiện tại và trong tương lai.

18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ QUẢN TRỊ
NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG TY TNHH ĐỒ GỖ ÔNG TỶ.
2.1 Phân tích hiện trạng môi trường.
2.1.1 Tổng quan về thị trường đồ gỗ.
Mặc dù các nền kinh tế lớn trên thế giới đều đang gặp phải những khó
khăn do cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng hoạt động xuất khẩu đồ gỗ,
đồ nội ngoại thất của các doanh nghiệp Việt Nam trong năm 2013 vẫn có sự
tăng trưởng, trong năm 2013 kim ngạch xuất khẩu gỗ và đồ nội ngoại thất
Việt Nam đạt 5,5 tỷ USD, và dự báo, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
gỗ chế biến cả năm 2014 tăng khoảng 10% -15%, với khoảng 6.2 tỷ USD.
Việt Nam đang xếp hạng xuất khẩu thứ 6 trên thế giới và thứ 2 trong khu vực
Đông Nam Á.
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm qua các năm.
Năm

Kim ngạch (triệu USD)

2007

2384,6

2008

2767,2

2009

2989,3

2010

3444,5

2011

3960,5

2012

4665,2

2013

5,5

(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2014. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm qua
các năm).
Từ năm 2007, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã vượt qua
mốc 2 tỷ USD. Cũng chỉ trong 3 năm, đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu

19

mặt hàng này đã vượt qua mốc 3 tỷ USD và đến năm 2013 thì kim ngạch xuất
khẩu đồ gỗ vượt qua 5 tỷ USD, cho thấy Việt Nam có tiềm năng lớn trong
ngành công nghiệp chế biên đồ gỗ. Việt Nam có lợi thế so với các nước trong
khu vực và trên thế giới về nguồn lao động với các đặc trưng là nguồn lao
động trẻ, cần cù, siêng năng, chịu khó ham học hỏi và dồi giàu bên cạnh đó
chi phí về nhân công cũng thấp hơn so với các nước trong khu vực. Với
những lợi thế do quốc gia Việt Nam mang lại nền kinh tế thị trường đã thúc
đẫy phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ ngày một cao hơn. Các công ty
có vốn nước ngoài, các văn phòng đại diện, khu vực tư nhân cũng tham gia
ngày một nhiều hơn. Do đó xu hướng Việt Nam đã chuyển từ xuất khẩu chủ
yếu là gỗ cây, gỗ ván sàn, gỗ xẻ hay nguyên liệu thô sang xuất khẩu sản phẩm
gỗ dân dụng có kỹ thuật, mỹ thuật được khách hàng nhiều nước ưa chuộng.
Về thị trường xuất khẩu đồ gỗ của các doanh nghiệp thuộc ngành công
nghiệp chế biến gỗ trên lãnh thổ Việt Nam, tính đến 11 tháng 2012, trong
bảng thống kê về doanh số các nước của các doanh nghiệp Việt Nam xuất
khẩu thì các thị trường mà công ty đang xuất khẩu nằm từ hạng từ hạng 14 trở
lên, xếp hạng theo doanh thu xuất khẩu đó là Oxtrâylia, Bỉ, Đức và thị trường
Đài Loan . Như vậy, những thị trường mà công ty nhắm đến có kim ngạch
nhập khẩu đồ gỗ tương đối lớn, do đó công ty có nhiều cơ hội và triển vọng
phát triển các thị trường này. Tuy nhiên, yêu cầu khách hàng ngày càng trở
nên khó tính đòi hỏi công ty phải không ngừng nâng cao năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, do sự phát triển của lĩnh vực công nghệ thông
tin đặc biệt là mạng lưới internet phát triển mạnh mẽ, đã mang lại những
thuận lợi cho nhà sản xuất trong việc tìm kiếm thị trường mới. Tuy nhiên, bên
cạnh đó nó cũng tạo ra những khó khăn nhất là khách hàng ngày càng nhại
cảm về giá cả, khách hàng không ngừng tìm cách giảm giá mua từ nhà sản
xuất buộc nhà sản xuất phải giảm giá thành sản phẩm để tăng sức cạnh tranh