Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ QUẢN TRỊNGUỒN NHÂN LỰC CÔNG TY TNHH ĐỒ GỖ ÔNG TỶ.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ QUẢN TRỊNGUỒN NHÂN LỰC CÔNG TY TNHH ĐỒ GỖ ÔNG TỶ.

Tải bản đầy đủ

19

mặt hàng này đã vượt qua mốc 3 tỷ USD và đến năm 2013 thì kim ngạch xuất
khẩu đồ gỗ vượt qua 5 tỷ USD, cho thấy Việt Nam có tiềm năng lớn trong
ngành công nghiệp chế biên đồ gỗ. Việt Nam có lợi thế so với các nước trong
khu vực và trên thế giới về nguồn lao động với các đặc trưng là nguồn lao
động trẻ, cần cù, siêng năng, chịu khó ham học hỏi và dồi giàu bên cạnh đó
chi phí về nhân công cũng thấp hơn so với các nước trong khu vực. Với
những lợi thế do quốc gia Việt Nam mang lại nền kinh tế thị trường đã thúc
đẫy phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ ngày một cao hơn. Các công ty
có vốn nước ngoài, các văn phòng đại diện, khu vực tư nhân cũng tham gia
ngày một nhiều hơn. Do đó xu hướng Việt Nam đã chuyển từ xuất khẩu chủ
yếu là gỗ cây, gỗ ván sàn, gỗ xẻ hay nguyên liệu thô sang xuất khẩu sản phẩm
gỗ dân dụng có kỹ thuật, mỹ thuật được khách hàng nhiều nước ưa chuộng.
Về thị trường xuất khẩu đồ gỗ của các doanh nghiệp thuộc ngành công
nghiệp chế biến gỗ trên lãnh thổ Việt Nam, tính đến 11 tháng 2012, trong
bảng thống kê về doanh số các nước của các doanh nghiệp Việt Nam xuất
khẩu thì các thị trường mà công ty đang xuất khẩu nằm từ hạng từ hạng 14 trở
lên, xếp hạng theo doanh thu xuất khẩu đó là Oxtrâylia, Bỉ, Đức và thị trường
Đài Loan . Như vậy, những thị trường mà công ty nhắm đến có kim ngạch
nhập khẩu đồ gỗ tương đối lớn, do đó công ty có nhiều cơ hội và triển vọng
phát triển các thị trường này. Tuy nhiên, yêu cầu khách hàng ngày càng trở
nên khó tính đòi hỏi công ty phải không ngừng nâng cao năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, do sự phát triển của lĩnh vực công nghệ thông
tin đặc biệt là mạng lưới internet phát triển mạnh mẽ, đã mang lại những
thuận lợi cho nhà sản xuất trong việc tìm kiếm thị trường mới. Tuy nhiên, bên
cạnh đó nó cũng tạo ra những khó khăn nhất là khách hàng ngày càng nhại
cảm về giá cả, khách hàng không ngừng tìm cách giảm giá mua từ nhà sản
xuất buộc nhà sản xuất phải giảm giá thành sản phẩm để tăng sức cạnh tranh

20

trên thị trường. Điều này dẫn đến doanh nghiệp phải nổ lực nhiều hơn nữa
trong việc nâng cao tay nghề lao động, chú trọng khâu thiết kế và luôn theo
dõi hành vi tiêu dùng, sở thích và diễn biến mẫu mã sản phẩm của thị trường,
thiết lập lộ trình về xây dựng và phát triển thiết kế, kỹ thuật, đa dạng hóa
khách hàng trong chiến lược phát triển của mình, tránh phụ thuộc vào một số
khách hàng cố định.
Bảng 2.2: Thống kê thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 11 tháng 2012.
ĐVT: USD
% +/KN so
% +/KNXK
cùng
KN so
KNXK
KNXK
STT
T11/2011 kỳ
11T/2012
11T/2011
năm
Quốc gia
2011
1
HoaKỳ
1.625.921.784 1.278.835.767
18,10
27,14
2
Trung Quốc 655.113.606
589.542.051
67,14
11,12
3
Nhật Bản
607.169.810
531.640.098
15,25
14,21
4
Hàn Quốc
203.331.611
169.463.486
13,85
19,99
5
Anh
166.730.129
143.017.162
-5,06
16,58
Oxtrâylia
108.439.637
93.451.532
-1,91
16,04
6
7
Đức
108.391.043
105.777.500
14,79
2,47
8
Canada
103.762.056
80.396.642
3,01
29,06
9
Pháp
74.036.730
64.203.323
-8,13
15,32
64.242.781
52.897.547
23,96
21,45
10 Đài Loan
11 HàLan
57.478.253
52.403.116
27,31
9,68
44.198.160
29.004.474
27,15
52,38
12 Ấn Độ
13 Hongkong
40.229.428
39.590.086
108,55
1,61
14 Bỉ
37.307.677
31.103.226
-18,75
19,95
(Nguồn: Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công
Thương (2012), Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm ước đạt 4,5
tỷ USD.)

21

Năm 2013, xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang thị trường châu Âu nói
chung và thị trường Hà Lan nói riêng gặp khó khăn hơn khi thị trường này
này siết chặt lại quy định về nguồn gốc xuất xứ gỗ. Doanh nghiệp xuất khẩu
gỗ sang thị trường Hà Lan sẽ gặp nhiều khó khăn hơn khi từ ngày 03-032013, quốc gia này sẽ cấm nhập khẩu và bán gỗ khai thác mà không có giấy
chứng nhận xuất xứ nguồn gốc gỗ hay nói khác hơn là cấm các nhập khẩu đồ
gỗ đã được khai thác bất hợp pháp. Lệnh này áp dụng cho tất cả các sản phẩm
đồ trang trí nội ngoại thất được làm từ gỗ như khung cửa sổ, bàn ghế để vườn
hoặc hàng rào ... Những quy định mới của Hà Lan về nhập khẩu gỗ nhằm
thực thi đạo luật tăng cường luật pháp, quản lý và thương mại lâm sản.
Trong năm 2013, các quốc gia ở thị trường châu Âu sẽ quyết liệt hơn
trong việc quản lý khai thác gỗ bất hợp pháp tàn phá tài nguyên rừng, ảnh
hưởng xấu tới môi trường và có tác động lên xã hội. Trong bối cảnh kinh tế
châu Âu còn khó khăn, với việc các quốc gia châu Âu tăng cường kiểm soát
nguồn gốc xuất xứ các sản phẩm gỗ sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến các doanh
nghiệp xuất khẩu sang thị trường này.
Trước khi Hà Lan ban hành quy định mới về nhập khẩu gỗ, gỗ khai
thác bất hợp pháp tại nước xuất xứ và các sản phẩm được làm từ gỗ khai thác
bất hợp pháp vẫn được phép nhập khẩu vào Hà Lan. Tuy nhiên, trong thời
gian tới khi qui định mới về nhập khẩu, khai thác gỗ có hiệu lực do Cơ quan
an toàn thực phẩm và hàng tiêu dùng của Hà Lan sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra
việc thực hiện luật mới này. Do đó, từ ngày 3-3-2013, các công ty phải chứng
minh nguồn gốc gỗ nhập khẩu. Việc xuất nhập khẩu đồ gỗ trở nên chặc chẽ
hơn, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nổ lực nhiều hơn nữa trong quá trình thu
mua và chế biến sản phẩm gỗ. Và giải quyết quá trình đó có liên quan trực
tiếp đến nguồn nhân lực của doanh nghiệp Nguồn nhân lưc của doanh nghiệp
phải đáp ứng những kiến thức và trình độ chuyên môn nhất định như triển

22

khai doanh nghiệp quản lý nguồn nguyên liệu đầu vào theo qui trình chuổi
hinh thành sản phẩm đảm bảo sản phẩm làm ra được sử dụng nguyên liệu có
nguồn góc rõ ràng trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, doanh
nghiệp cần đi trước thị trường trong việc thực hiện các nhu cầu mới vì mục
tiêu chung và phát triển bền vững của xã hội.
2.1.2 Lực lượng lao động.
2.1.2.1 Tổng quan về lực lượng lao động.
Theo số liệu trích từ phụ lục 03, thống kê đến ngày 01/01/2013, cả
nước có 68,82 triệu người từ độ tuổi 15 trở lên, trong số đó có 52,79 triệu
người được xem là lực lượng lao động. Nếu so cùng kỳ của năm 2012, độ tuổi
nằm trong lực lượng lao động tăng lên 205,000 người. Trong đó khu vực
thành thị tăng thêm 401,000 người tức tăng 2,6% và khu vực nông thôn giảm
-151,000 người tức giảm -0.4%. Lực lương lao động được tập trung ở vùng
nông thôn chiếm 80,3 %.
Điều đáng chú ý là có sự chênh lệch đáng kể của cơ cấu lao động về
giới tính, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 72,4%. Số lao động của
cả nước có 51,930,000 người có việc làm và 857,400 người thất nghiệp. Như
vậy so với quí 4 năm 2011, số người có việc làm tăng 246,000 người tức
0,5%, trong đó mức tăng của lực lượng lao động nam là 191,000 người nhiều
hơn mức tăng của nữ, mức tăng của lực lượng lao động nữ chỉ đạt 55,000
người. Hơn nữa, tăng trưởng việc làm tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị
và những người có hợp đồng lao động ở khu vực nông thôn.
Số người thiếu việc làm so với thời điểm 01/01/2012 tăng 69,300 người
trong số này chủ yếu là lực lượng lao động nam và tính đến thời điểm
01/01/2013, cả nước có 1,326,800 người thiếu việc làm. Có tới 83,3% người
thiếu việc làm sinh sống ở khu vực nông thôn.

23

Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức thấp (1,81%), số người thất
nghiệp chỉ tăng 4,300 người so với thời điểm năm 2011 và đến quý 4 năm
2012 là 857,000 người. Trong khi số thất nghiệp nữ giảm 32,000 người
(6,5%) thì số thất nghiệp nam lại tăng 37,000 người chiếm 10,3%.
Trong quý 4 năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên 15 đến 24 tuổi là
5,29% số người thất nghiệp từ 15 đến 24 tuổi chiếm 45,7% trong tổng số
người thất nghiệp, tỷ trọng này ở khu vực thành thị là 38,3 % thấp hơn khu
vực nông thôn 53,2 %. Trong khi đó, số người thiếu việc làm từ 15 đến 24
tuổi chỉ chiếm 24,0% trong tổng số người thiếu việc làm và không có sự khác
biệt nhiều giữa thành thị và nông thôn.
Quý 4 năm 2012, thu nhập bình quân tháng của người làm công ăn
lương tăng 17,3% so với thời điểm năm 2011, đạt mức trung bình 3,805,000
đồng/tháng. Mặc dù, tăng trưởng thu nhập của nữ cao hơn của nam so với
cùng kỳ năm 2011, tuy nhiên mức chênh lệch vẫn còn lớn 9,3%. Trong khi
đó, mức chênh lệch thu nhập bình quân tháng của người làm công ăn lương ở
khu vực thành thị và nông thôn là 27,1%.
2.1.2.2 Phân lực lượng lao động theo vùng.
Lực lượng lao động có sự tăng lên đáng kể ở khu vực thành thị, tuy
nhiên cho đến nay 69,5% lực lượng lao động nước ta tập trung ở 3 vùng đó là
vùng Đồng bằng sông Hồng, Bác Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Đồng
bằng sông Cửu Long. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực
nông thôn 80,3% cao hơn khu vực thành thị 69,6%.

24

Bảng 2.3: Biểu tỷ trọng lực lượng lao động quý 4 năm 2012 và tỷ lệ tham gia
lực lượng lao động theo quý của năm 2012.
Nơi cư trú/vùng

Tỷ trọng lực lượng lao động
Chung Nam

Nữ

Tỷ lệ tham gia LLLĐ

%

Quý

Quý

Quý

Quý

Nữ

1

2

3

4

Cả nước

100,0

100,0 100,0

48,5

76,4 76,9 77,2

76,7

Thành thị

30,5

30,6

30,5

48,5

70,2 70,3 70,2

69,6

Nông thôn

69,5

69,4

69,5

48,6

79,5 80,2 80,8

80,3

Trung du và miền
núi phía Bắc
Đồng bằng sông

13,8

13,4

14,2

50,1

83,7 84,2 85,3

84,3

15,4

14,8

16,1

50,6

74,5 75,5 76,9

76,7

Tây Nguyên

21,6

21,0

22,2

49,9

77,4 77,7 78,3

77,9

Đông Nam Bộ

6,0

6,1

6,0

48,1

82,9 83,4 83,0

82,6

Đồng bằng sông

8,6

8,7

8,5

48,0

77,7 78,4 78,1

77,6

Hà Nội

19,6

20,9

18,2

45,1

77,2 78,0 77,7

76,8

Thành phố Hồ

7,2

7,1

7,3

49,3

69,7 69,9 70,1

70,0

7,8

8,0

7,5

46,8

66,4 65,8 65,1

64,6

Hồng
Bắc Trung bộ và
DH miền Trung

Cửu Long

Chí Minh

(*) Đồng bằng sông Hồng không bao gồm Hà Nội và Đông Nam Bộ không
bao gồm thành phố Hồ Chí Minh
(Nguồn: Tổng cục thống kê (2013), Báo Cáo Điều Tra Lao Động Việc Làm
Quý 4 năm 2012).

25

2.2 Tổng quan về công ty TNHH đồ gỗ Ông Tỷ.
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty TNHH đồ gỗ Ông Tỷ.
Công ty TNHH sản xuất đồ gỗ ông Tỷ tên tiếng anh là FURNITURE
MRTY CO., LTD là công ty TNHH có 2 thành viên trở lên, có trụ sở chính tại
9D3, Khu phố 1, Phường Thạnh Xuân, Quận 12. Tp. Hồ Chí Minh. Được
thành lập vào ngày 26 tháng 03 năm 2010 với ngành nghề đăng ký kinh doanh
là, cưa, bào gỗ và bảo quản gỗ, sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép, sản xuất đồ
gỗ xây dựng, sản xuất bao bì bằng gỗ, sản xuất các sản phẩm từ tre, rơm, rạ và
vật liệu tết bện khác, sản xuất giường tủ, bàn ghế.
Công ty có một chi nhánh nhà xưởng 6000 m2 được đặt tại, ấp 7, xã
Phước Bình, Huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai. Hiện tại, công ty có khoảng
80 cán bộ công nhân viên đang làm việc cho nhà máy, trong số lực lượng lao
động này chủ yếu là lao động phổ thông.
Thị trường chủ yếu của công ty là thị trường châu Âu, công ty có thế
mạnh làm các mặt hàng giả cổ, các sản phẩm mang phong cách thân thiện với
môi trường, nguyên liệu dùng để chế biến sản phẩm là các loại gỗ được trồng
và khai thác. Trong thời gian tới, công ty dự định sẽ mở rộng sang thị trường
khác, trong các năm qua công ty đều tham gia hội chợ quốc tế do Hội Mỹ
nghệ và Chế biến gỗ TP.Hồ Chí Minh tổ chức nhằm tìm kiếm những cơ hội
kinh doanh mới, thông qua việc tham gia hội chợ công ty có thể quảng bá sản
phẩm và tìm kiếm khách hàng mới. Trong năm 2012, công ty đã được cấp
giấy chứng nhận CoC. Là một trong những chứng nhận đảm bảo trong quá
trình chế biến nguyên liệu phải được quản lý theo đúng qui trình để cho sản
phẩm được chế biến từ nguyên liệu rừng trồng bền vững, nhằm tăng tính cạnh
tranh cho sản phẩm trên thị trường.

26

HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN

GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH

P. NHÂN SỰ

TỔ LẮP RÁP

P. KẾ TOÁN

TỔ NGUỘI

GIÁM ĐỐC SX

P. KD-XNK

P. KỸ THUẬT

VP. XƯỞNG

TỔ SƠN

TỔ ĐÓNG GÓI

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức công ty đồ gỗ Ông Tỷ
(Nguồn: Phòng nhân sự công ty đồ gỗ Ông Tỷ)

27

2.2.2 Mô hình sản xuất hàng hóa của công ty.
Công ty có hình thức kinh doanh, mua bán thành phẩm và hoàn thiện
các công đoạn còn lại của quá trình hình thành sản phẩm và xuất cho khách
hàng.
Nhà cung cấp

Nhà cung cấp
bán thành
phẩm

Công ty TNHH
đồ gỗ Ông Tỷ
Lắp ráp

Làm nguội

Hoàn thiện

Đóng gói

Thành phẩm

Khách hàng
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ hoạt động kinh doanh.
(Nguồn: Phòng kinh doanh công ty đồ gỗ Ông Tỷ)

28

2.2.3 Thực trạng nguồn nhân lực.
Bảng 2.4: Thống kê nhân sự theo phòng ban chức năng.
Phòng ban

Người

Ban giám đốc

3

Phòng nhân sự

1

Phòng kế toán

2

Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu

1

Phòng kỹ thuật

1

Văn phòng sản xuất

2

Tổ trưởng sản xuất

4

Công nhân sản xuất

66

(Nguồn: Thống kê phòng nhân sự công ty đồ gỗ Ông Tỷ)
Nếu thống kê theo độ tuổi của nguồn nhân lực đang sử dụng thì công ty
có lao động tuổi từ 26 đến 40 tuổi chiếm đa số trong nguồn nhân lực, chiếm
58,8% trong tổng số lao động. So sánh với bảng thống kê của thị trường lao
động trong năm 2012, theo số liệu của tổng cục thống kê thì tỷ lệ lực lượng
lao động độ tuổi từ 20-39 chỉ chiếm 40,2% trong lực lượng lao động. Như
vậy, công ty hiện đang sở hữu được một nguồn nhân lực trẻ hơn so với trung
bình, điều này cũng phù hợp với nhu cầu của ngành nghề mà đang hoạt động
kinh doanh. Do đặc điểm sản xuất kinh doanh cần nguồn lao động trẻ và đảm
bảo sức khỏe mà cần một lực lượng trẻ.

29

Bảng 2.5: Kết quả khảo sát nguồn nhân lực theo độ tuổi.
Giá trị hợp

Phần trằm

Tần số

Phần trăm

lệ

cộng dồn

Tuổi từ 18-25

19

23.8

23.8

23.8

Tuổi từ 26-30

24

30.0

30.0

53.8

Tuổi từ 31-40

23

28.8

28.8

82.5

Tuổi từ 41-50

10

12.5

12.5

95.0

Trên 50

4

5.0

5.0

100.0

Tổng số

80

100.0

100.0

Theo điều tra và thống kê về trình độ học vấn, nguồn nhân lực đa số có
trình độ học vấn dưới lớp 9 chiếm 70% trong tổng số nguồn nhân lực và số
lao động tốt nghiệp phổ thông trung học là 25% trong tổng số của nguồn nhân
lực. Như vậy, công ty đang sở hữu 95% lao động không có trình độ chuyên
môn kỹ thuật. Qua số liệu cho thấy nguồn nhân lực mà công ty đang sử dụng
chiếm phần lớn là lao động phổ thông. Điều này cũng phù hợp với nhu cầu vì
phần lớn các công đoạn chế tạo sản phẩm được xem là lao động thủ công,
mức độ tự động hóa trong quá trình sản xuất chưa cao. Công ty sở hữu 5%
người có trình độ chuyên môn qua đào tạo, bậc cao đẳng và đại học. Trong
khi quí 4 năm 2012, theo số liệu của tổng cục thống kê thì số lao động có
trình độ cao đẳng và đại học chiếm khoảng 8% trong tổng số nguồn nhân lực.
Qua đây cũng cho thấy khả năng thu hút nguồn nhân có chất lương cho công
ty còn hạn chế, chưa phát huy được vai trò thu hút nguồn nhân sự. Do đó,
công ty cần xem xét lại trong việc cơ cấu nguồn nhân lực nhằm tăng năng
suất lao động, đưa ra những chính sách nhằm thu hút nguồn lực có chất lượng
cho công ty.